Chương 6 Công tác xã hội: Lý thuyết và thực hành

VNSW xin trân trọng giới thiệu Chương 6 với tiêu đề Khách hàng, trong Tập tài liệu Công tác xã hội: Lý thuyết và thực hành của tác giả Trần Đình Tuấn, ĐH San Jose, Hoa Kỳ:

Nội dung:[table-of-content]Đối tượng của nhân viên CTXH là khách hàng. Khách hàng có thể là cá nhân, gia đình, nhóm, hay cộng đồng. Mục tiêu của khách hàng là đạt được một thay đổi tốt đẹp hơn cho cuộc sống. Thay đổi có thể là thay đổi của bản thân khách hàng hoặc thay đổi của những người chung quanh, hoặc của môi trường, hoặc của tất cả các thành phần này. Thí dụ khách hàng là một người chồng bạo hành, nhân viên CTXH có thể không những chú trọng giúp khách hàng này học cách đối xử, giải quyết mâu thuẫn một cách ôn hoà trong gia đình, mà còn giúp các thành viên trong gia đình (vợ con) cách ứng xử thích hợp, và giúp toàn thể cộng đồng có thái độ xử lý nghiêm khắc, dứt khoát, không khoan nhượng với hành vi bạo hành.

Khách hàng đến với nhân viên CTXH trong những hoàn cảnh khác nhau: tự ý, do người quen giới thiệu, do bị bắt buộc; và có thể có những mục đích khác nhau:

–     Để bản thân được giúp đỡ.

–     Để người khác được giúp đỡ, thí dụ con cái hư hỏng hay vợ/chồng nghiện ngập.

–     Không muốn được giúp đỡ nhưng bị xã hội bắt buộc vì đã làm hại người khác, thí dụ chỉ biết đánh đập, không biết cách dạy dỗ con cái một cách ôn hoà và hữu hiệu, bị toà án bắt buộc đi học lớp nghệ thuật làm cha mẹ.

–     Muốn được giúp đỡ để tránh bị hậu quả tiêu cực, thí dụ đi cố vấn tâm lý hoặc tham gia chương trình cai rượu hoặc ma túy để được toà cho phép thăm con.

–     Mục đích không chính đáng, thí dụ luôn luôn được con cái nghe lời. Đây là một ước vọng sai trái của nhiều phụ huynh Á châu, chỉ muốn làm thế nào để biến con cái thành lũ con chiên ngoan ngoãn, không biết tự suy nghĩ, không chú trọng đào luyện tinh thần tự lập, không lệ thuộc vào những khuôn khổ có sẵn, và vì vậy khi ra đời không thể phát triển được đến mức cao nhất của khả năng.

Cho dù đến trong hoàn cảnh nào, với bất cứ mục đích nào, khách hàng luôn luôn là một cá nhân độc đáo, có cá tính, tâm lý, quá khứ, mối quan tâm, nỗi lo sợ, nhu cầu… riêng biệt mà nhân viên CTXH phải tìm hiểu. Mặc dù trong những môi trường CTXH khác nhau, có thể có những từ ngữ khác nhau để chỉ khách hàng (thí dụ ở bệnh viện khách hàng là bệnh nhân, ở trường học là học sinh hay sinh viên). Quan hệ làm việc giữa nhân viên CTXH và khách hàng không phải là quan hệ thứ bậc mà là quan hệ bình đẳng, hợp tác giữa hai chuyên viên. Nhân viên CTXH là chuyên viên CTXH, và khách hàng là chuyên viên về tất cả những gì liên quan đến cuộc đời của cá nhân họ. Qua quá trình làm việc với nhân viên CTXH, khách hàng sẽ có thêm những kiến thức và nghiệm mới và sẽ trở thành chuyên viên giỏi hơn nữa về cuộc đời của bản thân.

Do nhiều yếu tố, trong đó có tự ái, sợ mọi người biết vấn nạn của mình, không biết về các tài nguyên hữu ích trong cộng đồng, không tin người khác có khả năng giúp mình, những người có vấn nạn không chịu trở thành khách hàng một cách dễ dàng. Để trở thành khách hàng, người có vấn nạn phải trải qua quá trình sau:

–     Nhận ra mình có vấn nạn.

–     Nhận ra mình không thể dấu mãi vấn nạn không cho mọi người chung quanh biết.

–     Có khả năng nhìn nhận không thể tự mình giải quyết vấn nạn.

–     Chấp nhận vai trò khiêm nhu của người cần và muốn được giúp đỡ.

–     Chấp nhận thử những tài nguyên mới, giải pháp mới.

–     Chấp nhận đầu tư thì giờ, năng lực, tài nguyên cá nhân vào việc giải quyết vấn nạn.

1. Tính Cách Độc Đáo Của Khách Hàng

Mỗi khách hàng là một cá nhân với những cá tính, gốc gác văn hóa, tôn giáo, học vấn… riêng biệt. Đặt trong hoàn cảnh sống (gia đình, cộng đồng…) mỗi khách hàng còn trở thành độc đáo hơn, không người nào giống người nào, và vì vậy mọi chụp mũ, dán nhãn dựa trên thành kiến đều là những sai lầm mà nhân viên CTXH phải luôn luôn cảnh giác (thí dụ da đen lười biếng, da trắng kỳ thị, người kinh lọc lừa…)  Để hiểu khách hàng, nhân viên CTXH phải thu thập và phân tích những dữ kiện thuộc các lĩnh vực sức khỏe, học vấn, tuổi tác, nghề nghiệp, chức vụ, tôn giáo, tính dục, hoàn cảnh gia đình, kinh nghiệm đã trải qua từ nhỏ tới hiện tại, lối sống, hệ thống đạo đức và giá trị cá nhân, nhu cầu, ưu và khuyết điểm, vai trò (chồng, vợ, cha, mẹ, con…) trong gia đình và xã hội và mức độ thành công, thất bại, hài lòng hay bất mãn với vai trò của bản thân… gọi là lịch sử tâm lý xã hội/psycho-social history của khách hàng. Kỹ thuật “cây gia đình”/genogram cũng được dùng để tìm hiểu các mối liên hệ gia đình trong ít nhất ba thế hệ. Kế hoạch giúp đỡ xây dựng từ lịch sử tâm lý xã hội độc đáo và những ưu điểm của khách hàng sẽ dễ thành công hơn gấp nhiều lần dựa trên lý luận một chiều của nhân viên CTXH, hoặc dựa trên những khuyết điểm của khách hàng.

Tính cách đa dạng của xã hội loài người: trong xã hội phức tạp của loài người, có rất nhiều chủng tộc, cộng đồng, nhóm, tôn giáo, văn hóa, tiếng nói khác nhau. Đối với CTXH, hiểu biết về các nhóm thiểu số, bị kỳ thị hay đối xử bất công, là điều hết sức quan trọng. Thí dụ người tật nguyền. Đây là thiểu số bị đối xử bất bình đẳng trong mọi xã hội. Ở Mỹ, Luật Người Mỹ Tật Nguyền/American With Disabilities Act năm 1990 là một tiến bộ đáng kể trong việc xóa bỏ đối xử bất bình đẳng đối với người tàn tật. Nhờ luật này, tất cả các kiến trúc có công chúng lui tới (chung cư, tiệm ăn, rạp hát, cơ xưởng, công tư sở, trường học, nhà thương…) và tất cả các vỉa hè đều phải xây dựng để người sử dụng xe lăn có thể đi lại khắp nơi như người bình thường. Công ty xe buýt phải có một tỷ lệ xe có gắn bộ phận nâng, hạ xe lăn để người dùng xe lăn có thể đi xe buýt như người thường, trong xe phải có chỗ gần cửa dành riêng cho xe lăn với hệ thống đai móc an toàn riêng cho xe lăn. Các ngã tư đường nơi có người mù qua lại phải có gắn thiết bị âm thanh để người mù bấm khởi động, nghe được và biết khi nào có thể qua đường một cách an toàn. Các cơ quan hãng xưởng công cũng như tư đều bị cấm không được kỳ thị người khuyết tật trong chính sách thuê mướn nhân công. Các hãng điện thoại phải cung cấp điện thoại và dịch vụ viễn thông cho người điếc. Mặc dù vậy, tư tưởng kỳ thị có từ thượng cổ đối với người khuyết tật vẫn không thể xóa bỏ và trong thực tế nạn kỳ thị vẫn xảy ra. Đối với những nước phát triển sau như Việt Nam, tất nhiên người khuyết tật còn chịu nhiều đối xử bất bình đẳng mà nhân viên CTXH phải thấu triệt để giúp khách hàng một cách hiệu quả đồng thời vận động xóa bỏ dần dần những đối xử bất bình đẳng đối với người khuyết tật trong xã hội.

Phụ nữ, trẻ em, và người già cũng có thể là nạn nhân của đối xử bất bình đẳng.

Một thí dụ khác về cộng đồng thiểu số bị kỳ thị là cộng đồng đồng tính luyến ái. Người ta thường dựa vào những thành kiến đạo đức hay tôn giáo để biện minh cho hành vi kỳ thị này. Thí dụ: người đồng tính đã tự ý chọn lối sống đồng tính, hoặc đồng tính là tội lỗi, do quỷ Sa tăng gây ra… Mặc dù khoa học ngày nay đã phát hiện sự phức tạp của tính dục con người (không phải chỉ có đồng tính/homosexuality và dị tính/ heterosexuality, mà còn song tính/by-sexualility, hoán tính/transgender…) và sự quan trọng của các yếu tố sinh lý bẩm sinh, nạn kỳ thị người đồng tính vẫn còn rất nặng nề ở khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là ở Trung Đông và Âu Mỹ, nơi thỉnh thoảng vẫn còn xảy ra những vụ sát hại người đồng tính. Vụ thảm sát man rợ Matthew Sheppard ở Wyoming năm 1998 làm chấn động nước Mỹ là một bằng chúng điển hình cho tệ nạn này:

Đêm 7-10-1998, Matthew Sheppard, 21 tuổi, sinh viên khoa chính trị đại học bang Wyoming gặp Mc Kinney và Henderson ở một quán rượu phục vụ khách hàng đồng tính. Mc Kinney và Henderson giả vờ là người đồng tính và dụ chở Sheppard đi chơi. Khi lái xe đến một quãng đồng vắng, Mc Kinney và Henderson dùng súng đập nát đầu và mặt Sheppard rồi trói Sheppard lên hàng rào bên đường trước khi bỏ trốn. Mười tám giờ sau một người đi xe đạp ngang mới phát hiện Sheppard (mới đầu người này tưởng Sheppard là một người nộm bồ nhìn). Rạng sáng ngày 12-10-1998, không hề hồi tỉnh, Sheppard trút hơi thở cuối cùng ở bệnh viện Poudre Valley, Fort Collins, Colorado. Trong phiên xử Mc Kinney và Henderson, hai bạn gái của các hung thủ đã chứng nhận họ có kế hoạch “cướp một tên đồng tính”. Kết quả toà đã xử Henderson hai lần án chung thân và Mc Kinney hai lần án chung thân không được ân xá. Sau thảm kịch này đã có nỗ lực đưa thêm tính dục, phái tính, và tật nguyền vào luật liên bang chống tội ác do kỳ thị/hate crime tại Mỹ, tuy nhiên do chống đối mạnh mẽ của phe bảo thủ, nỗ lực này đã nhiều lần thất bại. Tổng thống thứ 44 của Mỹ Barack Obama đã tuyên bố, trong thời gian tranh cử, sẽ hỗ trợ điều luật bổ sung này. Đáng chú ý là trong số 29 quốc gia có luật chống tội ác do kỳ thị, đã có bảy nước bao gồm tội ác chống người đồng tính vì lý do đồng tính vào tội ác này, (Andorra, Bỉ, Canada, Anh và xứ Wales, Pháp, Iceland, và Tây ban nha).

Điều nghiêm trọng đối với nạn kỳ thị người đồng tính là họ thường bị kỳ thị ngay từ trong môi trường gia đình là môi trường gần gũi và quan trọng nhất trong đời sống. Trong các nhóm bị kỳ thị khác, sự hỗ trợ và thương yêu trong gia đình có thể tạo nên sức mạnh giúp nạn nhân chống đỡ được kỳ thị của xã hội. Thí dụ: nếu một đứa bé bị tật nguyền từ bẩm sinh, được gia đình thương yêu, bảo vệ, và dạy cho biết nó là một con người độc đáo, có những khả năng và hạn chế riêng như mọi người khác, nó không có lỗi gì trong tật nguyền của nó, và nếu cố gắng đúng mức, nó cũng có thể thành công, được kính trọng, thương yêu như bất cứ ai, đứa trẻ đó sẽ có tự tin và phần nào chống đỡ được kỳ thị của xã hội bên ngoài. Phần đông người đồng tính không có được sự hỗ trợ giúp đỡ của gia đình. Tệ hơn nữa, do ảnh hưởng áp đảo của văn hóa và tôn giáo, chính bản thân nhiều người đồng tính cũng kinh sợ và tìm hết cách che dấu dục vọng đồng tính tự nhiên của họ bằng cách cố gắng bắt chước lối sống của số đông: lấy chồng, lấy vợ, để tạo thành cảnh gia đình bình thường như những người khác.

Nhân viên CTXH phải có khả năng hiểu và tôn trọng khách hàng bất kể khách hàng là ai, thuộc thành phần nào, nhóm nào trong xã hội, và sẵn sàng tranh đấu để xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với bất cứ ai trong xã hội.

2. Động Lực, Khả Năng, và Cơ Hội

Động lực/motivation là điều khách hàng cần đạt được. Điều đó thúc đẩy khách hàng có hành động để thay đổi hiện trạng.

Khả năng bao gồm khả năng vật chất (sức khỏe, tuổi tác…); khả năng tạo và duy trì mối quan hệ hợp tác với những người giúp đỡ; và khả năng trí tuệ để có thể tham dự vào những công việc dẫn đến sự thay đổi.

