Khách thể và chủ thể của Công tác xã hội

Từ ngữ ‘khách thể” được dùng trong phân tích mối liên hệ cụ thể 2 bên, mô tả quan hệ thống nhất về nhận thức và hoạt động. Trong quan hệ cụ thể này, bên thực hiện sự nhận biết hoặc hoạt động thì gọi là ‘chủ thể”, còn bên nhận sự nhận biết hoặc hoạt động hướng tới thì gọi là “khách thể”. Khái niệm về chủ thể của công tác xã hội có rất nhiều mặt, và sẽ được phân tích sau.

Các quan hệ chủ thể – khách thể có sự vận động. Điều mà về một mặt là khách thể, thì trong nhận thức hoặc hoạt động khác lại có thể trở thành chủ thể và ngược lại. Ngoài ra, trong lĩnh vực hoạt động giao tiếp có hàng loạt quan hệ có thể hiểu như là quan hệ chủ thể- khách thể mà trong đó cả hai bên đều là yếu tố tích cực hoạt động và nhận thức, và ảnh hưởng lẫn nhau. Chính công tác xã hội có liên quan đến những lĩnh vực hoạt động xã hội này.

Sự hình thành công tác xã hội nghề nghiệp ở nước Nga đi kèm với việc nghiên cứu bộ máy tìm hiểu các khoa học chuyên nghiên cứu về công tác xã hội và mô tả thực tiễn của công tác này.

Trong số những định nghĩa còn đang tranh cãi có vấn đề sau đang được tranh luận: phải gọi người được giúp đỡ là như thế nào đây? Trong y học, nhân vật như thế được gọi là “bệnh nhân”. Trong tư pháp là “người bị hại” có từ Nga đồng nghĩa với từ Latin là “patien”, hoặc “bên nguyên”, trên thực tế là người tìm kiếm sự giúp đỡ. Tuy nhiên những từ ngữ này chỉ mô tả một phía chịu đựng trong tình huống của nhân vật cần sự hỗ trợ. Tất nhiên, người đó đã chịu tổn thất, đau đớn, ở trong trạng thái khó khăn trong đời sống, nhưng trong những trường hợp, khi người đó có tính chủ thể cá nhân, nghĩa là ở mức độ mà nguồn trí lực, thể lực, tinh thần và đạo đức cho phép thì anh ta tự tham gia giải quyết vấn đề của bản thân mình.

Rõ ràng, đứa trẻ nhỏ, người lớn nào do tình trạng trí lực và tinh thần có những đặc điểm bẩm sinh hoặc do tuổi tác mà không có khả năng hiều được xung quanh, kiểm tra được tác phong và hành động của mình, thì cần được chú ý đến bề ngoài, cần được giúp đỡ, được người khác chăm sóc. Nếu cũng cá nhân đó mà duy trì được sự tự nhận biết tuy không đầy đủ, nếu dù ở trạng thái bị hạn chế, mà có sự hướng dẫn chỉ đạo của những người khác lại tham gia vào hoạt động nhằm khắc phục khó khăn, thì lúc đó họ quyền được hoạt động với cán bộ xã hội, không phải là người bị động tiếp nhận sự giúp đỡ, mà là nhân tố tích cực biến đổi các tình huống đời sống riêng của mình. Do đó có ý kiến cho rằng, “cần gọi những người được sự giúp đỡ của người cán bộ xã hội là khách hàng”. Khách hàng có thể là một cá nhân hoặc một nhóm (như gia đình, lớp học, nhóm người tàn tật, tập thể lao động .v.v). Những đặc điểm chính xác hơn của khách hàng được xác định bởi mức trình độ tổ chức công tác xã hội.

Vì người cán bộ bất kỳ trình độ nào vẫn luôn là mặt tích cực, nên có thể nói về điểm, hoạt động của họ hướng về điều gì, không tuỳ thuộc vào điểm nó có nhận được câu trả lời tích cực không, hay mọi người chỉ tiếp nhận vấn đề một cách bị động? Trong ý nghĩa này, khách thể của công tác xã hội là các cá nhân, các gia đình, các nhóm, các tập thể đang ở trong tình trong tình thế đời sống khó khăn. Tình thế đời sống khó khăn là tình thế đang vi phạm hoặc đe doạ vi phạm khả năng hoạt động xã hội bình thường của các khách thể nói trên. Cũng cần bổ sung thêm là không cần sự giúp đỡ của bên ngoài, các cá thể tự khắc phục tình huống trên.

Khi nói về công tác xã hội, ở người kém hiểu biết xuất hiện ngay một khái niệm về người cán bộ đeo túi đi cung cấp thực phẩm cho những người tàn tật và người gìa cô đơn. Trong số các khách hàng của công tác xã hội, người ta cũng phân ngay riêng những người ít của và người nghèo. Tuy nhiên, mặc dù cuộc đấu tranh chống nghèo đói được coi là “tiền định gia tộc” của công tác xã hội, nhưng ta không có một cơ sở nào để chỉ hạn chế nó bằng một số người như đã nói trên.

Rất tiếc, trong cuộc sống xảy ra bất hạnh, bệnh tật, tai nạn, có thể đưa một con người đang bình yên, một gia đình, một nhóm người trong xã hội vào số những người không may cần sự giúp đỡ của bên ngoài. Các vấn đề gia đình, các quan hệ không ổn định giữa vợ- chồng hoặc giữa cha mẹ- con cái có thể xuất hiện trong bất kỳ một gia đình nào, không phụ thuộc vào tình trạng xã hội và điều kiện vật chất. Các vấn đề thiếu niên trong thời kỳ tuổi dậy thì hoặc vấn đề của người có tuổi trên thực tế là những vấn đề không thể tránh khỏi, và các đối tượng nhân dân này, kể cả người thân của họ đều có cần sự giúp đỡ để giải quyết. Vì thế, trên toàn thế giới đã từ lâu người ta nhận thức được rằng, công tác xã hội cần cho mọi tầng lớp, mọi nhóm và cá nhân, mặc dù có một số cần một cách tiềm ẩn, và những người khác thì cần một cách cấp thiết. Có thể so sánh công tác xã hội như cái ô, mà ô có thể cụp lại trước thời gian, nhưng vào một giây phút cần thiết thì ô bảo vệ các cá nhân khỏi bị các tác động không tốt đang bị đe doạ.

