Kiến thức về ứng xử con người trong môi trường xã hội

Ngoài những yếu tố cá nhân như tuổi tác, giới tính, chủng tộc, tôn giáo, tình trạng sức khỏe, giáo dục… môi trường xã hội có ảnh hưởng rất lớn đến ứng xử của con người. Đem một đôi sinh viên nam nữ đang ở trong trường đại học giữa hàng ngàn bạn học, bỏ vào rừng cấm quốc gia, chung quanh cách hàng chục cây số không có một bóng người, sẽ thấy ngay yếu tố môi trường ảnh hưởng như thế nào đến cách ứng xử của con người!  Vì lẽ con người là một sinh vật bầy đoàn, luôn sống trong gia đình, cộng đồng, xã hội, và quốc gia cho nên muốn hiểu cách ứng xử của con người cũng như phương thức thay đổi ứng xử đó không thể không tìm hiểu vai trò của môi trường, cũng như cấu trúc nhiều tầng của hệ thống môi sinh/ecosystem và tác động của mỗi tầng trên con người sống trong hệ thống môi sinh đó. Kiến thức về ứng xử của con người qua lăng kính hệ thống môi sinh là điều thiết yếu được ứng dụng rộng rãi trong tất cả các phương pháp CTXH và tư vấn tâm lý khác nhau. Như đã thảo luận trong phần thuyết Hệ Thống và nhãn quan môi trường, dưới đây là một vài khái niệm quan trọng về ứng xử của con người trong môi trường xã hội:

1. Thích ứng

Là khả năng của con người thích ứng vào những thay đổi của môi trường xã hội. Thí dụ khi người cha mất việc, mọi người trong nhà thay đổi lối sống để thích hợp với hoàn cảnh khó khăn mới của gia đình. Khả năng thích ứng càng cao, con người càng lành mạnh. Khả năng thích ứng thấp sẽ dẫn đến khó khăn, khủng hoảng. Thích ứng không phải một chiều mà môi trường cũng có thể chủ động tạo ra những thay đổi để cho con người thích ứng vào và nâng an sinh của xã hội lên cao. Thí dụ ở Việt Nam gần đây đã thực hiện được việc đội mũ bảo hiểm khi lái xe gắn máy. Đây là một thí dụ về chính quyền tạo ra điều kiện (cương quyết cấm lái xe gắn máy không đội mũ bảo hiểm) để buộc cá nhân phải thích ứng và đạt được mục tiêu an sinh (giảm tai nạn xe cộ). Việc người dân Việt Nam thay đổi được truyền thống văn hóa có từ lâu đời về đốt pháo trong dịp lễ tết là một thí dụ khác về khả năng thích ứng cao của quần chúng khi Nhà Nước làm đúng chức năng của mình (tức là bảo đảm cuộc sống an toàn cho người dân). Tệ nạn xả rác bừa bãi của người Việt (nhất là trong các quán ăn) mặc dù có giảm bớt nhưng vẫn còn tệ hại so với các nước chung quanh chứng tỏ môi trường chưa có những khuyến khích có trách nhiệm để quần chúng thích ứng vào. Cũng như đối với cá nhân, xã hội tạo ra được điều kiện thích ứng phù hợp là xã hội có tổ chức văn minh; ngược lại xã hội kém tổ chức, chậm phát triển, thường không tạo ra được điều kiện thuận lợi để quần chúng thích ứng vào và tiến lên nếp sống cao. Những thay đổi rất lớn lao về an ninh tại các phi trường trên toàn quốc Mỹ sau biến cố 911, làm mất rất nhiều thì giờ của hành khách, là một thí dụ khác về khả năng thích ứng cao của con người khi cần thiết.