Cơ hội có hai phần: cá nhân và môi trường. Cá nhân khách hàng sẵn sàng các có điều kiện vật chất và tinh thần để thay đổi hay chưa. Thí dụ một người nghiện cờ bạc dù đã tán gia bại sản, dù thân nhân đã hết sức khuyên can, cũng không có cơ hội khi người đó vẫn nghĩ vận xui sẽ qua và sẽ gỡ lại được số tiền đã nướng vào sòng bài. Cơ hội môi trường là sự hiện hữu của những tài nguyên vật chất và tinh thần trong gia đình và cộng đồng. Thí dụ người phụ nữ là nạn nhân của bạo hành trong gia đình, dù bạo hành có tàn nhẫn và kéo dài bao lâu đi nữa cũng không có cơ hội thoát ra được khi xã hội vẫn chưa có thái độ dứt khoát, khi các nhà lãnh đạo tinh thần vẫn không cho phép ly dị, khi trên truyền hình các cố vấn tâm lý vẫn cổ vũ “đạo đức văn hóa gia đình Việt Nam” “công dung ngôn hạnh” “kiên nhẫn để duy trì mái ấm gia đình cho con cái”…

Nhân viên CTXH có thể giữ một vai trò quan trọng trong cả ba lĩnh vực động lực, khả năng và cơ hội của khách hàng: làm cho khách hàng có được mục tiêu rõ ràng, nâng cao khả năng, và nắm bắt cơ hội. Kỹ năng quan trọng nhân viên CTXH áp dụng là kỹ năng tạo dựng và làm tăng thêm năng lực, tri thức, và niềm tự tin cho khách hàng/empower. Kỹ năng này bao gồm cách đối xử với khách hàng một cách thật thà, thẳng thắn, không giả dối, không cường điệu; luôn luôn tôn trọng khách hàng; giúp khách hàng nhìn nhận khuyết điểm nhưng hướng trọng tâm vào ưu điểm; cùng với khách hàng xây dựng kế hoạch hành động dựa trên ưu điểm.

3. Tiềm Năng Của Khách Hàng

Trong quá khứ, CTXH chú trọng vào vấn nạn và những khiếm khuyết của khách hàng, cách tiếp cận này đưa đến quan hệ bất bình đẳng giữa người làm và khách hàng, và không tạo được tinh thần cũng như cố gắng tự lập của khách hàng. Phương pháp CTXH mới chú trọng vào ưu điểm và tiềm năng của khách hàng, trong đó quan hệ giữa người làm và khách hàng là quan hệ hợp tác bình đẳng để cùng thăm dò những giải pháp mà khách hàng có quyền tùy ý chọn lựa. Tiềm năng ở đây bao gồm tiềm năng của cá nhân khách hàng (thí dụ, trí tuệ, sức khỏe, tiền bạc, thì giờ, quyết tâm…) và tiềm năng của môi trường (hỗ trợ về tinh thần và vật chất của gia đình, các tài nguyên có sẵn trong cộng đồng). [/table-of-content]

Đào tạo CTXH tại trường ĐH KHXH&NV Hà Nội

[tab:GIỚI THIỆU]

Những ai đã từng đọc cuốn hồi kí chấn động thế giới “Bị thiêu sống” của Souad hẳn vẫn in đậm trong tâm trí hình ảnh một cô gái Cisjordanie sống dưới đáy xã hội, từng bị gia đình thiêu sống vì trót hoang thai, từng bị bỏ mặc chờ chết tại bệnh viên. Sống không có nhân quyền, không có hi vọng. Nhưng số phận cô gái đã thay đổi nhờ một nhân viên công tác xã hội. Nhờ sự giúp đỡ của nhân viên công tác xã hội, cô gái bắt đầu một cuộc sống mới, sống đúng như một con người. Và chúng ta tự hỏi, nhân viên công tác xã hội là ai mà có thể thay đổi số phận một con người như vậy?

Các bạn, những con người luôn mong mỏi giúp đỡ những cộng đồng nghèo khổ, những người gặp khó khăn mà tự họ không thể vươn lên được, những đứa trẻ mồ côi… Các bạn luôn mong bản thân có thể góp sức thay đổi cuộc sống xung quanh theo hướng tốt đẹp hơn nhưng đang phân vân tìm cho mình một lối đi. Vậy tại sao các bạn không khám phá ngành công tác xã hội, trở thành những nhà công tác xã hội tương lai?

Tham gia ngành học này, các bạn sẽ được đào tạo bài bản thành những nhà hoạt động công tác xã hội chuyên nghiệp, có cơ hội việc làm mở rộng và cơ hội học hỏi ở các cấp bậc cao hơn cả trong và ngoài nước.

[tab:TUYỂN SINH]

Tuyển sinh: Khối C, D

Bậc đào tạo: Cử nhân

Đơn vị đào tạo: Bộ môn Công tác Xã hội

[tab:CƠ HỘI VIỆC LÀM]

Phát triển cộng đồng[spoiler]Sinh viên học ngành CTXH sau khi ra trường có thể làm trong lĩnh vực phát triển cộng đồng với tư cách là Cán bộ dự án phát triển cộng đồng, Trợ lí dự án phát triển cộng đồng và Cán bộ truyền thông trong dự án phát triển

Nhiệm vụ và công việc phải làm:

  • Lập kế hoạch hoạt động hàng quý;
  • Theo dõi tiến độ, giám sát chất lượng hoạt động;
  • Hỗ trợ đối tác phát triển các hoạt động;
  • Theo dõi tiến độ chi tiêu và cân đối ngân sách;
  • Dịch thuật các tài liệu gửi cơ quan đối tác;
  • Trao đổi thông tin với đối tác về tiến độ dự án;
  • Tổ chức đào tạo hoặc hỗ trợ đào tạo;
  • Tổ chức/ hỗ trợ tổ chức hoạt động truyền thông.

Yêu cầu về năng lực, tính cách, kĩ năng mềm:

  • Tiếng Anh giao tiếp thành thạo;
  • Sử dụng thành thạo tin học văn phòng;
  • Kĩ năng lập kế hoạch, theo dõi giám sát, thúc đẩy, làm việc theo nhóm, giao tiếp, nghiên cứu;
  • Sẵn sàng đi xa.

Các đơn vị tuyển dụng:

  • Cơ quan phát triển xã hội của Nhà nước (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ LĐTB&XH…);
  • Các Trung tâm nghiên cứu và đào tạo;
  • Các Tố chức Phi Chính phủ và Quốc tế.

Triển vọng phát triển nghề nghiệp:

  • Môi trường làm việc thân thiện và hỗ trợ;
  • Có cơ hội phát huy tối đa năng lực của bản thân;
  • Có chế độ đãi ngộ tốt;
  • Được đào tạo bổ sung kiến thức. [/spoiler]
Nhân viên công tác xã hội
[spoiler]Làm việc trong những cơ sở có liên quan tới việc trợ giúp những người yếu thế trong xã hội với tư cách là những người tham gia vào quá trình vận động chính sách, hoạch định chính sách có liên quan tới truyền thống và văn hoá, giáo dục cá nhân, cộng đồng thay đổi hành vi.

Nhiệm vụ và công việc phải làm:

  • Tiếp nhận những đối tượng yếu thế (người khuyết tật, phụ nữ bị bạo hành…);
  • Tìm hiểu vấn đề của thân chu;û
  • Hỗ trợ thân chủ giải quyết vấn đề, liên kết các nguồn lực cho thân chủ;
  • Khai thác tiềm năng, nâng cao năng lực cho thân chủ (thông qua hoạt động nhóm, tham vấn…);
  • Đánh giá, theo dõi, chuẩn đoán phát hiện ở cộng đồng, tìm kiếm thông tin về những vấn đề mình quan tâm, chuyển tải những thông tin mình đã biết đến cộng đồng, sau đó huy động sự tham gia của cộng đồng về vấn đề này, dần dần vận động xây dựng chính sách.

Các yêu cầu về năng lực, tính cách, kĩ năng mềm: Khả năng tư duy, phán đoán; Nhạy cảm và Kiên trì; Khả năng lắng nghe và giao tiếp tốt; Khả năng giữ bí mật.

Các đơn vị tuyển dụng:

  • Các trung tâm hỗ trợ đối tượng yếu thế của nhà nước (trung tâm bảo trợ xã hội, các mái ấm, nhà mở, nhà tình thương…)
  • Các tổ chức phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực trẻ em, người khuyết tật, sức khoẻ…
  • Các cơ quan của Nhà nước: Trường học, Bệnh viện, Cục bảo vệ trẻ em…

Triển vọng phát triển nghề nghiệp: Hiện nay nhu cầu tuyển dụng nhân viên công tác xã hội trong lĩnh vực công tác xã hội cá nhân, nhóm là rất lớn. Tại các tổ chức phi chính phủ Việt Nam, quốc tế như: Rồng Xanh, CEPHAD… đã có những sinh viên công tác xã hội đã tốt nghiệp và làm việc trong công tác chăm sóc bảo vệ trẻ em nhưng số lượng này vẫn chưa đủ đáp ứng nhu cầu thực tế. [/spoiler]

Nhà quản trị công tác xã hội

[spoiler]Nhiệm vụ và công việc phải làm:

  • Quản lí các mạng lưới công tác xã hội;
  • Tham mưu xây dựng chính sách cho các đối tượng yếu thế trong xã hội;
  • Giám sát quá trình thực thi chính sách và đưa ra khuyến nghị sửa đổi, bổ sung.

Các yêu cầu về năng lực, tính cách, kĩ năng mềm:

  • Kĩ năng phân tích;
  • Kĩ năng viết;
  • Khả năng lãnh đạo;
  • Quyết đoán.

Các đơn vị tuyển dụng:

  • Các Ban, Ngành liên quan tới phát triển chính sách xã hội (Bộ Lao động, Thương binh & Xã hội…);
  • Các trung tâm công tác xã hội của Nhà nước;
  • Các tổ chức Phi Chính phủ.

Triển vọng phát triển nghề nghiệp: Trong các Ban, Ngành soạn thảo, ban hành chính sách vẫn còn thiếu sự tham gia của nhân viên công tác xã hội. Hiện nay đây là một lĩnh vực mới với nhân viên công tác xã hội và tiềm năng phát triển ngày càng lớn. [/spoiler]

Cán bộ đào tạo, nghiên cứu trong các dự án phát triển

[spoiler]Nhiệm vụ và công việc phải làm:

  • Tìm hiểu nhu cầu của cộng đồng;
  • Lên chương trình, nội dung kiến thức (phù hợp với mục đích, đối tượng của từng dự án, nhu cầu người học);
  • Tổ chức đào tạo hoặc hỗ trợ đào tạo;
  • Tham gia thực hiện đào tạo dự án;
  • Lượng giá hoạt động đào tạo dự án.

Các yêu cầu về năng lực, tính cách, kĩ năng mềm:

  • Tiếng Anh giao tiếp thành thạo;
  • Sử dụng thành thạo tin học văn phòng;
  • Kĩ năng lập kế hoạch, theo dõi giám sát, thúc đẩy, làm việc theo nhóm, giao tiếp, nghiên cứu;
  • Sẵn sàng đi xa.

Các đơn vị tuyển dụng:

  • Cơ quan phát triển xã hội của Nhà nước (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ LĐTB&XH…);
  • Các Trung tâm nghiên cứu và đào tạo;
  • Các Tố chức Phi Chính phủ và Quốc tế.

Triển vọng phát triển nghề nghiệp: Môi trường làm việc thân thiện và hỗ trợ; Có cơ hội phát huy tối đa năng lực của bản thân; Có chế độ đãi ngộ tốt; Được đào tạo bổ sung kiến thức. [/spoiler]

Cơ hội làm việc khác: [spoiler]

  • Giảng viên giảng dạy Công tác xã hội trong các cơ sở đào tạo tại các Trường Cao Đẳng, Đại học…
  • Làm nhà tư vấn/ tham vấn trong các công ti, Trung tâm làm dịch vụ tư vấn/ tham vấn tâm lí.
  • Cán bộ trong các lĩnh vực xã hội như:
    + Cán bộ nghiên cứu, cán bộ dự án phát triển cộng đồng tại các Viện, các Trung tâm nghiên cứu, ứng dụng Công tác xã hội, các Tổ chức Phi Chính phủ trong và ngoài nước…
    + Cán bộ hỗ trợ mặt xã hội như tư vấn, hỗ trợ điều trị trong các bệnh viện, trường học. [/spoiler]

[tab:END]

Nguồn ảnh và bài viết: http://www.ussh.edu.vn

Giới thiệu chiến lược đến năm 2015 của tổ chức hỗ trợ người cao tuổi quốc tế

VNSW xin trân trọng giới thiệu bài viết “Giới thiệu chiến lược đến năm 2015 của tổ chức hỗ trợ người cao tuổi quốc tế (HAI)” của TS Nguyễn Thị Lan, bài viết này được đăng trên trang web Bộ LĐTBXH.

Năm 2010, Việt Nam sẽ hoàn thành việc thực hiện Chương trình hành động quốc gia về Người cao tuổi (NCT) Việt Nam giai đoạn 2005- 2010 và xây dựng chương trình cho giai đoạn tiếp theo 2011-2015. Nhân ngày Quốc tế người cao tuổi (1.10) năm nay, Văn phòng Uỷ ban Quốc gia về Người cao tuổi Việt Nam giới thiệu Chiến lược đến năm 2015 với chủ đề “Khi người cao tuổi nói, chúng ta lắng nghe” của Tổ chức quốc tế về người cao tuổi (HAI )- một tổ chức đã có nhiều chương trình hỗ trợ NCT các nước nghèo trên thế giới, trong đó có Việt Nam để tham khảo.