ở nước Nga đã có đủ những điều kiện ít gặp mà trên thực tế đã loại trừ khái niệm “nhóm xã hội may mắn” ra khỏi nếp sống. Những tầng lớp dân mà ở những nước khác được xếp vào tầng lớp phong lưu, bảo đảm sự may mắn (như công chức nhà nước, bác sĩ, nhà giáo, tri thức khoa học, sĩ quan, cán bộ các cơ quan quốc phòng.v.v), thì ở Nga thường được xếp vào những đối tượng ít được bảo đảm, nếu như không nói là đối tượng nghèo. Người có công việc, ngưòi nhiều việc trong những điều kiện khác bảo đảm sự no đủ cho chính người cán bộ và gia đình họ với mức dư dật tối thiểu. Tuy nhiên, ở nước Nga, ngay cả nếu các cơ quan xí nghiệp hoạt động thành đạt, nếu sản phẩm của họ đáp ứng nhu cầu, nếu như lương bổng được trả đúng hạn (mỗi tình huống trong đó còn chưa là bắt buộc), thì mức trả công lao động trong đa số các trường hợp không bảo đảm nuôi sống gia đình người làm việc. Trong giá cả tiền lương không tính đến những chi phí cần thiết về phát triển văn hoá – xã hội và trong đó cũng không có tiền thuộc diện tích ở tối thiểu và chi phí nuôi con.

Tình hình khủng hoảng kéo dài, triển vọng phát triển không rõ ràng dân tình mệt mỏi, hệ thống gía trị đạo đức – luân lý suy đồi và thiếu vắng một hệ thống mới được công nhận- mọi điều nêu trên dẫn tới tình trạng ngày càng có nhiều người cần đến sự hỗ trợ về mặt tâm lý. Cơ cấu các mặt luật pháp- dân sự trở nên phức tạp. Xuất hiện nhiều văn bản pháp quy mâu thuẫn với những văn bản đã có trước đó hoặc mâu thuẫn với nhau, và làm tăng nhu cầu về tham vấn pháp chế. Nhu cầu cấn được hỗ trợ trong điều kiện thất nghiệp hoặc đe doạ thất nghiệp, cần sự giúp đỡ có việc làm và tự lo cho bản thân- đã làm tăng vai trò của các ngành xã hội chuyên giúp đỡ trong lĩnh vực này. Toàn bộ những điều kiện của nước Nga, nhu cầu về công tác xã hội là rất cần thiết và là nhu cầu chung.

Vậy, các cán bộ xã hội giúp đỡ cho ai đây? Bản danh sách các khách hàng ở mức độ rõ rệt phản ánh ngắn gọn nhưng đầy đủ một lịch sử phát triển loại hoạt động này. Công tác xã hội nhằm vào cá nhân. Sự giúp đỡ không chỉ nhằm vào tầng lớp xã hội, vào cộng đồng trên lãnh thổ, mỗi đại diện của những khối quần chúng lớn, từng người riêng biệt đều có quyền hưởng hạnh phúc, may mắn và phát triển năng lực của các cá nhân, tuy nhiên sau đó đã rõ là: ý định thay đổi tình huống và tác phong cuả cá nhân khách hàng ít khi có hiệu quả, nếu không gây tác động tới hoàn cảnh xung quanh trực tiếp của họ, tới mạng lưới xã hội mà họ được cuốn hút vào. Điều này dẫn đến việc hình thành công tác xã hội của gia đình và của nhóm. Không thể gây tác động tới gia đình nếu không có tác động tới từng thành viên của gia đình, sẽ làm thay đổi sự căng thẳng giữa các quan hệ qua lại trong gia đình, làm biến thể các giao tiếp của gia đình.v.v. Cũng có thể nói về công tác xã hội với nhóm dân. Khó đánh gía được ảnh hưởng của môi trường trực tiếp ở xung quanh, nhất là khi nói về thiếu niên và thanh niên, về những người đã được khẳng định, người bị phụ thuộc và có tính cách không ổn định. Tiếp đó công việc này đòi hỏi phải giải quyết những vấn đề có môi trường rộng lớn – toàn bộ dân cư của một địa điểm, nơi có cá nhân sinh sống, có nhóm dân hoặc gia đình trú ngụ. Quan điểm tương tự đưa đến sự cần thiết phải lưu ý tới công tác xã hội của xã, công xã.

Trong tiếng Nga, rất tiếc có từ “xã” và “công xã” được nghĩ đến một cách nặng nề, làm khó sử dụng trong công tác xã hội. Tựu trung lại trong quan niệm của các nhà lý luận và thực hành có một tập hợp dân chúng của một địa điểm dân cư hoặc một vùng dân cư nhất định có trình độ lớn về quản và có hàng loạt quyền lợi chung trong việc bảo vệ và tổ chức địa điểm, bảo đảm các nhu cầu của người lớn và trẻ em trong giáo dục, phục vụ xã hội, trong phát triển văn hoá và thể thao. Có nhận xét rằng, trình độ văn hoá và quy chế xã hội của dân cư các đơn vị lãnh thổ càng cao, thì mức độ tham gia công việc ở xã và công xã càng cao.

Dân chúng ở các vùng bị trì trệ bởi những khó khăn trong xã hội, nơi có những người nghèo, người thất nghiệp luôn bị động, thờ ơ với những công việc tại khu dân cư của mình.