2. Hoà nhập giữa con người và môi trường

Là sự thăng bằng giữa nhu cầu văn hóa, vật chất, xã hội của con người và khả năng thỏa mãn những nhu cầu đó của môi trường. Thí dụ về sự hoà nhập cao giữa con người và môi trường là ở các thành phố tại California người đi xe lăn có thể tự mình đi lại khắp nơi trên hè phố, bằng xe buýt, xe điện, như những người không dùng xe lăn. Muốn được như vậy xã hội phải có quy định chung về xây cất vỉa hè để đồng bộ, bằng phẳng, xe lăn có thể di chuyển, vượt qua các ngã tư… một cách dễ dàng. Một thí dụ khác về tính hoà nhập cao giữa con người và môi trường là ở các làng thôn Việt Nam, khi một gia đình có việc giỗ chạp, cưới hỏi hay ma chay, cả làng xúm vào mỗi người giúp một tay.

3. Sự căng thẳng và khả năng ứng phó với căng thẳng của con người

Căng thẳng là một phần của cuộc sống, có căng thẳng tiêu cực và căng thẳng tích cực, thí dụ lập gia đình, được thăng chức, trúng số… là những căng thẳng tích cực. Chạy xe ẩu bị cảnh sát phạt vi phạm lưu thông, về nhà không biết dấu, lại còn nói ra để vợ la rầy thêm; ốm đau, mất mát, gia đình đổ vỡ, thi hỏng… là những căng thẳng tiêu cực. Căng thẳng có thể xảy ra cho mọi thành phần của môi trường, trong đó có cá nhân, gia đình, cộng đồng, cơ quan, tổ chức, đoàn thể, xã hội…Muốn an sinh, con người, và các thành phần khác của môi trường đều cần khả năng ứng phó cao đối với căng thẳng. Thí dụ quốc gia phải có chuẩn bị để khi thiên tai xảy ra ở một địa phương nào đó, sẽ ứng phó một cách kịp thời và hữu hiệu.

Lượng định khả năng ứng phó của cá nhân, nhóm, hay cộng đồng và giúp thăng tiến khả năng đó là phần quan trọng trong công việc của nhân viên CTXH.

Tính liên lập/interdependence:

Con người không sống cô lập mà nương tựa vào nhau về vật chất lẫn tinh thần, chính vì vậy khả năng duy trì mối quan hệ tốt đẹp với mọi người chung quanh là khả năng rất quan trọng cho an sinh. Khi con người kém khả năng này, rắc rối và căng thẳng sẽ thường xuyên diễn ra. Nhưng thay đổi khả năng này thế nào để đạt được kết quả tốt đẹp không phải là điều dễ và đó là một phần công việc của nhân viên CTXH .

Đề tài thảo luận thêm:

Ứng dụng các lý thuyết trên đây vào việc tìm hiểu sự khác biệt về tâm lý và cách ứng xử của hai đứa trẻ sau đây khi chúng trưởng thành:

Bé A: gia đình bố mẹ đều nghiêm khắc, dạy bé phải tuyệt đối vâng lời ông bà, cha mẹ, người lớn nói phải nghe, không được cãi. Vừa đến tuổi đi học, bé đến trường lần đầu tiên đã thấy ngay cổng trường tiểu học dòng chữ thật to “Tiên Học Lễ, Hậu Học Văn” và được dạy là phải nghe lời thầy cô giáo, không được “cãi”, đó là “Lễ”.

Bé B: cả bố lẫn mẹ đều nghiêm nhưng cởi mở, tập cho bé đặt câu hỏi từ bé, mỗi khi chưa hiểu rõ điều gì thì đều được khuyến khích đặt câu hỏi, kể cả câu hỏi chất vấn, một cách lễ phép. Khi đi học bé cũng được thày cô giáo áp dụng phương pháp tự do thảo luận và chất vấn trong lớp học.

(Trích từ Tập tài liêu: Công tác xã hội-Lý thuyết và thực hành, Trần Đình Tuấn)

Luật người khuyết tật

Luật Người khuyết tật thay thế Pháp lệnh về Người khuyết tật năm 1998. Luật quy định về quyền và nghĩa vụ của người khuyết tật, trách nhiệm của gia đình, nhà nước và xã hội đối với người khuyết tật.

Luật người khuyết tật được ban hành ngày 29/06/2010 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2011. Xin đọc toàn văn tại file đính kèm.