Người cao tuổi và thế giới

Theo thống kê, thế giới hiện có 497 triệu, chiếm gần 2/3 NCT sống ở các nước nghèo và khoảng hơn 180 triệu người sống trong cảnh nghèo khó. Theo dự báo, đến năm 2045, số người trên 60 tuổi trên thế giới sẽ nhiều hơn số trẻ em dưới 14 tuổi. Ở các nước trung bình và kém phát triển, hơn 50% người trên 60 tuổi vẫn làm việc, chủ yếu ở các thành phần phi chính thức. Thế giới cũng đang chứng kiến ¾ người cao tuổi sống trong các khu vực bị ảnh hưởng bởi thiên tai và biến đổi khí hậu; 2/3 số NCT bị bệnh kinh niên sống ở các nước tủng binh và kém phát triển.

Ở nhiều nước Châu Phi, NCT là gnười chắm sóc chủ yếu đối với 40% người bị HIV/AIDS hoặc trẻ em bị mồ côi do AIDS. Trong những thế kỷ qua, sự gia tăng người cao tuổi trong tổng số dân số toàn cầu là vấn đề đáng quan tâm. Trong thế kỷ này, nó đặt ra những thách thức lớn nhưng cũng không ít cơ hội. Hàng triệu người cao tuổi ở các nước phát triển trung bình và thu nhập thấp đang đối mặt với những vấn đề về nghèo đói và bệnh tật.

Tuy vậy, các chính sách phát triển quốc tế và các hoạt động thường không bao gồm người cao tuổi. Chương trình phát triển Thiên niên kỷ không trực tiếp liên quan đến tuổi già. Trong khi cam kết giảm tỷ lệ người cực nghèo xuống 50% vào năm 2015, người cao tuổi hầu như dùng lại ở nửa còn lại của người nghèo. Khi nói về chăm sóc sức khoẻ, người cao tuổi vừa là người tự chăm sóc mình, lại vừa là những người chăm sóc người khác. Sự gia tăng “người cao tuổi già” là thách thức lớn, đặc biệt đối với gia đình và cộng đồng. Đồng thời, nhiều người cao tuổi phải chăm sóc cháu do bố mẹ các em ra thành thị làm việc kiếm tiền hoăc bệnh tật-chết do HIV/AIDS hay các bệnh liên quan.

Ở các nước có thu nhập trung bình và thấp, hàng triệu người cao tuổi sống dưới mức nghèo đói, phần lớn họ không có nghỉ hưu. Họ không có cả lương hưu tối thiểu, phải làm việc để đảm bảo cuọc sống và thường làm những công việc không an toàn, được trả công thấp đến khi họ không thể làm việc được nữa hoặc bệnh tật, ốm đau. Những người không làm việc được phải sống trong cảnh bần cùng. Khủng hoảng kinh tế thế giới, dẫn đến sự tăng giá cả sinh hoạt, thức ăn, giao thông và nhà ở…làm tồi tệ thêm cuộc sống của họ. Các hộ gia đình nghèo ảnh hưởng nhiều nhất đến người già và trẻ em trong gia đình. Những người cao tuổi trong gia đình phải chăm sóc trẻ em mà cha mẹ các em di cư ra thành thị kiếm tiền. Những người cao tuổi ở các nước có thu nhập trung bình và thấp không có cơ hội cải thiện cuộc sống. Vai trò của họ đối với gia đình và cộng đồng thường không được biết đến và đánh giá đúng mức. Đặc biệt, đối với những người sống ở các địa phương nghèo hoặc bị tác động xấu của môi trường thường có nguy cơ cao chịu ảnh hưởng của các cuộc xung đột hoặc các nguyên nhân khác về chính trị, môi trường không ổn định tạo ra sự thiếu an toàn cho họ.

Tuy vậy, người cao tuổi toàn cầu vẫn đang thể hiện các cơ hội về tiềm năng, kinh nghiệm, khả năng sâu rộng của họ. Thu nhập và sức khoẻ ở tuổi già là mục tiêu, kể cả đối với các nước nghèo, để đảm bảo cho sự tham gia của người cao tuổi đối với xã hội. Đây cũng là một trong những lý do mà HAI đặt chủ đề cho chiến lược hành động đến năm 2015 là: “Khi người cao tuổi nói, chúng ta lắng nghe”. Đối phó với khủng hoảng kinh tế toàn cầu, sự gia tăng tỷ lệ người cao tuổi, đại dịch HIV/AIDS, sự kỳ thị và bạo lực đối với người cao tuổi, Tổ chức Người cao tuổi quốc tế sẽ đáp ứng với những nhu cầu và khả năng của người cao tuổi cũng như nâng cao nhận thức của các cơ quan, tổ chức cũng như của toàn xã hội về những vấn đề sau:

1. Nâng cao năng lực người cao tuổi trong đảm bảo an sinh thu nhập.

2. Nâng cao khả năng người cao tuổi và những người trợ giúp họ trong chăm sóc sức khoẻ, các dịch vụ hỗ trợ.

3. Nâng cao khả năng để người cao tuổi tham gia tích cực vào giải quyết các trường hợp khẩn cấp và hồi phục.

4. Tạo ra các phong trào mang tính quốc tế và quốc gia trợ giúp NCT vượt qua sự kỳ thị và bảo đảm các quyền của họ.

5. Hỗ trợ mạng lưới toàn cầu của các tổ chức để các tổ chức của NCT và làm việc cho NCT có hiệu quả.

Để làm được điều này, trong thời gian tới, Tổ chức NCT quốc tế dự kiến sẽ tăng 2/3 các dịch vụ trực tiếp hỗ trợ NCT và gia đình họ. Đồng thời tăng cường các hoạt động thúc đẩy cải thiện cách nhìn nhận về chế độ lương hưu, dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, tăng thêm sự đáp ứng phù hợp trong những trường hợp khẩn cấp để đem lại lợi ích cho nhiều triệu người cao tuổi và tăng cường mở rộng chính sách, công tác vận động cùng với các hoạt động hỗ trợ trong các trường hợp khẩn cấp. HAI cũng đã đặt ra 15 chỉ tiêu cụ thể trong những năm tới là:

– Trợ giúp để 20% NCT ở 30 nước có thu nhập trung bình và thấp được nhận trợ cấp của Chính phủ;

– Các họ gia đình có NCT ở 25 nước cải thiện được thu nhập và an ninh lương thực;

– NCT ở 15 nước có khả năng có khả năng phòng ngừa và quản lý bệnh mãn tính; – NCT ở 20 nước có khả năng đảm bảo tiếp cận miễn phí các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ thân thiện;

– Các dịch vụ phù hợp phòng chống HIV/AIDS đwocj cấp cho NCT ở 12 nước;

– NCT ở 25 nước được nhận các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu phù hợp;

– NCT được nhận các dịch vụ trực tiếp của HAI và các tổ chức đối tác để phòng ngừa, đối phó và phục hồi với các tình trạng khẩn cấp;

– Sẽ có 10 tổ chức nhân đạo được công nhận và đáp ứng nhu cầu trong phòng ngừa, đối phó và phục hồi với các tình trạng khẩn cấp của NCT;

– NCT tổ chức các hoạt động để thực hiện quyền nhận dịch vụ, được trợ giúp ở 25 nước;

– NCT ở 15 nước được trợ giúp để ngăn chặn và giảm thiểu sự kỳ thị liên quan đến tuổi già;

– Các tổ chức chủ chốt của HAI sẽ phát triển liên minh toàn cầu gồm hàng triệu các tổ chức, cá nhân trợ giúp NCT;

– 120 tổ chức, công nhận giá trị và tiêu chuẩn của HAI, hình thành mạng lưới toàn cầu chia sẻ và thừa nhận chương trình, các sáng kiến mang tính quốc gia, khu vực và quốc tế;

– Hoạt động ở 50 nước thể hiện sự thay đổi về luật pháp, chính sách đáp ứng quyền của NCT;

– Nhận thức của Anh và 5 nước OECD về Chương trình quốc tế về NCT sẽ được truyền thông qua các cuọc vận động và chương trình đào tạo;

-Tập huấn, chia xẻ thông tin và cơ hội hợp tác là những dịch vụ cơ bản của mạng lưới hỗ trợ NCT quốc tế do Ban thư ký quốc tế cung cấp.

Phương pháp tiếp cận và cách làm việc nhằm thực hiện các mục tiêu đề ra

Một là, tập trng vào lĩnh vực bình đẳng xã hội và nâng cao vị thế của NCT, theo đó, NCT được vào vị trí trung tâm thông qua việc thu hút họ vào quá trình thiết kế, thực hiện và đánh giá chương trình;Bảo đảm “Phát huy tiềm năng” là sứ mệnh chính của tổ chức bằng cách dựa trên những năng lực và sự đóng góp của NCT; Tìm ra những đối tượng thiệt thòi, yếu thế, khuyết tật, có nguy cơ để giúp họ thể hiện những điều của họ;Thừa nhận sự khác biệt của NCT về tuổi, giới tính…và chú ý đến những đặc điểm này trong quá trình làm việc.

Hai là, tăng cường sự phối hợp thông qua việc tìm kiếm sự phối hợp với các tổ chức trong và ngoài lĩnh vực NCT để đảm bảo rằng các vấn đè được thấu hiểu và đặt ưu tiên. Đặc biệt quan tâm đến sự phối hợp, làm việc với các tổ chức trợ giúp trẻ em và gia đình để nhấn mạnh tác động đến NCT cũng tác động đến trẻ em và các thành viên khác trong gia đình nhằm xác định các giải pháp đem lại lợi ích cho các thế hệ.

Ba là, về cung cấp dịch vụ: Cung cấp các dịch vụ cơ bản qua các tổ chức phi chính phủ và cá nhân vì chính phủ không thể tiếp cận tới từng cá nhân; Phản ứng với các trường hợp khẩn cấp kịp thời và hiệu quả; Làm việc để mọi người hiểu, bảo vệ và cảnh giác với môi trường tự nhiên, đảm bảo sự bền vững của môi trường; Hỗ trợ NCT xây dựng khả năng chống chọi với khủng hoảng chính trị, với tác động của tự nhiên.

Bốn là, phát triển các mô hình thử nghiệm trong cải thiện cuộc sống NCT qua các hoạt động giám sát và đánh giá tác động các chương trình can thiệp; Sử dụng các chứng cứ để tác động các cơ quan liên ngành của Chính phủ, các tổ chức giải quyết các vấn đề liên quan đến NCT. Ngoài ra, HAI cũng sẽ tăng cường khả năng cung cấp, vận động các nguồn tài chính để đầu tư vào các hoạt động như nâng cao năng lực thành viên, đào tạo kỹ năng cán bộ quản lý các chương trình dành cho NCT; phát triển mạng lưới, hệ thống và đảm bảo tính công khai, minh bạch trong các hoạt động vận động, tài trợ, cung cấp tài chính, dịch vụ trợ giúp NCT v.v..:

Cuối cùng, có thể nói, Chiến lược này của HAI đã thể hiện quá trình tiếp tục cải thiện các Chương trình, các hoạt động của tổ chức trong điều kiện thế giới biến đổi nhanh chóng./.

TS Nguyễn Thị Lan, Chánh Văn phòng UBQG về Người cao tuổi Việt Nam

Phát triển cộng đồng: Phương pháp quan trọng của công tác xã hội trong xóa đói giảm nghèo

Nguồn ảnh: scotland.gov.uk

VNSW trân trọng giới thiệu bài viết “Phát triển cộng đồng: Phương pháp quan trọng của công tác xã hội trong xóa đói giảm nghèo” của PGS.TS Phan Huy Đường, ĐHQG Hà Nội.
Phát triển cộng đồng là một phương pháp của công tác xã hội được xây dựng trên những nguyên lý, nguyên tắc và giả định của nhiều ngành khoa học xã hội khác như: Tâm lý xã hội, xã hội học, chính trị học, nhân chủng học…, được áp dụng ở nhiều nước và đã phát huy vai trò trong việc giải quyết các vấn đề của các nhóm cộng đồng nghèo, các nhóm yếu thế trong thời gian qua. Đó là phương pháp giải quyết một số vấn đề khó khăn, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng, hướng tới sự phát triển không ngừng về đời sống vật chất và tinh thần của người dân thông qua việc nâng cao năng lực, tăng cường sự tham gia, đoàn kết, phối hợp chặt chẽ giữa người dân với nhau, giữa người dân với các tổ chức và giữa các tổ chức với nhau trong phạm vi một cộng đồng.