ở nước Nga hệ thống tự quản địa phương đã tồn tại trước kia, nhiều lần đã xoá bỏ và thay bằng cách quản lý hành chính trực tiếp. Việc nghiên cứu các phương án khác nhau bao gồm công xã nông nghiệp trước cải cách, các cuộc đổi mới của vua Piôtrơ I, hoạt động của hội đồng tự quản địa phương cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, kinh nghiệm của chính quyền Xô viết-chứng tỏ, trong kinh nghiệm quá khứ có nhiều cơ chế luật pháp và chính trị-xã hội qúy giá mà nếu sử dụng chúng có thể giúp cải thiện được đời sống. Kết luận chủ yếu là nếu không sử dụng tiềm năng của việc tự quản địa phương thì không thể thực hiện được hoạt động chức năng của cơ quan xã hội tại nơi dân cư. Chính một tập hợp ý chí và trí tuệ của nhân dân địa phương có khả năng kiểm tra chính quyền, tham nhũng và tính vô hiệu quả, kích thích chính quyền hoạt động tích cực và hợp lý hơn.Vì thế có thể tiên đoán một cách có hiệu quả rằng, củng cố việc tự quản ở địa phương là một việc không thể tránh khỏi, và trong khuôn khổ của nó công tác xã hội của công xã được hình thành và không thể thiếu việc cải tiến trong phạm vi toàn xã hội. Vì thế chúng ta có quyền nói rằng, cũng tồn tại công tác xã hội với mức toàn xã hội.

Các vấn đề xã hội của những người được cán bộ xã hội giúp đỡ cũng phụ thuộc vào điều họ thuộc nhóm dân số – xã hội nào. Thí dụ; những khó khăn đặc biệt thường gặp ở những người có tuổi và người già. Rõ ràng khả năng chống chọi với những khó khăn đó khác nhau ở người giàu có hoặc người nghèo, ở người được gia đình chăm sóc hoặc người cô đơn, tuy nhiên những thay đổi về sinh lý học và xã hội theo lứa tuổi thì trải đều cho mọi người. Theo truyền thống, phụ nữ và trẻ em thường được phân thành các loại khách hàng đặc biệt của công tác xã hội, vì những tình huống khách quan trong địa vị của họ tạo ra sự đe doạ có nguy cơ xã hội.

Trẻ em yếu đuối không tự lực được và bị phụ thuộc làm tăng nhu cầu của các em cần sự giúp đỡ và tăng nguy cơ trở thành nạn nhân của người lớn. Phụ nữ có khả năng thực hiện chức năng tái sinh sản của mình, thì cũng nằm trong tình trạng dễ bị tổn thương. Đối với chúng ta ngày nay vẫn chưa quen với ý nghĩ cho rằng, những người đàn ông là loại dân số-xã hội thường gặp phải những khó khăn đặc biệt do chính họ thuộc nam giới và họ đặc biệt cần sự giúp đỡ. Chính vì thế các vấn đề bệnh học nam giới (trước hết là y học và y học xã hội đang bắt đầu được nghiên cứu riêng để giúp đỡ chuyên khoa cho đàn ông.

Cũng thống nhất việc tách riêng loại khách hàng là những người có những vấn đề đặc biệt. Thực chất, biểu hiện và nhu cầu cần sự can thiệp ở những người nói trên trước hết phụ thuộc vào điều, những đặc điểm gì, những vấn đề gì gây khó khăn cho hoạt động sống của họ. Như những người tàn tật hoặc những người có khả năng bị hạn chế- họ cần sự giúp đỡ đặc biệt của phía nhà nước, vì khả năng thể lực, hoặc tinh thần trí lực của họ, gây khó khăn cho chính sách xã hội bình thường của họ trong xã hội. Vì thế cần làm cho kiến trúc và vận tải thích nghi đối với người tàn tật bị hạn chế khả năng đi lại, tạo điều kiện lao động và điều kiện sống an toàn cho những người không hoàn toàn kiểm tra được hành vi của mình, bảo đảm việc kiểm tra và chăm sóc đối với những người không tự quản lý được hoạt động sống của bản thân, và dành mọi nỗ lực để đưa người tàn tật vào xã hội.

Tuy nhiên, ngoài những người tàn tật ra, thì ở những người thất nghiệp, những người tham gia các hoạt động chiến đấu và giờ đây bị hội chứng stress sau chấn thương, ở các gia đình đông con và những bậc cha mẹ có con gặp khó khăn trong học tập cũng có những nhu cầu đặc biệt.

Mọi loại đối tượng này đều cần những hình thức giúp đỡ đặc biệt và sự hỗ trợ của cán bộ các chuyên khoa khác nhau. Tất nhiên, trong những biểu hiện của chúng ta, thì còn ngây thơ nếu ta trông đợi các cán bộ xã hội sẽ giúp đỡ trong việc thỏa mãn một số nhu cầu chuyên môn, đặc biệt, kể cả những nhu cầu kỳ dị. Như đại diện của một số ngành dịch vụ xã hội của Hoa kỳ đã làm. Họ cho rằng, người ta tạo điều kiện cho sự công bằng xã hội và giúp đỡ cho các cô gái của các gia đình nghèo chuẩn bị thi sắc đẹp, trong khi các cô gái của các gia đình giàu có chi phí một số tiền lớn của cha mẹ vào việc này. Tuy nhiên, sự tính đến những nhu cầu đặc biệt này trong công tác xã hội là cần thiết.

Như vậy, chúng ta có thể nêu kết luận, công tác xã hội được tiến hành ở mức độ từng cá nhân, từng gia đình, nhóm, cộng đồng người hợp nhất lại hoặc trong giới hạn của toàn xã hội. Tuy nhiên, trong khi giúp đỡ, người cán bộ xã hội cần biết sự giúp đỡ đó nhằm vào điều gì, anh ta muốn đạt được gì trong quá trình hoạt động của mình, mục đích của anh ta là gì và anh ta quan niệm thế nào là kết quả lý tưởng của công việc mình làm. Vấn đề này cũng là đề tài của những cuộc tranh luận nghiêm túc có liên quan đến khuôn khổ thẩm quyền và giới hạn khả năng của hình thức hoạt động này.

Cần thừa nhận rằng, không phải chỉ người cán bộ xã hội, mà toàn bộ quy định của công tác xã hội, toàn bộ hệ thống xã hội của nhà nước, mà ngay cả ở mức độ kiến thức hiện đại của chúng ta và toàn bộ nhân loại nói chung đều không thể tác động tới hàng loạt nguyên nhân, điều kiện và tình huống làm phức tạp tình trạng của khách hàng. Thí dụ; loại trừ hoàn toàn những nguyên nhân gây tàn tật bẩm sinh hoặc mắc phải, hoặc bổ khuyết những khuyết tật đã làm hạn chế khả năng của người tàn tật- giờ đây là việc không thể nào làm được. Những thành tựu của nền văn minh như: phát triển ngành y tế, sự xuất hiện những hình thức tiên lượng di truyền mới và chuẩn đoán trước khi sinh, hoàn thiện phục vụ y tế, cải thiện điều kiện lao động và sinh hoạt- đã loại trừ được một số nguyên nhân gây tàn tật, tuy nhiên thay vào đó lại có những nguyên nhân khác mà ở mức độ đáng kể cũng do chính những thành tựu đó của nền văn minh gây ra, vì thế tổng số những người tàn tật vẫn tăng lên. Người cán bộ xã hội có thể lường trước được là không có khả năng loại trừ nguyên nhân làm cho cá nhân trở thành người tàn tật không? Chỉ có thể giúp đỡ cho cá nhân đạt mức liên kết tối đa với xã hội trong những hoàn cảnh sống hiện thực và có sức khoẻ.

Rõ ràng, sự nghèo khổ là vệ tinh không thể tránh khỏi của một xã hội hiện đại vì nguyên nhân không phải chỉ là thiếu sức khoẻ, cá tính, tính cách, trí lực và tinh thần, không chỉ là xu hướng sinh đẻ không hiện đại gây ra cảnh đông con, quan điểm thuê nhân công vị kỷ (kể cả nhà nước), mà còn do thiếu hụt chung nguồn lực trên phạm vi thế giới. Người cán bộ xã hội không thể loại trừ được sự nghèo khổ, mà có thể tác động nhằm loại trừ những hậu quả tồi tệ hơn cả của nó để không trở thành gia sản của gia đình khách hàng: hỗ trợ trong việc bảo đảm dinh dưỡng no đủ, giúp đỡ việc học tập và đồng thời tạo vận hội để các con em người nghèo có sự khởi đầu suôn sẻ về mặt xã hội vì cha mẹ các em không thể dành cho các em, những khả năng này như các trẻ em trong gia đình dư dật và giàu có, bảo đảm việc phục vụ y tế- trước hết cho các phụ nữ và trẻ em. Có nhiều vấn đề xã hội như thế mà các cán bộ xã hội cần thường xuyên giải quyết trong hoạt động của mình, nhưng họ không thể giải quyết được toàn bộ và hoàn toàn những vấn đề đó.

Không thể nào giải quyết được triệt để các vấn đề xã hội như tàn tật, nghèo khổ, kỳ thị chủng tộc và dân tộc, nhưng cần phải giải quyết chúng kiên trì, nhiều lần đối với từng cá nhân hoặc gia đình gặp khó khăn trong các vấn đề đó. Vì thế, khi giúp đỡ về mặt xã hội cho khách hàng, ngưòi cán bộ xã hội trước hết có công việc với tình huống xã hội của họ. Tình huống xã hội là tình hình cụ thể của vấn đề của một khách hàng cụ thể trong công tác xã hội, của một cá nhân hoặc của một nhóm người, với toàn bộ sự phong phú của các mối liên hệ và quan hệ gián tiếp có liên quan đến việc giải quyết vấn đề đó.

Tình huống xã hội của khách hàng là đối tượng của công tác xã hội, là môi trường trực tiếp để người cán bộ xã hội thể hiện sự nỗ lực. Mục đích hoạt động của họ là cải thiện tình huống xã hội cho khách hàng, ngăn ngừa cho tình huống khỏi xấu đi, và làm dễ dàng – giảm nhẹ sự lo lắng chủ quan của khách hàng về tình cảnh của mình. Có thể nói rằng, trong điều kiện sản xuất sút kém và thất nghiệp hàng loạt, thì việc giúp đỡ cho các cá nhân tìm một chỗ làm mới không phải là đơn giản. Nhưng hỗ trợ cho họ về mặt tâm lý xã hội, kéo họ ra khỏi những phản ứng xấu của cá nhân đối với nạn thất nghiệp là điều có thể làm được. Ngoài ra các thành viên của hiệp hội tự nguyện “vợ của những người nghiện rượu” khi đã thừa nhận là không thể cứu chồng mình khỏi nạn rượu chè tai hại thì họ coi mục đích tham gia vào công việc chung là một điều hạnh phúc.

Khái niệm về tình huống xã hội là một phương tiện phương pháp luận cho phép giải quyết được những mối liên hệ và tác động qua lại có liên quan trực tiếp đến vấn đề xã hội của khách hàng, và nếu đả động tới chúng có thể làm ảnh hưởng tới việc giải quyết các vấn đề xã hội. Ta có thể tuyên bố một cách dễ dàng rằng, nhân loại đã không thể đấu tranh chống nạn nghiện rượu trong toàn bộ lịch sử phát triển lâu dài của mình và trên cơ sở đó từ chối việc tìm kiếm cách giúp đỡ cho một khách hàng cụ thể nghiện rượu và gia đình họ. Có thể, khi sử dụng không hợp lý nguyên lý biện chứng về mối liên hệ tổng thể của các hiện tượng, bắt đầu phân tích hoạt động sống của người nghiện rượu cụ thể từ những vấn đề toàn cầu và chờ đợi để giải quyết chúng với mức độ nguồn lực mà cho đến ngày hôm nay vẫn chưa đạt được. Không phủ nhận các mối liên hệ chung, toàn cấu của cá nhân với thế giới, khái niệm về tình huống xã hội cho phép ta trong những điều kiện đặc biệt và trước tiên sẽ dứt điểm được sự việc ảnh hưởng trực tiếp tới việc giải quyết vấn đề của cá nhân, và nằm trong giới hạn tác động và quy mô của công tác xã hội. Việc phân tích những mối liên hệ trực tiếp sẽ phát hiện được những nguyên nhân tâm lý, gia đình, nhóm người, y tế và những nguyên nhân khác khiến cá nhân nghiện rượu, giúp tìm ra chỗ dựa trong cá nhân con người đó để có động cơ chắc chắn mà dứt điểm.