Thế nào là phát triển cộng đồng?
Trong những năm qua, cùng với những thành tựu to lớn về phát triển kinh tế-xã hội, nước ta cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức, trong đó vấn đề nghèo đói luôn được quan tâm hàng đầu. Tăng trưởng kinh tế một mặt đã góp phần cải thiện đáng kể đời sống nhân dân, dẫn tới hình thành những cộng đồng dân cư có thu nhập cao, đời sống được bảo đảm bởi hệ thống cơ sở vật chất và hạ tầng, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, y tế, giáo dục tương đối khá. Người dân tại các cộng đồng này có nhiều cơ hội phát triển, đựoc phát huy khả năng và được bảo vệ thông qua mạng lưới an sinh xã hội an toàn, bền vững. Tuy nhiên, sự phân hóa ngay trong quá trình phát triển cũng làm xuất hiện những cộng đồng dân cư nghèo, các nhóm yếu thế tại vùng sâu, vùng xa, nơi có điều kiện tự nhiên không thuận lợi cùng một bộ phận dân cư ngay trong lòng các đô thị phát triển. Cộng đồng nghèo thường gắn liền với các đặc điểm: Cơ sở hạ tầng, dịch vụ xã hội thiếu hoặc yếu kém; kinh tế không phát triển; nhu cầu cơ bản của người dân chưa được đáp ứng đầy đủ; thiếu cơ hội tiếp cận khoa học – kỹ thuật, tâm lý thiếu tự tin hoặc trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước và không được tham gia vào các quá trình ra quyết định.
Chính vì vậy, việc giúp đỡ, phát triển các cộng đồng nghèo là hết sức cần thiết và việc lựa chọn các phương pháp phù hợp để phát triển cộng đồng có ý nghĩa khoa học và thực tiễn to lớn.
Phát triển cộng đồng là một phương pháp của công tác xã hội được xây dựng trên những nguyên lý, nguyên tắc và giả định của nhiều ngành khoa học xã hội khác như: Tâm lý xã hội, xã hội học, chính trị học, nhân chủng học…, được áp dụng ở nhiều nước và đã phát huy vai trò trong việc giải quyết các vấn đề của các nhóm cộng đồng nghèo, các nhóm yếu thế trong thời gian qua. Đó là phương pháp giải quyết một số vấn đề khó khăn, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng, hướng tới sự phát triển không ngừng về đời sống vật chất và tinh thần của người dân thông qua việc nâng cao năng lực, tăng cường sự tham gia, đoàn kết, phối hợp chặt chẽ giữa người dân với nhau, giữa người dân với các tổ chức và giữa các tổ chức với nhau trong phạm vi một cộng đồng.
Những nguyên tắc cơ bản của phát triển cộng đồng là sự tham gia và tự quyết của nhân dân; tin vào khả năng của người dân và phát huy nội lực của chính cộng đồng. Phương pháp này luôn đánh giá cao vai trò của người dân và coi đây là nhân tố quyết định tới sự thành công trong việc phát triển cộng đồng nghèo.
Các phương thức của phát triển cộng đồng
Một là, nhận diện cộng đồng bằng việc đánh giá đúng mức độ nghèo.
Thông thường, người ta thường sử dụng các kết quả các cuộc điều tra xã hội học (ví dụ điều tra mức sống dân cư, điều tra tỷ lệ hộ nghèo) để thu thập và đánh giá về mức độ nghèo đói trên địa bàn. Qua đó, chính quyền các địa phương có thể lập kế hoạch và xây dựng định hướng giảm nghèo cụ thể và phù hợp. Tuy nhiên, do các cuộc điều tra, khảo sát này không được tiến hành thường xuyên nên việc cập nhật thông tin về tỷ lệ nghèo trên địa bàn đôi lúc còn chậm. Do vậy, phương pháp đánh giá nghèo đói có sự tham gia của chính người dân là rất thiết thực. Để đánh giá đúng tình trạng nghèo đói của cộng đồng, thông thường người ta có thể đánh giá nhanh tình hình nghèo thông qua các chỉ số như tỷ lệ nghèo, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng, tỷ lệ học sinh bỏ học, tỷ suất sinh tự nhiên….; so sánh tình hình của các địa bàn tương tự, tìm hiểu, phân tích nguyên nhân của tình trạng nghèo ở mỗi địa bàn. Từ đó rút ra kết luận và đưa ra các đề xuất cho các chương trình và chính sách giảm nghèo liên quan cũng như lập kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội của cộng đồng.
Hai là, lập kế hoạch phát triển cộng đồng có sự tham gia của người dân. Đây là một trong những công cụ được một số dự án, như Dự án Hỗ trợ giảm nghèo do GTZ tài trợ, áp dụng ở các huyện nghèo và bước đầu cho kết quả tích cực. Theo đó, lập kế hoạch phát triển cộng đồng có sự tham gia nhằm giúp người dân tiếp cận các tiềm năng, các khó khăn, cản trở và tìm kiếm các giải pháp phù hợp thông qua phương pháp có sự tham gia cũng như dựa vào kiến thức của người dân. Từ đó xây dựng các kế hoạch phát triển hàng năm và kế hoạch trung hạn ở cấp xã phù hợp với định hướng phát triển kinh tế xã hội của địa phương; thực hiện và giám sát các hoạt động với sự hỗ trợ tích cực và hiệu quả của các cơ quan nhà nước và các tổ chức đoàn thể, các cá nhân dựa trên phương pháp giám sát và đánh giá có sự tham gia của người dân một cách trực tiếp hoặc thông qua người đại diện.
Nguyên tắc cơ bản phương pháp này là: Tất cả các hộ gia đình đều phải tham gia vào các cuộc họp thôn/bản/ấp do trưởng thôn tổ chức, trước khi cử đại diện tham dự hội thảo lập kế hoạch ở cấp xã. Các cuộc họp thôn và các cuộc họp lập kế hoạch cấp xã (có sự tham dự của đại diện các thôn) là thành phần đưa ra quyết định cao nhất đối với việc lập kế hoạch phát triển cấp xã. Phải có tối thiểu 30% phụ nữ tham gia trong tất cả các cuộc họp. Mọi chi tiêu tài chính và các thông tin liên quan phải minh bạch và công khai cho người dân. Riêng các cuộc họp của đồng bào dân tộc thiểu số phải sử dụng ngôn ngữ của đồng bào hoặc có phiên dịch cho những người không nói được tiếng Việt.
Ba là, tăng năng lực của cộng đồng thông qua tăng nội lực và giúp cộng đồng tự lực phát triển.
Các nguồn nội lực của cộng đồng cần được phát huy gồm:
– Nguồn nhân lực, gồm sức khoẻ, kiến thức, tay nghề, kinh nghiệm của những lao động chính trên địa bàn có ý nghĩa quyết định trong giải quyết tốt các vấn đề của cộng đồng.
– Tài nguyên thiên nhiên: Là nguồn lực phục vụ cho quá trình phát triển cộng đồng. Đây là một trong những tiền đề để phát triển bền vững thông qua việc sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên; chú ý đến việc trang bị kiến thức, kỹ thuật cho người dân, tìm kiếm và sử dụng nguồn tài nguyên mới có thể vừa phục vụ cho quá trình phát triển của cộng đồng vừa tạo ra tính bền vững như việc tìm kiếm và sử dụng nguồn nguyên liệu sạch từ: Gió, năng lượng mặt trời…
– Cơ sở vật chất, kỹ thuật và cơ sở hạ tầng: gồm hệ thống đường xá, cầu cống, các công trình…Một số cộng đồng với sự hỗ trợ kỹ thuật, kinh phí, vật chất của các tổ chức phát triển đã tự cải thiện được tình trạng xuống cấp và thiếu thốn về cơ sở hạ tầng, điển hình như tại các địa bàn thuộc Chương trình 135 và các huyện nghèo được hỗ trợ theo Nghị quyết 30a của Chính phủ đã được Nhà nước và các doanh nghiệp hỗ trợ xây dựng hệ thống: Điện – đường – trường – trạm là cơ sở để cộng đồng nghèo có thể tự vươn lên phát triển kinh tế, thoát nghèo.
– Tài chính: Để cộng đồng phát triển, ngoài những nhân tố quan trọng trên đây, việc tổ chức, huy động nguồn tài chính đáng kể được lập lên từ chính người dân trong cộng đồng đó có ý nghĩa hết sức quan trọng. Những thí dụ dụ điển hình trong thực tiễn được sử dụng khá hiệu quả là các nguồn tài chính vi mô hay quỹ tín dụng của các tổ chức đoàn thể như hội phụ nữ, hội cựu chiến binh, hội nông dân, đoàn thanh niên được huy động và thành lập trên cơ sở vốn góp của các hội viên, hỗ trợ nhau phát triển kinh tế đã mang lại hiệu quả thiết thực, giảm thiểu tình trạng cho vay nặng lãi và các vấn đề tiêu cực nảy sinh.
– Mối quan hệ xã hội, tức tính liên kết của cộng đồng gắn bó hay lỏng lẻo đều có ảnh hưởng lớn tới quá trình phát triển của cả cộng đồng. Việc chú ý phát huy mặt tích cực, hạn chế tiêu cực trong mối quan hệ xã hội tại cộng đồng là cần thiết. Khi các thành viên trong các nhóm quan tâm, giúp đỡ lẫn nhau, chia sẻ kinh nghiệm làm ăn, nuôi dạy con cái, cùng nhau xây dựng, sử dụng và bảo quản công trình cộng đồng… thì các nguồn lực nêu trên ngày càng được củng cố, mối quan hệ cộng đồng thêm chặt chẽ và bền vững hơn.
– Tận dụng tốt các chính sách hiện hành của Chính phủ trong hỗ trợ cộng đồng như: Chính sách đầu tư và phát triển kinh tế địa phương; chính sách xóa đói giảm nghèo; chính sách tăng cường dân chủ cơ sở…là nguồn lực vô cùng to lớn mà cộng đồng có thể phát huy để tập trung cho mục tiêu phát triển.
Ngoài ra, để tăng năng lực của cộng đồng, việc mở các lớp tập huấn, hướng dẫn kinh nghiệm làm ăn, huấn luyện kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng cây trồng, vật nuôi, kỹ thuật bảo quản và tiêu thụ sản phẩm, các buổi hội thảo tại thôn hay hội thảo đầu bờ… nhằm tăng cường trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm cũng như nâng cao kiến thức làm ăn có ý nghĩa rất quan trọng, giúp nâng cao năng lực, kỹ năng của người lãnh đạo cộng đồng và mỗi người dân trong việc lập kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn để có thể tự giải quyết các vấn đề còn tồn tại và phát sinh mới trong mỗi cộng đồng.
Và để giúp cộng đồng tự lực phát triển thì lãnh đạo cộng đồng (chính quyền xã, trưởng các thôn/bản) cần nhận thức rõ: sự giúp đỡ từ bên ngoài, của các cá nhân hay mỗi tổ chức xã hội chỉ là chất xúc tác, điều quan trọng là làm sao để bản thân người dân tại cộng đồng phát huy được các nguồn nội lực nêu trên. Nếu người dân không tự cố gắng vươn lên mà chỉ trông chờ, ỷ lại vào sự giúp đỡ của Nhà nước và của các cộng đồng khác thì vấn đề đói nghèo không thể được giải quyết một cách triệt để và bền vững được.
Nguồn: molisa.gov.vn

Điều đáng lo ngại trong nhiều gia đình hiện nay ở thành thị

Nguồn ảnh: diaocxaydung.vn

VNSW xin trân trọng giới thiệu bài viết “Điều đáng lo ngại trong nhiều gia đình hiện nay ở thành thị” của Trường Giang được đăng trên Nhà Quản lý.

Trong sự phát triển mạnh mẽ phong trào hiện đại hóa cuộc sống muôn mặt, toàn đất nước, nhất là khu vực thành phố, có nhiều biến đổi tích cực. Đó là một sự thật lớn ai cũng thấy rõ. Xong cũng lại có một sự thật khác xuất hiện làm không ít người lo ngại; đó là một số nhân tố truyền thống vốn có trong dân ta đang bị phá vỡ hoặc bào mòn nghiêm trọng.

1. Một số kỷ cương nền nếp gia phong đang bị mất dần

Ai đi dâu cả nhà chẳng hay, chuyện thưa báo của con cái cháu chắt đối với cha mẹ, ông bà không còn giữ vững như trước, mỗi khi đi về. Ý kiến của người già, người lớn trong gia đình không còn được coi trọng. Phong cách sống tự do quá trớn đang thao túng nhiều người, hình thành một nếp sống vô tổ chức, không ai bảo được ai.

Có một quan niệm đang chi phối lớp trẻ ở những gia đình giàu có là muốn thoát khỏi sự ràng buộc của bố mẹ và coi đó là cách tốt nhất để tự giải phóng mình, từ bỏ những ảnh hưởng của những tư tưởng lạc hậu, lỗi thời. Trong lúc đó, thì chúng vẫn tận hưởng những đồng tiền ưu ái của bố mẹ để sống thoải mái với người yêu, bạn bè. Ngay cả những gia đình không giàu, những cách sống phóng khoáng vượt ra ngoài những điều kiện cho phép. Buổi sáng, mỗi người điểm tâm một kiểu. Buổi trưa thì càng tùy tiện, ai nấy đều ăn tự do ở gần cơ quan mình hoặc gần nhà trường mình học. Buổi chiều may ra mới có khả năng ăn tập trung nhưng lại xảy ra hiện tượng về lỗ mỗ không cùng một lúc, phải ăn làm nhiều lần, thức ăn phải chia ba sẻ bốn, thật nhiêu khê, phiền toái. Muốn tổ chức một buổi sinh hoạt tập trung toàn gia đình lớn thật rất khó. Nhiều lúc muốn trao đổi giải quyết một vấn đề chung lại phải giải quyết bằng điện thoại di động với từng người.

Những cuộc cãi cọ giữa bố mẹ với con cái, giữa anh chị em với nhau thường diễn ra gay gắt. Lớp trẻ hay cho mình mới thức thời, nắm thời cuộc còn người nhiều tuổi là cũ kỹ, bảo thủ nên có thái độ xấc xược căng thẳng, không giữ được tôn ti trật tự. Người già ở thành thị thường được chăm sóc chu đáo hơn về vật chất nhưng đa số thường vẫn cảm thấy cô đơn lạnh lẽo, vẫn thấy tủi thân, luôn không hài lòng. Khái niệm về mái ấm gia đình đang bị mờ dần.

Việc yêu thương và kết hôn bây giờ dĩ nhiên là tự do hơn, nhưng điều đáng nói là quá thoáng, bất chấp mọi định hướng chỉ giáo của cha mẹ, bất chấp cả mọi tiêu chí thông thường. Họ yêu nhau, lấy nhau dễ dàng và do đó cũng ly thân, ly dị dễ dàng.

Cuộc sống tự do đã làm cho quy mô từng hộ gia đình bé lại. Nhiều người thích sống riêng, ở riêng. Quy mô sống chung gia đình ba, bốn thế hệ ít dần; cấu trúc nhỏ hơn nhưng lại lỏng lẻo hơn, thiếu sự bền chặt cần thiết.

2. Học tập, đọc sách kém đi; giải trí quá nhiều; lao động lười biếng

Từ ngày có máy vi tính và công nghệ thông tin, cuộc sống tinh thần của người dân, nhất là thanh thiếu niên được nâng cao hẳn. Song không ít trong lớp trẻ đã không tận dụng hết mọi ưu thế của nó mà bị các hình thức giải trí kéo sa đà tạo nên nhiều hậu quả tai hại. Ngay cả truyền hình, video cũng vậy, nhiều em đã bị mặt trái của nó quật lại.