(Đây là một phần của chương II trong cuốn sách “Công tác xã hội” bằng tiếng Nga do nhà xuất bản Matxcova phát hành năm 1999. Mạng Thông tin Công tác xã hội sưu tâm và xin trân trọng giới thiệu)

Advertisements

Công tác xã hội như một dạng cứu trợ mới

Đây là phần đầu của chương II trong cuốn sách “Công tác xã hội” bằng tiếng Nga do nhà xuất bản Matxcova phát hành năm 1999. Mạng Thông tin Công tác xã hội sưu tâm và xin trân trọng giới thiệu.

Công tác xã hội đã được xếp vào số các dạng hoạt động xã hội nhằm giúp cho con người, hỗ trợ họ trong khó khăn. Cũng như chính xã hội loài người, những dạng hoạt động xã hội này đã lỗi thời. Nếu không đề ra được các hình thức hỗ trợ kẻ yếu thì những sáng kiến cũng không thể hợp nhất thành cái chung, không thể tồn tại được.

Hoạt động tương tự như thế dựa vào các quan điểm đạo đức – tôn giáo và được thực hiện nhờ các biện pháp phổ cập đối với con người trong từng thời gian cụ thể. Thay thế cho “các quan hệ phân phát và tiền bạc” của xã hội sơ khai là của bố thí, là việc từ thiện (nhà thờ, nhà nước, tư nhân), chăm sóc truyền thống của công xã, chăm sóc theo quy định của nhà nước, cho người ốm yếu, què quặt và nghèo khó.

Những nguyên tắc của việc giúp đỡ này đã được xác định đầy đủ. Sự hỗ trợ là “của mình” (theo chính kiến tôn giáo, dân tộc, đẳng cấp, tập đoàn), nhưng không xa lạ. Trong từng trường hợp thấy có các biện pháp cưỡng chế tàn ác nhằm điều hoà số phận của người nghèo như: đầy ải, trừng phạt bằng roi vọt, giá treo cổ (một vài đạo luật về người nghèo được coi là “đẫm máu” trong lịch sử ). Mối liên hệ giữa người cho và người nhận được coi là hữu cơ, quan hệ được xây dựng trên cơ sở phong tục, truyền thống chứ không phải trên cơ sở luật pháp. Những người được giúp đỡ thì được ở vị trí của kẻ yếu đuối, thương tật và phụ thuộc. Họ buộc phải nhận sự lạc quyên và phải cám ơn người đã cho mình. Cũng cần thấy tính độc đoán và tính tự nguyện trong môi trường này; những người phân phối của bố thí, tổ chức việc từ thiện đều hoạt động theo cách lựa chọn riêng để xác định xem ai là người cần được sự giúp đỡ và bỏ qua nhu cầu của ai.

Sự xuất hiện và củng cố công tác xã hội có liên quan đến hàng loạt các quá trình được hình thành do dần dần xoá bỏ các nét truyền thống trong xã hội. Đó là sự giải phóng tư tưởng trong đời thường, giải phóng tâm lý xã hội, đào tạo chăm sóc về mọi mặt cho hoạt động sống. Tôn giáo không biến mất, nhưng không còn là bao quát nữa, nó đã chiếm một chỗ nhất định trong các quy chế xã hội.

Đó là cuộc cách mạng của cá nhân; nếu con người của xã hội truyền thống trở thành người trong tập đoàn, nghĩa là có kiến thức, có khả năng hoạt động và nhận một sự giúp đỡ nào đó chỉ do áp lực (và với mức độ) của sự tuỳ thuộc vào công xã thành phố hoặc nông thôn, nhà thờ, phân xưởng thủ công, thì giờ đây nó “được tách rời ra” khỏi cộng đồng này và trở thành một cá thể. Chính cá thể này có ý nghĩa, chứ không phải do nó là một phần của sự toàn vẹn. Cảm giác này có thể trở thành bi kịch “Chủ nghĩa nhân đạo bi kịch” của Sêc-spia ở một mức độ đáng kể dựa vào điểm, người ta nhìn thấy “thời gian trật khỏi khớp”, gián đoạn các mối quan hệ và họ phải chịu đói rét và sống nghèo khổ như “ Chú Tom đáng thương”- một con người trần trụi trên mảnh đất trơ trụi. Mặt khác, con người đã học được tính tự hào vì điều, anh ta “tự mình”, bằng giá trị của mình- chỉ có trách nhiệm đối với những công lao của bản thân, chứ không vì các bậc tiền bối danh tiếng, không vì chức tước cao sang.

Đã bao thế kỷ, những khái niệm về sự lầm lỗi của những vui chơi trên dương thế đã bị loại trừ. Việc chuyển từ một xã hội truyền thống sang xã hội hiện đại hóa đã đặt cơ sở ban đầu cho một quá trình mà một trong những biểu hiện rõ ràng hơn cả của cơ sở này trong thế kỷ XX là hiện tượng “Cách mạng tâm lý học” đã khẳng định quyền hạn của các cá thể như nam giới, phụ nữ và trẻ em đối với hạnh phúc và sự phát triển.

Trước tiên toàn bộ tư tưởng về cứu tế xã hội đã được xây dựng trên quan điểm về ưu đãi và đặc quyền. Khái niệm về ưu đãi xuất phát từ khái niệm: mọi người mang trong mình một gánh nặng trách nhiệm và chỉ có một số người trong đó dễ dàng thực hiện (từ ngữ “ưu đãi” bắt nguồn từ một từ cổ là “legota” – nghĩa là làm nhẹ đi). Khái niệm về đặc quyền đặc lợi xuất phát từ khái niệm, mọi ngưòi đều không có quyền và nhỏ bé, chỉ có một số được trời phú cho một vài ưu điểm. Cả trong trường hợp thứ nhất và trường hợp thứ hai chỉ có những người tự nguyện là tuyệt đối được ngoại trừ khỏi tình hình chung, họ không được biện hộ bằng bất kỳ một quy luật tự nhiên nào, mà chỉ bằng sự tùy tiện của con người.