Các trò chơi thể thao như bóng đá, bóng chuyền, cầu lông… nhưng nhiều em đã không dừng lại đúng mức để cho nó tiêu hoa hết thời gian, sức lực làm ảnh hưởng xấu, rất xấu đến kết quả học tập, đọc sách, nghiên cứu trong thanh thiếu niên giao đoạn này sa sút hẳn.

Đã có một tờ báo kêu lên: “Hãy cứu văn hóa đọc”. Đã có một cuộc điều tra ở một khu tập thể về tình trạng đọc sách và tự học của lứa tuổi từ 15 đến hết 18 trong một tháng: 98% không đọc một cuốn sách nào, 70% không học và làm hết bài tập.

Còn về mặt lao động thì thật thảm hại. Thanh thiếu niên ở thành phố, nhất là con nhà tương đối khá giả trở lên thì hầu như không ưa và không biết lao động. Mọi thứ lao động chân tay, lao động kỹ thuật trong cuộc sống gia đình đều được bao thầu.

Hệ thống các công ty, các nhà hàng dịch vụ, hệ thống lao động tự do đã phát triển nhanh chóng chưa từng thấy. Có tiền là có hết, là mọi việc sẽ được hoàn tất. Ở trong nhà thì đã có Osin làm đủ mọi việc. Ngay khi đang ngồi ăn, cần cái gì, đôi đũa hay cái thìa, cũng đã có người lấy giúp, không cần phải tự mình đứng dậy. Các em không có việc gì để làm. Do đó, các em ngại lao động, ngại khó, ngại khổ, hầu hết trở thành cô chiêu cậu ấm là điều dễ hiểu.

3. Hoang phí, khái niệm tiết kiệm ít được nhắc tới.

Do điều kiện sống được nâng cao, mức thu nhập của nhiều hộ gia đình ở thành thị tăng lên rõ rệt, nhưng việc giáo dục ý thức tiết kiệm và văn hóa tiêu tiền thì lại thiếu quan tâm nên để xảy ra tình trạng lãng phí nặng nề, tiêu tiền xả láng.

Áo quần và những đồ dùng khác hơi cũ, hơi lạc mốt là liền thải ra, chất đống. Thấy cái gì mới hay là mua, bất chấp giá cả. Nhiều vật dụng thừa thãi, lắm thứ cùng một chức năng. Thức ăn ngày nào cũng để thừa bứa, phải đổ đi.

Không chỉ ở lớp trẻ mà cả ở những thành phần trung niên trong nhà cũng mắc bênh hoang phí, kể cả hoang phí về thời gian. Thời giờ chơi bời của họ thường nối liền sau lúc đi làm, đi họp hoặc đi học nên thời gian vắng nhà của họ là dài dằng dặc. Hiện tượng đi chơi lang thang, nhậu nhẹt lai rai, nồi tập trung tán ngẫu cứ diễn ra triền miên. Đường phố, siêu thị, các cửa hàng, CLB, sân vận động, công viên, rạp hát, vũ trường là nơi tụ hội của họ. Nhiều khi chẳng có chuyện gì để nói, trò gì để chơi họ cũng đến với nhau. Phong cách sống thoải mái về thời gian như thế trở thành thói quen, kéo dài cho đến khi đã có gia đình, đã làm bố, làm mẹ, đã là ông chủ lớn, đã có cả một gia thất. Thời gian trôi đi không bao giờ trở lại, lãng phí thời gian là lãng phí tuyệt đối.

Từ cuộc sống hoang phí, không kiểm soát được việc tiêu tiền, không kiểm soát được thời gian buộc lòng những người chủ chốt lo việc kiếm tiền phải kiếm cho được tiền ngày càng nhiều với bất cứ cách nào, lúc nào. Từ đó sinh ra nhiều điều phức tạp xảy ra đối với an ninh xã hội, với phẩm cách con người, với hạnh phúc bền vững của gia đình.

Thực trạng trên đã làm cho những người có lương tri lo lắng, đáng báo động. Song cũng có không ít người tỏ thái độ mặc kệ nó hơi đâu mà lo, cuộc sống sẽ tự điều chỉnh.

Nếu không có kế hoạch toàn dân, kiềm chế và xóa bỏ mặt trái của sự phát triển nảy sinh thì bánh xe tiến hóa của lịch sử chậm lại, ta không thể làm chủ được tương lai.

Chương 5 Công tác xã hội: Lý thuyết và thực hành

VNSW xin trân trọng giới thiệu Chương 5 với tiêu đề Nhân viên công tác xã hội, trong Tập tài liệu Công tác xã hội: Lý thuyết và thực hành của tác giả Trần Đình Tuấn, ĐH San Jose, Hoa Kỳ:

Nhìn chung, CTXH có những nhiệm vụ cơ bản sau: Phục hồi tiềm năng sẵn có hoặc chức năng đã bị thương tổn của khách hàng; Nối kết khách hàng với tài nguyên trong xã hội; Phòng ngừa xảy ra vấn nạn cho cá nhân và xã hội; Đóng góp vào sự hình thành và cải tiến các chính sách xã hội. Từ những nhiệm vụ cơ bản này CTXH nhắm đạt được những mục tiêu kể sau:

– Giúp khách hàng nâng cao khả năng ứng phó và tự giải quyết vấn nạn của mình (thí dụ giúp người nghèo có cơ hội học nghề để không phải đi ăn xin hay làm những chuyện phi pháp) .

– Tạo ra cầu nối giữa khách hàng và tài nguyên xã hội (gởi cụ già không nơi nương tựa đến nhà dưỡng lão).

– Giúp tạo ra và nâng cao quan hệ qua lại giữa cá nhân và xã hội, trong đó có tài nguyên xã hội (vận động thiết lập và giới thiệu các tổ chức, các hoạt đông tôn giáo, văn hóa, xã hội, sức khỏe… của người cao tuổi trong cộng đồng và khuyến khích khách hàng cao tuổi tham gia).

– Phát hiện những vấn nạn xã hội, đóng góp vào việc tạo ra chính sách mới để giải quyết vấn nạn đó, hoặc tu chỉnh những chính sách xã hội đang có sẵn (thí dụ vận đông với chính quyền thành phố, tỉnh, hay quốc gia để có những chính sách xã hội đáp ứng nhu cầu nào đó của một hay nhiều thành phần trong xã hội như chính sách cấm kỳ thị người vì lý do tính dục, chính sách buộc các kiến trúc gia cư tập thể và kiến trúc có quần chúng lui tới phải có lối đi riêng cho người sử dụng xe lăn…)

– Phân phối tài nguyên vật chất của xã hội: vận động để chính quyền các cấp dành ngân khoản xứng đáng hàng năm cho các nhu cầu của người nghèo trong xã hội.

– Giữ vai trò an toàn xã hội khi cần thiết, thí dụ thông báo cho thân nhân khi khách hàng có ý định tự tử; gởi khách hàng vào bệnh viện tâm thần nếu có khả năng thực hiện ý định tự tử; hoặc các biện pháp can thiệp trong trường hợp bạo hành, lạm dụng, ngược đãi hay loạn luân để ngăn ngừa tái phạm và bảo vệ những nạn nhân trong gia đình.

Một cách tổng quát, nhiệm vụ của CTXH là nhằm phục vụ mối an sinh của con người trong xã hội. Mối an sinh này dựa trên ba thừa nhận sau đây: (1) Tính cách quan trọng của mỗi cá nhân, mỗi gia đình, mỗi nhóm, mỗi tổ chức, đoàn thể, và cộng đồng trong xã hội, bất kể giàu nghèo, sang, hèn, chủng tộc, địa vị, tôn giáo, văn hóa, tính dục. (2) Do những nguyên nhân nội tại cũng như ngoại lai, luôn luôn có vấn nạn xảy ra cho cá nhân, cho gia đình, và cho các thành phần nhóm khác của xã hội. (3) Tìm giải pháp cho những vấn nạn này là điều cần thiết trong một xã hội có tổ chức cao.

CTXH có nhiệm vụ giải quyết những vấn nạn xã hội để con người bớt khổ đau và có thể phát triển đến mức cao nhất những tiềm năng của mình. Vấn nạn xã hội là những tình trạng gây ra các phản ứng vi phạm vào giá trị nhân phẩm, tạo ra khổ đau về tinh thần hay vật chất cho con người (Barker 1995). Thí dụ: nạn trộm cướp, nghiện ngập, kỳ thị, bất công, cửa quyền, tham ô. Merton (1961) còn chỉ ra yếu tố chính của vấn nạn xã hội là sự chênh lệch giữa lý tưởng do xã hội nhắm tới và thực trạng của xã hội đó. Thí dụ nạn nghèo đói luôn luôn là vấn nạn của tất cả các xã hội, các quốc gia, vì ấm no và hạnh phúc cho mọi thành phần trong xã hội là lý tưởng chung chưa bao giờ đạt được của nhân loại. (Phần Lan, nước giàu và có tổ chức an sinh xã hội là khuôn mẫu cho thế giới gần như đã đạt được ấm no cho toàn dân, nhưng tỷ lệ chán đời tự tử lại cao nhất thế giới). Vấn nạn xã hội xảy ra khi tổ chức xã hội không có tài nguyên hoặc có nhưng không đủ để giải quyết những nhu cầu chính đáng của con người sống trong xã  hội đó. Thí dụ xảy ra phổ biến nạn đánh đập con cái vì xã hội không cung cấp đủ lớp học nghệ thuật làm cha mẹ. Thí dụ khác: khác hẳn người Singapore, Mã Lai, Đài Loan, Hàn quốc, Thái Lan, Úc, Âu, Mỹ… người Việt Nam đến thế kỷ 21 vẫn không biết xếp hàng và vẫn xả rác bừa bãi vì xã hội chỉ có biện pháp vận động, giáo dục chung chung mà chưa bao giờ có biện pháp cưỡng chế rốt ráo đi kèm. (Ở các nước phát triển trước, người ta trừ được thói quen xả rác bừa bãi bằng biện pháp trừng phạt nặng nề, thí dụ ở California có thành phố quy định tiền phạt hơn 1000 mỹ kim cho tội xả rác ngoài công lộ. Ở Singapore tội xả rác còn bị trừng phạt nghiêm ngặt hơn). Tổ chức xã hội ở Việt Nam có khả năng làm được những thay đổi rất lớn và rất khó như đội mũ bảo hiểm, không đốt pháo trong dịp lễ tết… tại sao không tập được cho người dân hai thói quen cơ bản của nếp sống văn minh là xếp hàng và không xả rác nơi công cộng?  Đây nên là suy nghĩ của tất cả mọi người Việt Nam, đặc biệt là những sinh viên và nhân viên CTXH. Chắc chắn một ngày kia chúng ta sẽ có một nhân viên CTXH Việt Nam kiên trì vận động để huy động được quyết tâm và năng lực của chính quyền và toàn dân vào công việc biến nước Việt Nam thành một quốc gia sạch đẹp không kém các nước láng giềng chung quanh, và toàn dân Việt Nam biết xếp hàng như các dân tộc văn minh khác trên thế giới.

Vấn nạn xã hội có thể là vấn nạn của cá nhân, thí dụ thất nghiệp, hành hạ, đánh đập vợ con, bệnh tật, nghiện hút, phạm pháp. Vấn nạn xã hội cũng có thể là vấn nạn của nhiều người thí dụ nạn thất nghiệp hàng loạt do kinh tế suy thoái; trộm cướp nhiều gây ra mất an ninh; hoặc thiên tai, bão lụt, hạn hán…

Để chu toàn trách nhiệm giải quyết các vấn nạn xã hội, tạo điều kiện sống bình an cho cá nhân và thăng tiến cho xã hội, CTXH nhắm: (1) Tăng cường chức năng của các thành phần trong xã hội và sự giao lưu giữa các thành phần đó với nhau. (2) Vận dụng những tài nguyên có sẵn trong xã hội hoặc góp phần thúc đẩy sự hình thành những tài nguyên mới để đáp ứng nhu cầu của xã hội. (3) Giúp phục hồi tiềm năng của cá nhân để họ có thể tự thăng tiến đến mức cao nhất mà họ có thể đạt được, nghĩa là đạt đến viên mãn/self actualization.

Viên mãn, theo Abraham Maslow, là tầng cao nhất trong 5 tầng nhu cầu của con người (vật chất, an ninh, tình cảm, tự tin, và viên mãn). Sự thỏa mãn những nhu cầu ở tầng thấp là tiền đề cho sự thỏa mãn ở tầng cao hơn. Thí dụ của Maslow: người đang khát nước mà bị thiếu oxygen thì quên khát nước ngay lập tức. Con người chỉ đạt được viên mãn khi các nhu cầu thấp hơn đã được thỏa mãn, và ở trạng thái này người ta có khả năng chấp nhận thực tế, không chối bỏ sự thật, chấp nhận bản thân và mọi người, không có thành kiến, yêu mình, yêu người, và nhìn đời bằng nhãn quan vui tươi, dí dỏm.

Thang nhu cầu Maslow:

5: Vật chất (ăn, uống, nhà ở, tình dục…)

4: An ninh (cơ thể, việc làm, sức khỏe, gia đình…)

3: Tâm lý (thân nhân, bạn bè…)

2: Tự tin (tôn trọng người và được người tôn trọng…)

1: Viên mãn (đạo đức, sáng tạo, chấp nhận thực tế  không còn bị ràng buộc bởi những khuôn sáo, hoàn toàn tự chủ, yêu đời…)

Để hoàn thành nhiệm vụ của mình, nhân viên CTXH cần những kỹ năng riêng biệt.

Nhân viên CTXH là một tác nhân thay đổi/change agent. Dù làm việc với cá nhân, hay gia đình, nhóm, hay cộng đồng, mục tiêu của nhân viên CTXH luôn luôn là sự thay đổi từ trạng thái xấu đến trạng thái tốt hơn cho khách hàng. Để đạt được mục tiêu này, nhân viên CTXH phải có kiến thức, kỹ năng và đạo đức nghề nghiệp. Johnson và Yanca (2004) mô tả vai trò của nhân viên CTXH qua năm khía cạnh sau:

I. BIẾT MÌNH

Dụng cụ mạnh nhất mà nhân viên CTXH có được là bản thân mình/the Self, tuy nhiên, cũng như đối với tất cả các loại dụng cụ khác, muốn đạt hiệu quả, người sử dụng phải hiểu nó cặn kẽ. Do biết rõ về mình, nhân viên CTXH hiểu được sự khác biệt giữa khách hàng và mình, giữa nhu cầu, mối quan tâm của mình và nhu cầu, mối quan tâm của khách hàng, nhờ vậy có thể giúp khách hàng tìm được những giải pháp phù hợp nhất với hoàn cảnh và quyền lợi của họ. Một trong những lỗi lầm thông thường của những người hảo tâm khi giúp đỡ người khác là áp đặt những giải pháp họ nghĩ là tốt (theo nhu cầu, mối quan tâm, giá trị luân lý, đạo đức, văn hóa, tôn giáo của cá nhân họ) cho người họ muốn giúp. Đây là lý do làm người ta tin phần lớn những bất hạnh của nhân loại đều gây ra bởi những hảo tâm!  Thí dụ: có cha mẹ nào đánh đập con cái không phải vì thương con?  Nhà độc tài Pol Pot từng gây ra tội ác tự diệt chủng chưa từng có trong lịch sử nhân loại, trước khi chết còn tuyên bố “lương tâm trong sáng không có gì phải hối tiếc”!

Để tránh lỗi lầm rất phổ thông kể trên, nhân viên CTXH cần hiểu rõ khách hàng và bản thân mình. Có hai cách để nhân viên CTXH hiểu mình: học hỏi kiến thức của các khoa học về ứng xử của con người như tâm lý học, xã hội học, nhân chủng học… và lắng nghe nhận xét của những người chung quanh (thân nhân, bạn bè, đồng nghiệp, kể cả những người không có thiện cảm đối với mình) về cách ứng xử, suy nghĩ và hành động của mình. Một trong những đặc tính chung của con người là hiểu rất rõ ưu điểm của mình và khuyết điểm của người khác (thánh kinh Thiên Chúa giáo đã chép cái dầm nhỏ xíu trong mắt người khác ai cũng thấy rõ, còn cái xà khổng lồ trong mắt mình thì chẳng ai thấy). Nhân viên CTXH cần luôn ý thức đặc tính này, chấp nhận sự kiện mình khó có thể hiểu biết cặn kẽ khuyết điểm của bản thân mình bằng những người chung quanh, và đón nhận phê bình của mọi người như những bài học quý giá, những cơ hội thăng tiến cho bản thân.

Kiến thức về ứng xử của con người sẽ giúp nhân viên CTXH chú ý đến những điểm sau :

1. Ứng xử của con người là kết quả tác động qua lại của cảm xúc, suy nghĩ và hành động

Qua ngũ giác, con người có được những cảm xúc, những cảm xúc này dẫn đến ý nghĩ, và ý nghĩ đưa đến hành động. Ngược lại, hành động có thể tạo ra cho con người những cảm xúc mới, ý nghĩ mới, dẫn đến hành động mới. Rất nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến cách con người cảm xúc, suy nghĩ và hành động: văn hóa, tôn giáo, sức khỏe, trình độ hiểu biết, kinh nghiệm sống, điều kiện vật chất (giàu nghèo)… Thí dụ một tín đồ tôn giáo thuần thành có thể tội nghiệp cho người đồng tính vì lối sống của họ bị coi là “tội lỗi”. Suy nghĩ này sẽ dẫn đến cách cư xử khác với cư xử của một nhân viên CTXH chuyên nghiệp vốn được huấn luyện để chế ngự thành kiến, tôn trọng khách hàng, không thương và không ghét (thương và ghét đều là những tà kiến ngăn cản nhân viên CTXH hoàn thành đúng đắn công việc của mình). Hiểu biết về những ứng xử khác nhau do ảnh hưởng của nhiều yếu tố, nhân viên CTXH hiểu được sự khác biệt giữa mình và khách hàng, tránh được những phán xét một chiều, tạo được mối quan hệ tích cực và vì vậy giúp được khách hàng.

2. Đạo đức và hệ thống giá trị

Đạo đức là cái giúp người ta phân biệt hành động đúng sai, thí dụ:  làm ăn dối trá, lọc lừa để làm giàu là sai; làm ăn lương thiện, tạo ra sản phẩm hay dịch vụ tốt cho khách hàng là đúng. Hệ thống giá trị là những điều người ta trân trọng và muốn đạt được, thí dụ chung thủy, thật thà, cần mẫn… Cũng như cách suy nghĩ, ứng xử của con người, các yếu tố văn hóa, tôn giáo, hoàn cảnh cá nhân làm cho người ta có những tiêu chuẩn đạo đức và hệ thống giá trị khác nhau. Thí dụ tiêu chuẩn đạo đức và hệ thống giá trị của một người không nhà, nghiện hút, sống ở gầm cầu, sẽ khác với tiêu chuẩn đạo đức và hệ thống giá trị của một người có gia đình, nhà ở và công ăn việc làm ổn định.

3. Gia đình và gốc rễ văn hóa

Mỗi người có một gốc gác gia đình và văn hóa riêng. Có người trân trọng, muốn bảo tồn, có người không cảm thấy thoải mái với gốc rễ gia đình và văn hóa của mình và muốn tạo dựng một văn hóa mới. Dù trong trường hợp nào, gia đình và gốc rễ văn hóa cũng giữ một vai trò quan trọng trong ứng xử của con người và cần được hiểu rõ trong CTXH. Phương pháp hiệu quả để tìm hiểu gốc rễ gia đình và văn hóa của khách hàng là vẽ lại cây gia đình/genogram trong ít nhất ba thế hệ. Những chi tiết như số con, tên, thứ tự trong gia đình, mối quan hệ xấu hay tốt, tuổi lúc mất và lý do mất, tôn giáo, nghề nghiệp, lối sống của các thành viên… sẽ giúp nhân viên CTXH hiểu rõ được ảnh hưởng của gốc rễ văn hóa và gia đình đối với khách hàng.

4. Kinh nghiệm sống

Là những diễn biến quan trọng xảy ra trong cuộc đời liên quan đến hoàn cảnh sống: mất mát người thân, kinh nghiệm thời đi học, lập gia đình, kinh nghiệm làm việc… tất cả những kinh nghiệm sống này không ngừng ảnh hưởng đến cá tính và cách ứng xử của con người.

5. Nhu cầu cá nhân

Tùy theo giới tính, văn hóa, tôn giáo, chủng tộc, sức khỏe, tuổi tác… mỗi người, trong mỗi giai đoạn phát triển, có những nhu cầu khác nhau. Khi nói đến nhu cầu, người ta thường nghĩ đến nhu cầu vật chất như nhà ở, thực phẩm, quần áo, sự an toàn… tuy nhiên, ngoài những nhu cầu vật chất, con người còn có nhu cầu tinh thần (xem lại kim tự tháp nhu cầu của Maslow): được thương yêu, được tôn trọng, được học hỏi, được đóng góp, được thực hành đức tin về tôn giáo, được có cảm giác viên mãn… Ứng xử của con người có khuynh hướng tiến đến mục tiêu thỏa mãn nhu cầu của cá nhân, ngược lại tình trạng được thỏa mãn hay không, thỏa mãn nhiều hay ít, là những yếu tố có thể chi phối cá tính và cách ứng xử của con người. Hiểu rõ nhu cầu của mình, của người, chú tâm thỏa mãn những nhu cầu chính đáng, nhân viên CTXH dễ dàng nhận ra được những sai lệch, tránh lỗi lầm trong nghề nghiệp và hoàn tất được nhiệm vụ giúp đỡ khách hàng. Thí dụ: trong quá trình làm việc với khách hàng, nhân viên CTXH có thể có cảm giác thỏa mãn vì được khách hàng tôn trọng và cần đến mình. Nếu cho phép cảm giác thỏa mãn này ảnh hưởng đến công việc để có lợi cho bản thân mình (thí dụ kéo dài thời gian giúp đỡ một cách không chính đáng, không phục vụ quyền lợi cao nhất của khách hàng), nhân viên CTXH đã phạm phải một trong những lỗi lầm nghiêm trọng của nghề CTXH, đó là phục vụ lợi ích của mình chứ không phải của khách hàng.

II. LÀ NGƯỜI GIÚP ĐỠ CHUYÊN NGHIỆP

Nhân viên CTXH đến với khách hàng trong vai trò của người giúp đỡ chuyên nghiệp. Có nhiều khác biệt giữa người giúp đỡ và người giúp đỡ chuyên nghiệp. Người giúp đỡ hành động theo lương tâm và cảm tính cá nhân; có thể hoàn toàn bất vụ lợi hoặc trông đợi được trả ơn (trực tiếp từ đối tượng được giúp đỡ, hoặc gián tiếp từ các đấng quyền năng trong tôn giáo). Người giúp đỡ chuyên nghiệp vận dụng kiến thức và kỹ năng trong khuôn khổ đạo đức và hệ thống giá trị của CTXH, và được trả lương từ cơ quan, tổ chức CTXH, hoặc lệ phí từ khách hàng. Hảo tâm là đặc tính chung của người giúp đỡ. Người giúp đỡ chuyên nghiệp có những đặc tính sau: có kiến thức và khả năng chuyên môn; thân thiện; đáng tin cậy; có khả năng sử dụng cái tôi chân thật của mình để động viên, khuyến khích, gây ảnh hưởng đến khách hàng (đây là phần quan trọng nhất trong công việc của nhân viên CTXH); biết cách dùng ngôn ngữ để truyền đạt ý kiến, khai thác và phân tích thông tin; biết gầy dựng tự tin cho khách hàng để dần dần khách hàng có thể tự giúp, không cần đến người khác.

1. Trách Nhiệm và Thẩm Quyền của người giúp đỡ chuyên nghiệp

Trong công việc của mình, nhân viên CTXH có trách nhiệm giúp khách hàng thăng tiến, thay đổi, để có cuộc sống tốt đẹp hơn; và thẩm quyền hành động để đạt được mục tiêu đó. Trách nhiệm và thẩm quyền của nhân viên CTXH hiện hữu song song với quyền tự quyết của khách hàng và những giới hạn của quyền tự quyết đó. Nhân viên CTXH không thể vin vào trách nhiệm và thẩm quyền của mình để quyết định thay cho khách hàng, mà chỉ có thể giúp khách hàng tìm hiểu, phân tích vấn nạn, tìm kiếm các tài nguyên từ cá nhân, gia đình, và cộng đồng, thăm dò các giải pháp và hậu quả có thể xảy ra của từng giải pháp để khách hàng tự quyết định. Câu hỏi đặt ra ở đây là trong những trường hợp khách hàng cố ý chọn giải pháp xấu, nhân viên CTXH phải làm gì?  Đối với những trường hợp này, nhân viên CTXH vẫn phải tôn trọng quyền tự quyết của khách hàng, vì quyền tự quyết đi liền với trách nhiệm chấp nhận hậu quả. Quyền tự quyết có một số giới hạn sau đây (những giới hạn này nhân viên CTXH phải truyền đạt cho khách hàng hiểu rõ):

–                     Khách hàng có những quyết định có thể gây hại cho bản thân hay cho người khác. Trong trường hợp này nhân viên CTXH có trách nhiệm bảo vệ sự an toàn của khách hàng và xã hội, và có thẩm quyền hành động để điều nguy hại đó không xảy ra (án lệ Tarasoff). Tại California, đối với bệnh nhân tâm thần, điều 5150 của luật An Sinh Xã Hội tiểu bang cho phép một số người hành nghề chuyên môn, trong đó có nhân viên CTXH, được phép tạm cưỡng chế khách hàng vào nhà thương để được chăm sóc nếu khách hàng có thể có hành vi cụ thể nguy hại đến bản thân (thí dụ tôi sẽ tự tử, nhà tôi có sẵn thuốc chuột), nguy hại đến người khác (thí dụ tôi sẽ giết ông X, hàng xóm, vì tôi đi đâu ông ta cũng theo dõi), hoặc không tự chăm sóc lấy bản thân một cách nghiêm trọng (thí dụ tự nhốt mình trong phòng, không ăn uống, tắm rửa trong nhiều ngày).

–                     Khách hàng không có khả năng trí tuệ để tự quyết định (thí dụ trẻ em hoặc người mắc bệnh tâm thần). Ở Mỹ những bệnh nhân tâm thần nặng thường được toà án bổ nhiệm một người bảo hộ/conservator, người này có thể là thân nhân hoặc là nhân viên bảo hộ của Nha Xã Hội trong chính quyền Hạt. Trẻ em do Toà Án quản lý vì bị ngược đãi hoặc không có thân nhân chăm sóc (thí dụ trẻ mồ côi, trẻ có cha mẹ vi phạm pháp luật bị tước quyền làm cha mẹ hoặc bị giam giữ), cũng được toà án bổ nhiệm một thân nhân hoặc một nhân viên của Nha Xã Hội làm người giám hộ/guardian. Đối với những khách hàng này, nhân viên CTXH sẽ cùng với người bảo hộ hoặc giám hộ có quyết định thay cho khách hàng.

2. Kỹ năng của người giúp đỡ chuyên nghiệp

1. Kỹ năng truyền thông

Truyền thông là một vấn đề phức tạp. Truyền thông có thể được thực hiện bằng lời nói, chữ viết, giáng điệu, cử chỉ, vẻ mặt, thần sắc… Trong khi nói chuyện, người ta không ngừng phân tích các thông tin, lượng định các hậu quả của việc truyền thông, và chọn lọc các thông tin truyền đi để làm thế nào đạt được lợi ích cao nhất cho bản thân.