Trong thời gian của thế kỷ XIX-XX ngày càng phổ biến các khái niệm về nhân đạo, dân chủ, quân bình chủ nghĩa; Khi ra đời không ai có đặc quyền đặc lợi gì. Ngay ở thế kỷ XVIII tư tưởng cách mạng này đã phản ánh trong một tuyên ngôn nổi tiếng: “Mọi người sinh ra đều bình đẳng trước chúa và có quyền hạn như nhau”. Nhưng thế kỷ đấu tranh chống một xã hội vô quyền và đặc quyền đối với những người đựơc lựa chọn, đòi hỏi những nỗ lực lớn lao và những hy sinh không nhỏ không chỉ dẫn đến việc khẳng định sự hiểu biết về những quyền hạn của con người, mà còn dẫn đến thừa nhận sự hợp pháp của chúng trong văn bản của các tài liệu của những tổ chức quốc tế có uy tín. Chúng được cố định trong tuyên bố chúng về quyền hạn của con người (1948), trong Công ước quốc tế về các quyền văn hoá – xã hội và kinh tế (1966, có hiệu lực đối với nước Nga năm 1976).

Theo những nguyên tắc do Cương lĩnh của Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc tuyên bố, việc thừa nhận những ưu điểm sẵn có của mọi thành viên trong gia đình nhân loại, thừa nhận các quyền bình đẳng và không thể tước đoạt của họ là cơ sở của tự do, chính nghĩa của toàn thế giới. Theo tuyên bố chung về quyền con người, lý tưởng của cá nhân con người không phụ thuộc vào sự sợ hãi và nhu cầu- chỉ có thể được thực hiện nếu sẽ có những điều kiện để mỗi người trong đó có thể vận dụng các quyền văn hoá – xã hội và kinh tế của mình, mà trong đó các quốc gia thành viên của LHQ có trách nhiệm khích lệ sự tôn trọng chung và theo đúng các quyền tự do của con người, và từng người phải có trách nhiệm đối với những người khác và đối với tập thể mà mình là thành viên, phải đạt tới sự khích lệ và thực hiện những quyền mà cộng đồng thế giới công nhận.

Các quyền văn hoá, xã hội và kinh tế của con người được dẫn giải như sự củng cố về mặt luật pháp các quyền tự do cơ bản và những điều kiện sống của con người, cho phép mỗi người phát triển một cách tự do bản chất con người của mình, sống với những người thân bằng quan hệ con người và không cố tình vi phạm lợi ích vật chất của mình (Quyền con người. Từ điển tham khảo về công tác xã hội.1997).

Quan điểm về quyền con người ghi trong các tài liệu chính được thể hiện như sau:

Các quyền con người nói chung. Chúng cần được thực hiện mà không có bất kỳ một sự phân biệt đối xử nào, như đối với chủng tộc, màu da, giới tính, tiếng nói, tôn giáo, chính kiến, nguồn gốc xã hội và dân tộc, tài sản, sự ra đời hoặc một tình huống nào khác. Mọi người đều có một khối lượng và danh mục quyền hạn bằng nhau.

Những quyền con người bẩm sinh. Các cá thể có được các quyền này không phải do nguồn gốc đạt yêu cầu, không phải do ưu điểm về dân tộc hoặc về vật chất, mà do yếu tố họ xuất hiện trên đời trong một xã hội và một quốc gia thừa nhận các quyền đó là quyền cơ bản.

Những quyền con người không thể tách rời. Không ai và không thể bằng cách nào để lấn át quyền con người trong lĩnh vực kinh tế, văn hoá và xã hội. Không ai có thể tước đi quyền đó ở một cá thể và ngược lại.

Các quyền con người là toàn vẹn. Việc lấn át một quyền hạn nào đó hoặc bỏ qua nó có thể dẫn đến vi phạm khả năng sử dụng các quyền hạn khác hoặc toàn bộ tập hợp các quyền con người. Thí dụ: lấn át quyền “đạt mức cao nhất về sức khỏe tinh thần và thể lực” có thể o bế khả năng thực hiện mỗi một trong số các quyền hạn còn lại.

Một tập hợp các quyền kinh tế, văn hoá và xã hội bao gồm: quyền lao động bao gồm quyền của mỗi người được có khả năng kiếm sống cho bản thân bằng lao động, và tự do lựa chọn hoặc thoả thuận loại lao động, đó còn là tiền lương thoả đáng, khen thưởng do lao động công bằng không phân biệt, nói riêng của người phụ nữ cần được đảm bảo điều kiện lao động đúng đắn và dễ chịu, kể cả việc khen thưởng bảo đảm cho mọi người lao động điều kiện sống thoả đáng cho họ và gia đình họ, kể cả điều kiện lao động đáp ứng được yêu cầu về an toàn và vệ sinh, nghỉ ngơi và giải trí, và hạn chế một cách khoa học thời gian lao động, nghỉ phép vẫn trả lương.

Quyền của mỗi người đối với bảo trợ xã hội, kể cả bảo hiểm xã hội. Đối với gia đình là một bộ phận tự nhiên, chủ yếu của xã hội, cần có sự bảo hộ và giúp đỡ rộng rãi nhất theo khả năng.

Các bà mẹ cần được bảo hộ đặc biệt trong thời gian hợp lý trước và sau khi đẻ. Cần áp dụng các biện pháp bảo vệ và giúp đỡ đặc biệt đối với tất cả các trẻ em và thiếu niên mà không có sự phân biệt đối xử nào: trẻ em và thiếu niên cần được bảo vệ để khỏi bị bóc lột về kinh tế và xã hội, khỏi phải lao động trong ngành độc hại đối với sức khoẻ và nhân phẩm, hoặc nguy hiểm đến tính mạng hay có thể làm tổn hại cho sự phát triển bình thường của các em. Nếu làm sai thì cần xử lý theo pháp luật.

Quyền của mỗi người được hưởng mức sống đầy đủ cho bản thân và cho gia đình- bao gồm ăn uống đầy đủ, quần áo và nhà ở, và không ngừng cải thiện điều kiện sống.

Quyền của mỗi người được thoát nạn đói.