Trong CTXH, Lawrence Shulman (2006) đề ra bốn yếu tố sau đây có thể gây trở ngại cho truyền thông của khách hàng:

  • Mặc cảm tự ti hoặc tự tôn: không tự mình giải quyết được vấn nạn, phải nhờ đến xã hội là “yếu”, để tránh mặc cảm này, khách hàng có thể giảm thiểu tầm quan trọng thực sự của vấn nạn.
  • Yếu tố văn hóa: một số điều nhạy cảm của truyền thống văn hóa làm cho khách hàng không thể cung cấp những thông tin trung thực liên quan đến tình dục, tiền bạc, gia đình, tôn giáo, quyền lực… Thí dụ những chuyện xấu trong gia đình hàng xóm thì ai cũng có thể nói rõ ràng tỷ mỷ được, nhưng chuyện xấu trong gia đình bản thân thì ít người muốn phô bày ra cho người ngoài.
  • Cảm xúc tiêu cực gắn liền với sự kiện nào đó: khách hàng có thể có những cảm xúc bồn chồn khó chịu hoặc giận dữ, chán nản… vì một sự kiện nào đó và tránh không muốn đề cập đến sự kiện đó, hoặc đề cập không đúng sự thực, hoặc chối bỏ cảm xúc tiêu cực khi đề cập đến sự kiện.
  • Bản thân mối quan hệ giữa nhân viên CTXH và khách hàng: khách hàng biết nhân viên CTXH có một số quyền lực và có thể làm cho khách hàng đạt được hoặc không đạt được một mục tiêu nào đó, vì vậy khách hàng chỉ cung cấp những thông tin họ nghĩ là có lợi.

Chính vì những yếu tố kể trên, truyền thông bằng ngôn ngữ thường không thật bằng truyền thông vô ngôn như nhịp thở, ánh mắt, dáng điệu, cử chỉ, điệu bộ, thần sắc (hơi thở dồn dập, đổi sắc mặt…).

Trong truyền thông có hai phần nghe (nhận thông tin) và nói (cho thông tin). Nhân viên CTXH không ngừng chú ý quan sát khách hàng trong lúc nghe để nhận ra, phân tích, và giải mã những tín hiệu của truyền thông không lời. Phương pháp nghe đúng kỹ năng, không chỉ là nghe chăm chú, mà còn có phần đóng góp quan trọng của truyền thông vô ngôn kèm theo để truyền đạt sự thông cảm, hỗ trợ tinh thần, làm cho khách hàng được khích lệ để chia xẻ, cung cấp thông tin cần thiết. Phương pháp nói đúng kỹ năng không chỉ đơn thuần là truyền đạt rõ ràng mạch lạc ý kiến của người nói, mà làm cho người nghe được thuyết phục. Trong kỹ năng nghe và nói, phần hình thức (nghe chăm chú, nói rõ ràng mạch lạc) là phụ. Ở toà án, người ta nghe hết sức chăm chú để bắt bẻ lẫn nhau, và nói hết sức rõ ràng mạch lạc để đối phương hết đường cãi. Kỹ năng nghe và nói của nhân viên CTXH không giống kỹ năng nghe và nói của luật sư, mà là kỹ năng có phần nội dung riêng. Nội dung này xuất phát từ sự hiểu biết cặn kẽ ứng xử của khách hàng, sự tôn trọng, không phán xét khách hàng, và từ mục tiêu duy nhất giúp khách hàng có được thay đổi phù hợp nhất với thực tế của họ.

2) ( sao lai dung dâu ngoăc ) Kỹ năng thiết lập và duy trì được mối quan hệ nghề nghiệp với khách hàng

Kỹ năng này đòi hỏi trình độ đạo đức nghề nghiệp, khả năng hiểu biết, thông cảm, tôn trọng, và động viên được khách hàng của nhân viên CTXH. Kỹ năng này giúp nhân viên CTXH:

– Biết cách nghe khách hàng một cách có hiệu quả, làm cho khách hàng muốn chia xẻ; biết phân tích thông tin trong khi nghe và biết đặt câu hỏi thích hợp để động viên và hướng khách hàng đến việc chia xẻ những thông tin có ích cho việc tìm hiểu vấn nạn và giúp khách hàng tìm phương thức giải quyết vấn nạn đó.

– Động viên để khách hàng tham gia vào việc tìm kiếm giải pháp và tích cực hợp tác để giải quyết vấn nạn của họ.

– Đề cập và thảo luận được những vấn đề tế nhị (thí dụ vấn nạn liên quan đến tình dục hay loạn luân) với khách hàng.

– Làm trung gian môi giới được cho các thành phần liên quan đến vấn nạn làm việc với nhau để giải quyết vấn nạn.

Kỹ năng này cũng giúp nhân viên CTXH luôn gắn bó với lợi ích cao nhất của khách hàng và tránh được những “tai nạn nghề nghiệp” thí dụ rơi vào những mối quan hệ khác, ngoài quan hệ chuyên môn, không có mục đích phục vụ cho quyền lợi cao nhất của khách hàng (thí dụ quan hệ mua bán, trao đổi; quan hệ tình cảm…). Kỹ năng này được thể hiện ở sự tôn trọng khách hàng, trung thực, chính xác trong cách đối xử và trong ngôn ngữ, và luôn luôn đặt lợi ích của khách hàng lên hàng ưu tiên.

3)  Kỹ năng phân tích và vận dụng chính sách

Có nhiều chính sách liên quan đến CTXH, có chính sách ở cấp thành phố, tỉnh, quốc gia, và có chính sách của cơ quan, tổ chức, đoàn thể. Nhân viên CTXH phải biết chính sách, hiểu được và phân tích được chính sách để có thể bênh vực và đấu tranh hiệu quả cho khách hàng của mình. Trong hoàn cảnh chính sách còn thiếu như ở Việt Nam, nhân viên CTXH còn phải biết kỹ năng vận động và tư vấn cho chính quyền các cấp để có được những chính sách nhằm giải quyết các vấn nạn của xã hội.

4)  Kỹ năng khảo cứu

Công tác khảo cứu là một bộ phận không thể thiếu của tất cả các khoa học. Khảo cứu cần thiết cho việc mở rộng kiến thức nền tảng của khoa CTXH, đánh giá hiệu quả của các chương trình, chính sách xã hội, và hỗ trợ cho việc đề ra những chính sách mới. Công tác khảo cứu gồm lựa chọn mô hình; soạn thảo công cụ; thu nhặt, so sánh, phân tích thông tin; và trình bày kết quả khảo cứu. Chính vì vai trò quan trọng của nó, khảo cứu là một trong ba phần chính trong các chương trình đào tạo CTXH trên thế giới (hai phần kia là lý thuyết và thực tập).

Kỹ năng này giúp nhân viên CTXH tạo ra một không gian an toàn, một mối quan hệ đáng tin cậy, để từ đó khách hàng không còn bối rối, có thể bình tâm mạnh dạn làm những việc mới mà trước kia họ không tự cho có khả năng làm được. (Xem them chương 9: Đánh Giá)

5)  Kỹ năng hành động

Cùng với khách hàng lập kế hoạch hành động, tìm tài nguyên, huấn luyện khách hàng, giới thiệu khách hàng đến những cơ quan, tổ chức xã hội khác; đấu tranh, vận động để khách hàng được hưởng những dịch vụ, những quyền lợi trong cộng đồng.

III. HỮU HIỆU TRONG MỌI VĂN HÓA

Phương tiện giao thông và liên lạc văn minh làm cho thế giới càng ngày càng nhỏ lại. Các cộng đồng nhân loại đều trở nên đa dạng, phong phú về văn hóa, tôn giáo, lối sống… Nhân viên CTXH phải có khả năng làm việc với khách hàng thuộc các văn hóa khác biệt, nhất là văn hóa thiểu số, thí dụ đồng bào sắc tộc, người già, người tàn tật, người nghiện hút, người vi phạm pháp luật, người đồng tính … Tất cả những hình thức kỳ thị, dù là kỳ thị tôn giáo, chủng tộc, địa phương, văn hóa, tính dục, tuổi tác, nam nữ… đều đi ngược lại những giá trị cơ bản nhất của CTXH, đó là tôn trọng, không phán xét, và chấp nhận tính thiện của con người. Nhân viên CTXH phải luôn luôn cảnh giác, không để văn hóa của bản thân ảnh hưởng đến công việc. Trong trường hợp không thể cưỡng được những ảnh hưởng đó, nhân viên CTXH phải có trách nhiệm giới thiệu khách hàng đến các cơ quan khác hay đồng nghiệp khác để bảo vệ lợi ích cao nhất của họ.

IV. HOẠT ĐỘNG TRONG KHUÔN KHỔ TRÁCH NHIỆM NGHỀ NGHIỆP/ACCOUNTABILITY

Trách nhiệm nghề nghiệp là một khái niệm rộng rãi, bao trùm đạo đức nghề nghiệp, trách nhiệm dân sự và hình sự của người làm bất cứ nghề nào dù thuộc khu vực công hay tư trong xã hội. Trách nhiệm nghề nghiệp đòi hỏi sự trả lời công khai (trừ một số trường hợp công việc có liên quan đến an ninh quốc gia, phải trả lời cơ quan điều tra kín) minh bạch về phương cách sản phẩm hay dịch vụ đã được cung cấp như thế nào và chất lượng của sản phẩm. Những sai phạm, thiếu sót về trách nhiệm nghề nghiệp dẫn đến các biện pháp chế tài của cơ quan thuê mướn người sai phạm, tổ chức quản lý nghề nghiệp, và của toà án. Ngoài ra, ở các nước phát triển còn có những tổ chức bảo vệ người tiêu dùng hay bảo vệ quyền của người dân. Những tổ chức này được sự tài trợ của tư nhân lẫn tiền thuế do quần chúng đóng góp vào ngân quỹ nhà nước, và hoạt động hoàn toàn độc lập, không chịu sự điều động của chính quyền, có mục đích điều tra và truy tố những hoạt đông dối trá, lừa đảo trong khu vực tư nhân và tham nhũng, lạm dụng quyền thế, chức vụ, trong khu vực công quyền. Những tổ chức này được gọi là “chó canh gác”/watch dogs giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì trách nhiệm nghề nghiệp của tất cả mọi người trong xã hội và gìn giữ phẩm chất của các quan chức trong guồng máy nhà nước.

Tính cách liên đới của tinh thần trách nhiệm nghề nghiệp đòi hỏi sự làm việc nghiêm túc của tất cả các cấp nhân sự trong mọi ngành nghề tư cũng như công. Thí dụ sau đây là một minh hoạ về trách nhiệm nghề nghiệp: ở một trường tiểu học tại Gil Roy, hạt Santa Clara, bang California, vào khoảng năm 2000, một nữ học sinh mắc bệnh khờ mách với huấn luyện viên thể dục là em bị một nhóm nam sinh xâm phạm tình dục trong nhà vệ sinh. Huấn luyện viên này cho là em nữ sinh khờ không nói đúng sự thật và bỏ qua, không có biện pháp can thiệp nào. Kết quả là sau đó em nữ sinh này bị nhóm nam sinh hiếp dâm nhiều lần. Khi nội vụ vỡ lở, gia đình nạn nhân đã kiện, không phải kiện trường tiểu học nơi xảy ra nội vụ, mà kiện học khu (là cơ quan quản lý nhiều trường học trong một khu vực địa lý rộng lớn). Huấn luyện viên liên quan bị sa thải, hiệu trưởng trường tiểu học liên hệ bị khiển trách, và học khu phải bồi thường cho nạn nhân một số tiền khá lớn.

Trong CTXH, trách nhiệm nghề nghiệp đòi hỏi nhân viên CTXH tuân theo nội quy về đạo đức nghề nghiệp của hội nhân viên CTXH. Nội quy này minh định vai trò và mối quan hệ chuyên nghiệp giữa nhân viên CTXH với khách hàng, với thượng cấp, với cơ quan chủ quản, với đồng nghiệp, với nghề CTXH, và với xã hội (xem phụ bản A).

Đối với CTXH, trong khu vực CTXH công, trách nhiệm chuyên nghiệp quan trọng vì công chúng là những người đóng thuế để chính phủ có tiền tổ chức mạng lưới cung cấp dịch vụ xã hội, và vì thế có quyền được biết tiền thuế do họ đóng góp đã được chi tiêu như thế nào, hiệu quả hay không và tại sao. Trong khu vực CTXH tư, số tiền liên quan có thể là tài trợ từ ngân sách Nhà Nước, từ các tổ chức từ thiện tư nhân, hoặc từ lệ phí do người tiêu dùng trực tiếp trả cho cơ quan hay cá nhân nhân viên CTXH. Trong một số trường hợp, tài chính của cơ quan CTXH bao gồm cả ba phần thuế, tài trợ tư và phí tư nhân. Dù bất cứ có nguồn gốc tài chính nào, cơ quan CTXH cũng phải có trách nhiệm chuyên nghiệp đối với khách hàng, nghĩa là dịch vụ cung cấp phải công bằng, không phân biệt đối xử đối với khách hàng, và được cung cấp bởi những nhân viên có trình độ chuyên môn nhất định đúng theo quy định của luật pháp.

Trách nhiệm nghề nghiệp khác với trách nhiệm thông thường/responsibility. Trách nhiệm nghề nghiệp là trách nhiệm với những đối tượng cụ thể và chế tài cụ thể nếu để xảy ra sai phạm. Trách nhiệm nghề nghiệp là điều không thể thiếu trong tất cả các tổ chức xã hội, và được áp dụng cho tất cả mọi người làm việc, từ người thợ trong phân xưởng sản xuất đến tổng giám đốc công ty; từ nhân viên thấp nhất trong guồng máy hành chánh đến cấp lãnh đạo cao nhất của một quốc gia. Trách nhiệm nghề nghiệp vô cùng quan trọng vì nó giúp mọi người làm việc nghiêm túc, có thể nói nơi nào trách nhiệm nghề nghiệp không được thi hành một cách thẳng thắn và rốt ráo, nơi đó sẽ xảy ra lạm quyền, tham nhũng, thối nát.