Quyền của mỗi người đạt mức cao nhất về sức khoẻ tinh thần và thể lực bao gồm việc tạo điều kiện bảo đảm việc phục vụ y tế và chăm sóc y tế trường hợp đau ốm cho mọi người.

Quyền mỗi người được đào tạo nhằm phát triển đầy đủ cá nhân con người và tăng cường tồn trọng các quyền của con người và tự do cơ bản của họ. Đạt mức đào tạo đại học như nhau cho tất cả mọi người trên cơ sở năng lực của mỗi người. Cần tôn trọng tự do của phụ huynh và những người đỡ đầu hợp pháp để lựa chọn cho các con em của mình không những chỉ các trường nhà nước, mà còn cả những trường khác đáp ứng tối thiểu các yêu cầu về đào tạo mà nhà nước có thể quy định hoặc xét duyệt.

Quyền tham gia sinh hoạt văn hoá

Quyền sử dụng các kết quả tiến bộ khoa học và áp dụng vào thực tiễn.

Tôn trọng tự do cần thiết cho các nghiên cứu khoa học và hoạt động sáng tạo. Trong những tài liệu khác cũng cố định sự thừa nhận quyền con người về nhà ở và khẳng định sự bất khả xâm phạm của nó.

Nếu ta tổng hợp danh mục các quyền hạn thực sự, ta có thể nên kết luận là: toàn bộ tập hợp danh mục đó bảo đảm cho các cá nhân khả năng hoạt động xã hội để có thể sống một cuộc sống có giá trị trong xã hội, có khả năng phát triển và tự lo liệu. Tuy nhiên việc thừa nhận chung những quyền hạn này hoặc đưa chúng vào những tiêu chuẩn luật pháp nhà nước vẫn chưa đảm bảo cho khả năng hiện thực nhằm sử dụng những quyền hạn đó cho một cá nhân. Thí dụ như ở nước Nga hiện có một cơ sở luật pháp khá hiện đại trong lĩnh vực đào tạo (Các đạo luật Liên bang năm 1996 “về đào tạo”, “Đào tạo đại học và sau đại học”.v.v.). Hơn nữa, hàng năm có hàng trăm nghìn trẻ em và thiếu niên, thanh niên nam nữ bị xâm phạm quyền hạn này, và buộc lòng phải rời bỏ nhà trường và thậm chí chưa nhận một sự đào tạo trung học tối thiểu nào, và do nhiều nguyên nhân gây nên.

Thứ nhất, là sự thiếu mạch lạc của các diễn đạt pháp lý tạo ra những lỗ hổng trong pháp luật, cho phép những người không có lương tri giải thích một cách tùy tiện các điều luật và loại trừ ra khỏi trường học các thiếu niên không có một trình độ học lực cần thiết nào, không có khả năng tiếp nhận một sự đào tạo nghề nghiệp đầy đủ nào, không có một chút may mắn nào để tìm cho mình một công việc xứng đáng. Hoàn toàn không phải tất cả các phụ huynh đều nắm được luật pháp và biết vận dụng luật pháp. Thứ hai, là các khó khăn về kinh tế của gia đình và các xung đột ở nhà, tác phong vô trách nhiệm của cha mẹ đã buộc nhiều trẻ em và thiếu niên bỏ học để kiếm sống.

Trẻ em có học tập tốt ở trường hay không, là điều rất phụ thuộc vào tình hình văn hoá xã hội và tài sản của cha mẹ, phụ thuộc vào khả năng hoặc không có khả năng quan tâm đến trẻ em của họ, và cuối cùng là gia đình này sống ở đâu. Tất nhiên thì ở thành phố lớn thì trong gia đình có nhiều khả năng bảo đảm việc phát triển cho trẻ em hơn so với gia đình ở làng quê xa xôi. Cuối cùng mức độ sức khoẻ về tinh thần và thể lực của trẻ em và cha mẹ ảnh hưởng trực tiếp tới sự phổ cập giáo dục; rõ ràng, các trẻ em tàn tật, ngay cả các em có tiềm năng trí lực đáng kể cũng khó mà có được mức giáo dục trung học chất lượng cao, và sau đó có tham vọng đạt được mức giáo dục đại học như các trẻ em khoẻ mạnh.

Trong tất cả các trường hợp nêu trên (và còn nhiều trường hợp chưa nêu) trẻ em và cha mẹ cần được sự hỗ trợ của những người giúp việc có trình độ để vận dụng được những quyền hạn đã nêu trong luật pháp. Công tác xã hội đúng là một cơ chế xã hội cần thiết để chuyển các quyền hạn đã được công bố thành hiện thực. Người cán bộ xã hội có thể phát hiện ra sự hiện diện của tình huống khó khăn trong cuộc sống, giúp đỡ cho một gia đình hoặc cá nhân lưu ý đến các nguồn lực của xã hội để từ đó nhận được sự hỗ trợ, tác động trong nghiên cứu và thực hiện kế hoạch giải quyết khó khăn. ý nghĩa của công tác xã hội là sự bù trừ những thiệt hại về mặt xã hội, tạo ra những khả năng của các cá nhân, các gia đình, các nhóm công việc sử dụng các quyền xã hội của mình.

Xuất phát từ điều nêu trên, ta có thể nêu kết luận: ý nghĩa của công tác xã hội là hoạt động nhằm giúp đỡ cho các cá nhân, các gia đình, các nhóm việc thực hiện các quyền xã hội của họ và bù trừ những khuyết tật về thể lực, tinh thần, trí lực và xã hội .v.v. đã cản trở hoạt động xã hội toàn diện.

Hoạt động này có thể là hoạt động nghề nghiệp, tự nguyện. Tuy nhiên trong toàn bộ hoạt động của phong trào tình nguyện, tuỳ theo mức độ phát triển quy chế của công tác xã hội, mức độ đào tạo của cán bộ hoặc chiều sâu chuyên khoa hoá của các cơ quan sẽ không thể tăng lên.