Trong CTXH, nhân viên CTXH có trách nhiệm nghề nghiệp với khách hàng, với cơ quan thuê mướn, với tổ chức tự quản của nghề CTXH, và với luật pháp. Vi phạm trách nghiệp nghề nghiệp xảy ra khi nhân viên CTXH có hành vi sơ sót hay sai quấy gây thiệt hại cho khách hàng. Sau đây là một số vi phạm trách nhiệm nghề nghiệp có thể xảy ra:

1. Để lộ thông tin về khách hàng

Bảo mật/confidentiality là một trong những nền tảng cho mối quan hệ nghề nghiệp giữa khách hàng và nhân viên CTXH, thiếu nó sẽ không có sự tin cậy và CTXH sẽ không thể tồn tại. Tất cả các thông tin liên quan đến mối quan hệ nghề nghiệp giữa khách hàng và nhân viên CTXH đều phải được giữ kín, hồ sơ khách hàng phải được lưu trữ thế nào để những người không liên quan không thể chạm đến. Thông tin chỉ được tiết lộ khi có giấy cho phép của khách hàng, khi có trát đòi của toà án, và khi sự tiết lộ thông tin cần thiết cho an toàn của khách hàng, của người khác hay của xã hội. Thí dụ khi khách hàng tiết lộ họ đang bị hành hạ ngược đãi về thể chất hay về tình dục, nhân viên CTXH phải thông báo cho cơ quan xã hội liên hệ (sở Bảo Vệ Người Già, sở Bảo Vệ Trẻ Em, cơ quan công an…) dù khách hàng không muốn. Trách nhiệm bảo mật này, và những ngoại lệ, phải được thông báo cho khách hàng bằng văn bản, với chữ ký của khách hàng ngay từ đầu và lưu trong hồ sơ khách hàng.

2. Thiếu sót trong công việc

Thí dụ khách hàng có nhu cầu và cộng đồng có nguồn tài nguyên liên hệ, nhưng nhân viên CTXH không giới thiệu, gây thiệt hại cho khách hàng. Thí dụ khách hàng chỉ biết dạy con bằng cách đánh đập nhưng nhân viên CTXH không giới thiệu đến lớp huấn luyện nghệ thuật làm cha mẹ do hội phụ nữ địa phương tổ chức, để cho tình trạng đánh đập con cái tiếp diễn. Điều cần lưu ý ở đây là cho dù biết trước khách hàng sẽ không hợp tác, nhân viên CTXH vẫn phải giới thiệu các dịch vụ cần thiết và ghi trong hồ sơ. Khách hàng có quyền tự quyết và chịu hậu quả do quyết định của họ gây ra (thí dụ không được toà án trả con).

3. Lợi dụng khách hàng

Trong CTXH, nhân viên CTXH có thể giúp khách hàng đạt được những kết quả rất tốt đẹp. Sai trái sẽ xảy ra khi nhân viên CTXH đặt điều kiện, và nhận quà cáp, hối lộ, trao đổi (tôi giúp anh xin được trợ cấp X., anh sửa xe cho tôi miễn phí…) từ khách hàng để giúp khách hàng đạt được điều thuận lợi nào đó.

4. Quan hệ bất chính với khách hàng

Rủi ro này dễ xảy ra trong lĩnh vực cố vấn tâm lý. Ở lĩnh vực này quan hệ giữa nhân viên CTXH (tư vấn tâm lý) và khách hàng là quan hệ rất gần gũi và bất bình đẳng. Nhân viên CTXH giỏi là người có uy tín, kiến thức, hiểu rõ và luôn luôn tôn trọng khách hàng, giúp khách hàng phục hồi và thăng tiến những ưu điểm của mình để vươn lên. Những đặc tính này rất gần với đặc tính của một người yêu lý tưởng. Bên cạnh con người lý tưởng này là khách hàng có những vấn đề khúc mắc, đổ vỡ, cô đơn, đau khổ… Vì vậy tình trạng khách hàng, qua quá trình làm việc gần gũi, phát sinh tình cảm quyến luyến đối với nhân viên CTXH, rất dễ xảy ra. Trong thực tế rất nhiều khách hàng trải qua đổ vỡ luôn khao khát một người yêu lý tưởng đã không đạt được trong tuổi dậy thì. Đến khi gặp người cố vấn tâm lý thì phóng chiếu những tình cảm trong quá khứ vào hiện tại, và coi người cố vấn như người yêu lý tưởng. Freud gọi hiện tượng này là “phóng chiếu”/transference, hiện tượng này giúp người cố vấn phát hiện được những uẩn khúc, những vết thương tinh thần trong quá khứ của khách hàng; tức là những nguyên nhân làm cho khách hàng đau khổ, thất bại, không hạnh phúc; từ đó giúp được khách hàng phân biệt quá khứ với hiện tại và lành được vết thương. “Phản phóng chiếu”/counter transference là cảm xúc của nhân viên CTXH đối với khách hàng bắt nguồn từ những nhu cầu không được thỏa mãn trong quá khứ. Phóng chiếu và phản phóng chiếu có thể là những cảm xúc tích cực hoặc tiêu cực. Thí dụ khách hàng ghét cố vấn tâm lý vì cố vấn tâm lý giống hệt ông bố nghiêm khắc đã từng hành hạ, đánh đập mẹ của khách hàng. Hoặc cố vấn tâm lý yêu khách hàng vì khách hàng có đôi mắt buồn tha thiết  y như đôi mắt của người yêu xưa đã lên xe hoa từ 20 năm trước… Phóng chiếu có thể có lợi cho công việc chuyên môn của nhân viên CTXH, phản phóng chiếu luôn có hại và là điều nhân viên CTXH phải hết sức chú ý để tự cảnh giác, không để những ẩn ức trong quá khứ của mình ảnh hưởng đến mối quan hệ chuyên nghiệp với khách hàng. Sai phạm nghiêm trọng về trách nhiệm nghề nghiệp sẽ xảy ra khi nhân viên CTXH có quan hệ bất chính, thí dụ quan hệ tình dục với khách hàng.

5. Hậu quả của sai phạm về trách nhiệm nghề nghiệp

Ở những nước có ngành CTXH phát triển như Mỹ, sai phạm về trách nhiệm nghề nghiệp có thể dẫn đến sa thải, mất chứng chỉ hành nghề (đối với cố vấn tâm lý), và truy tố trước toà án. Cơ quan thuê mướn người vi phạm trách nhiệm nghề nghiệp cũng có thể bị khách hàng nạn nhân thưa ra toà để đòi bồi thường thiệt hại.

V. KHẢ NĂNG LÀM VIỆC TRONG NHÓM

Giải quyết vấn nạn của khách hàng nhiều khi đòi hỏi sự đóng góp của nhiều người, nhiều nguồn tài nguyên khác nhau. Vì vậy nhân viên CTXH phải có kiến thức rộng về tất cả các tài nguyên có thể vận dụng để giới thiệu cho khách hàng, từ đó sẽ hình thành một nhóm những người cùng làm chung công việc giúp đỡ khách hàng. Những người này có thể là thân nhân của khách hàng, hoặc những người giúp đỡ chuyên môn thuộc nhiều ngành nghề khác nhau, thí dụ nhân viên CTXH, y tá, bác sĩ, người bảo hộ cho bệnh nhân tâm thần, người giám hộ cho trẻ em, thân nhân của khách hàng… Thành viên của nhóm có thể là những nhân viên của một cơ quan hoặc nhiều cơ quan khác nhau và được hình thành để phối hợp công việc giúp đỡ, chia xẻ khó khăn và tiến triển của khách hàng để điều chỉnh chương trình làm việc của riêng từng thành viên và của toàn nhóm. Tùy theo trường hợp, bản thân khách hàng cũng có thể là một thành viên của nhóm giúp đỡ. Sau đây là một thí dụ:

Nhóm những người giúp đỡ chuyên nghiệp họp tại các bệnh viện tâm thần ở Mỹ, gồm: đại diện bệnh viện tâm thần (bác sĩ, y tá, nhân viên CTXH trong bệnh viện), đại diện cơ quan bảo hộ thuộc Nha Xã Hội địa phương (nhân viên bảo hộ), đại diện cơ quan y tế ngoại chẩn cộng đồng (nhân viên CTXH), thân nhân bệnh nhân. Các buổi họp này do nhân viên CTXH trong bệnh viện triệu tập trước khi cho bệnh nhân xuất viện, để thảo luận và quyết định những vấn đề sau:

–     Bệnh nhân đã tiến triển như thế nào, khi nào có thể xuất viện.

–     Những việc cơ quan y tế ngoại chẩn, người bảo hộ và thân nhân có thể làm để bảo đảm bệnh nhân xuất viện sẽ có chỗ ăn ở, được gặp bác sĩ ngoại chẩn định kỳ và nhận thuốc men cần thiết, được giúp làm đơn xin hoặc nhận lại tiền cấp dưỡng hàng tháng dành cho người tật nguyền không có khả năng đi làm (khi bệnh nhân nhập viện số tiền này, khoảng 875 mỹ kim một tháng ở hạt Santa Clara, California, vào năm 2008, sẽ được Nhà Nước trừ vào chi phí bệnh viện và bệnh nhân không được lãnh đồng nào).

Do luôn luôn phải làm việc với nhiều người trong nhóm giúp đỡ, nhân viên CTXH phải có kiến thức và kỹ năng nhóm. Kiến thức bao gồm kiến thức tổng quát về các ngành nghề liên quan đến CTXH, kiến thức về các quá trình nhóm (hình thành, sinh hoạt, giải tán). Kỹ năng nhóm bao gồm kỹ năng thực hiện và thúc đẩy quá trình nhóm, kỹ năng hướng dẫn thảo luận, kỹ năng hoà giải mâu thuẫn, kỹ năng tạo lập và duy trì các mối quan hệ hợp tác thân thiện giữa các thành viên… Kỹ năng nhóm giúp nhân viên CTXH hoàn thành được nhiệm vụ của mình nghĩa là giúp khách hàng đạt được những mục tiêu đã đề ra.

(Trích từ Tập tài liêu: Công tác xã hội-Lý thuyết và thực hành, TrầnĐình Tuấn)

"Lý thuyết nhân loại học"

Anthropologie là môn học tổng hợp có tính liên ngành nghiên cứu nguồn gốc và quá trình phát triển của con người. Đối tượng của Anthropologie rất rộng rãi và được phân chia ra nhiều ngành rất khác nhau tùy theo từng nước. Có thể chia ra làm hai ngành, một là Anthropologie physique là nhân học hình thể nghiên cứu về phương diện tự nhiên (Nhân học, Nhân chủng học, Raciologie, …). Về phần xã hội, theo phương pháp Anglo-Saxons là Nhân loại học văn hóa (Anthropologie culturelle). Ở các nước khác như Liên Xô phân ra nhiều ngành nhỏ khác nhau.

Ban đầu, vào đầu thế kỷ 18, Anthropologie chịu ảnh hưởng của thuyết Tiến hóa luận với Charles Darwin và Herbert Spencer, tiếp theo là Lewis Henry Morgan và Friedrich Engels. Ở Liên Xô, Anthropologie theo thuyết Karl Marx và Friedrich Engles. Đến thế kỷ 20, có nhiều nhà lý luận với những góc độ khác nhau như trường phái Chức năng, Xã hội học, Sinh Tâm lý học … Tư tưởng Karl Marx nổi trội lên không chỉ ở thế giới Xã hội chủ nghĩa mà còn ảnh hưởng đến các tác giả của thế giới phương Tây. Những tác giả nội dung ảnh hưởng tư tưởng Marx, nhưng cũng có những tác giả không trích dẫn, còn tác giả khác thì nói rõ ra (Xem chú giải trong sách này).

Tôi ủng hộ quan điểm của các dịch giả nên dùng chữ Nhân loại học mà không nên dùng chữ Nhân học vì con người phải hiểu là con người xã hội. Anthropologie nghiên cứu những mối quan hệ giữa các cộng đồng người khác nhau (tộc người, dân tộc, mẫu hệ, phụ hệ, tôn giáo, tín ngưỡng, …).

Ở nước ta, trước khi đổi mới, chỉ có bộ môn Dân tộc học và Nhân loại học hình thể. Gần đây với thời kỳ đổi mới có chủ trương mở rộng thành Nhân học. Những quan điểm của Liên Xô đã được các nhà nghiên cứu trong nước thấm nhuần. Các lý thuyết về Nhân loại học của các nước Âu Mỹ mới được tìm hiểu vài năm gần đây. Cho nên việc dịch lý thuyết Nhân loại học của Liên Xô, tức là theo quan điểm Marx-Lénine, thì cần giới thiệu lý thuyết của phương Tây. Vì thế cuốn sách dịch của nhóm Lê Sơn Phương Ngọc và Đinh Hồng Phúc cùng một số đồng nghiệp: Tuyển tập lý thuyết Nhân loại học của R.Jon Mcgee – Richard L. Warms là một trong những cuốn sách mà chúng ta cần đến. Vốn lý thuyết rất trừu tượng lại được hiểu rất khác nhau nên ta xem cuốn sách này như một cuốn sách tham khảo cho việc học tập ở đại học và trên đại học.

Xin trân trọng giới thiệu bản dịch của Tiến sĩ Lê Sơn (Lê Sơn Phương Ngọc) và Đinh Hồng Phúc. Các tác giả đã đánh vật một cách công phu và khó khăn vì phải suy nghĩ tìm hiểu những từ mới để chuyển tải ý tưởng của các tác giả nước ngoài ra tiếng Việt.

Xin trân trọng giới thiệu với độc giả cuốn sách đồ sộ này.

Tp. Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2009

GS. Đặng Nghiêm Vạn

Nguồn: doxa.com.vn

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.