Có thể xác định nội dung công tác xã hội như một dạng hoạt động nghề nghiệp chuyên hoá, là sự hỗ trợ của nhà nước và không của nhà nước cho con người nhằm bảo đảm mức độ văn hoá, xã hội và vật chất cho cuộc sống của họ, là sự giúp đỡ của cá nhân cho con người cho gia đình hoặc một nhóm người(1).

Công tác xã hội – là một quy chế xã hội tổng hợp: những người mang quy chế đó giúp đỡ cho mọi cá nhân không phụ thuộc vào tình trạng xã hội, vào dân tộc, vào tôn giáo, mầu da, giới tính, tuổi tác và những điều kiện khác. Có một tiêu chuẩn thống nhất trong vấn đề này là nhu cầu về sự giúp đỡ và không đủ sức để giải quyết những khó khăn trong cuộc sống.

Mặc dù trong số những người làm công tác xã hội, có không ít những người có nhược điểm này hay nhược điểm khác, nhưng chính quy chế của công tác xã hội có đặc điểm trong sáng và là đặc trưng của một xã hội dân sự. Vì thế, bên cạnh những mệnh lệnh đạo đức- tập tục rất có ảnh hưởng, hoạt động của người cán bộ xã hội cũng được điều hoà nhờ có luật pháp của nhà nước.

Khác với những hình thức hỗ trợ xã hội khác, công tác xã hội là một tác động qua lại hai phía. Người cán bộ dịch vụ xã hội, bác sĩ nội khoa xã hội, chuyên gia ngành khác nhất thiết phải dựa vào nguồn lực của chính khách hàng, tổ chức và thuyết phục họ để giải quyết vấn đề riêng của họ.

Tính tích cực của khách hàng xuất phát từ nguyên tắc chủ quyền của họ. Con người, gia đình hoặc nhóm người đang trong tình trạng cuộc sống khó khăn thì có quyền tìm kiếm sự giúp đỡ dự dịnh dành cho họ. Họ có thể lựa chọn từ các phương án hiện có một hình thức hỗ trợ mà họ thừa nhận là dễ chấp thuận hơn cả đối với bản thân, mặc dù là có thể, nhưng người cán bộ xã hội vẫn sẽ cho rằng, một hình thức giúp đỡ khác sẽ hợp hơn với họ.

Ngoài ra chỉ khi được sự đồng ý của họ thì mới can thiệp vào đời tư của cá nhân và gia đình, trừ các trường hợp do luật định khi cần bảo vệ những người đang bị nguy hiểm, thí dụ các trẻ em bị đối xử tàn nhẫn và xem thường.

Không ai và không một tình huống nào bị bỏ sót không được giúp đỡ với lý do, người đó từ chối đề nghị giúp đỡ, hoặc người đó đã được giúp đỡ, và đó là không có lợi.

Đạo đức của công tác xã hội đòi hỏi người cán bộ phải tránh “đe doạ” khách hàng, gắn cho họ nhãn hiệu “vô hy vọng”, “không chữa được”…

Nếu ta phân tích từ ngữ của các bài báo, các cuốn sách và các bài phát biểu về cứu tế xã hội, thì có thể nhận định rằng: cùng với công tác xã hội, ban đầu chủ yếu nêu các khái niệm như: “bảo trợ xã hội”, “bảo vệ xã hội” đều có liên quan đến môi trường xã hội, nhưng lại có cơ sở lôgic khác. Dần dần, từ ngữ “phục vụ xã hội” nằm trong một mặt phẳng lôgic cùng với khái niệm “công tác xã hội” nhưng lại khác về nội dung.

Phục vụ xã hội là một hoạt động của các ngành dịch vụ xã hội, về hỗ trợ xã hội, làm dịch vụ sinh hoạt xã hội, y tế xã hội, sư phạm tâm lý học, pháp luật -xã hội và giúp đỡ vật chất, tiến hành thích nghi xã hội và phục hồi chức năng cho các công dân đang trong tình cảnh đời sống khó khăn “(Luật của Liên bang “về cơ sở phục vụ xã hội cho nhân dân ở Liên bang Nga” số 195- vào ngày 10/12/1995). Một mặt, việc thông qua từ ngữ này đề cao mức độ hiểu biết sâu sắc về thực chất của vấn đề, thứ nhất đã chứng tỏ cách nhìn thích hợp với xã hội dân sự, mà trong đó toàn bộ hoạt động của các cá nhân trong xã hội được coi như là sự trao đổi dịch vụ hàng hoá. Mặt khác, cách này làm tăng vai trò chủ quan của khách hàng công tác xã hội; khách hàng không những chỉ có quyền trong việc tiếp nhận hoặc không tiếp nhận công tác xã hội, mà để sử dụng dịch vụ xã hội họ còn cần nhận thức được sự hiện diện của dịch vụ này và đánh giá được nhu cầu của bản thân mình đối với dịch vụ đó.

Đồng thời ta thấy rõ nội dung của các khái niệm “công tác xã hội” và “phục vụ xã hội” có phần nào trùng hợp nhau, nhưng không có cơ sở để coi đó là những tên gọi khác nhau cho cùng một loại hoạt động. Công tác xã hội bao gồm cả sự phục vụ xã hội, nhưng lại không choán hết ý nghĩa của nó. Khối lượng khái niệm “phục vụ xã hội” trước hết có liên quan đến các phần của công tác xã hội đảm bảo sự sống còn của các cá thể, các gia đình và các nhóm người trong những tình huống đời sống đặc biệt. Người ta thực hiện việc hỗ trợ trong các tình huống gay cấn và theo khả năng đưa ra khỏi sự khủng hoảng. Việc thực hiện đầy đủ các quyền xã hội của khách hàng không phải là mục đích trực tiếp của loại hoạt động xã hội này, mặc dù rõ ràng ở một mức độ nhất định nó là kết quả của việc thực hiện. Việc thực hiện quyền hưởng hạnh phúc và tự phát triển, quyền hoạt động xã hội và đầy đủ có liên quan đến thực chất của công tác xã hội, và chỉ phần nào nằm trong cơ sở của phục vụ xã hội.

Ghi chú:

1 Barker R. Từ điển công tác xã hội /dịch từ tiếng Anh M. 1995