Luật người khuyết tật

Luật người khuyết tật

Kiến thức về tổ chức trong công tác xã hội

Bao gồm tổ chức chính quyền, tổ chức đảng phái và tổ chức quần chúng. Tổ chức giữ một vai trò hết sức quan trọng trong CTXH cộng đồng vì tổ chức thường có tiếng nói mạnh mẽ hơn tiếng nói của cá nhân, nhờ đó, nếu nhân viên CTXH cộng đồng hiểu rõ tổ chức, sẽ có thể vận dụng được sức mạnh của tổ chức để tạo ra những thay đổi tốt đẹp cho cộng đồng.

Trong CTXH, mạng lưới tổ chức xã hội có thể ví như nước, và nhân viên CTXH là những con cá. Hoạt động CTXH chỉ có thể hiệu quả, đáp ứng được nhu cầu an sinh của con người khi có được một mạng lưới tổ chức xã hội phong phú. Ở các nước phát triển, tổ chức xã hội rất đa dạng, có thể do tư nhân hoặc nhà nước lập ra. Nguồn tài trợ cho các tổ chức xã hội tư nhân là ngân sách nhà nước, đóng góp từ thiện của tư nhân, và lệ phí do khách hàng trả. Trong ba nguồn tài trợ này, ngân sách nhà nước thường là nguồn lớn nhất. Thí dụ: hiện nay tại hạt Santa Clara, California, trong tài khóa 1-7-08 đến 30-6-09 chính quyền hạt sẽ chi khoảng 40 triệu Mỹ kim để tài trợ cho một số tổ chức CTXH tư nhân, trong đó có trung tâm Mekong, một tổ chức do người Mỹ gốc Việt thiết lập và điều hành, thực hiện chương trình Full Service Partnership (FSP). Chương trình FSP, được áp dụng trên toàn bang California từ năm 2007, có mục đích đưa những bệnh nhân tâm thần đã ổn định trong các nhà thương thần kinh tâm trí ra sống ngoài cộng đồng, và giúp những bệnh nhân có quá trình ra vào bệnh viện thường xuyên giảm số lần vào bệnh viện. Mục đích của chương trình FSP là cắt giảm chi phí bệnh viện quá cao ($175/ngày cho mỗi bệnh nhân tại hạt Santa Clara). Chương trình này được tài trợ từ dự thảo luật 63 được quốc hội California thông qua năm 2006, cho phép thu thêm 1% thuế của những người có lợi tức từ 1 triệu mỹ kim một năm trở lên. Chương trình FSP đang được nhiều tiểu bang theo dõi, nghiên cứu để áp dụng.

So với các tổ chức sản xuất trong nền kinh tế, tổ chức xã hội có những khác biệt sau: nguyên liệu (khách hàng) đa dạng và phức tạp; sản phẩm (sự thăng tiến của khách hàng) không phải luôn luôn có thể đo lường một cách chính xác; và phương tiện sản xuất (kỹ năng CTXH) có những giới hạn của kiến thức về cách trợ giúp thế nào để con người có được cuộc sống tốt đẹp hơn. Những khác biệt này dẫn đến khó khăn cho công tác đánh giá hiệu quả của các chương trình xã hội. Ngoài ra, về mặt lý thuyết, các tổ chức xã hội đều là những tổ chức mang tính tự hủy, tức là đều nhắm tới một xã hội lý tưởng trong đó không có CTXH. Thí dụ tổ chức CTXH giúp người không nhà sống lang thang đầu đường xó chợ. Khi tổ chức này đạt được mục tiêu của nó, tức là giúp cho tất cả mọi người không nhà trong cộng đồng có được chỗ ở ổn định, nó sẽ không còn lý do để tồn tại, ngân khoản sẽ bị cắt, nhân viên sẽ bị sa thải, tổ chức sẽ ngừng hoạt động. Đặc tính trên đây làm cho các tổ chức xã hội có một rủi ro lớn, đó là khi mục tiêu sống còn (đáng lẽ phải là mục tiêu phụ) lại trở thành mục tiêu chính của nó. Werner & Havens (1968) gọi rủi ro này là trật mục tiêu/goal displacement. Thí dụ: tại California, khi trẻ em bị hành hạ ngược đãi, chính quyền có thể truy tố cha mẹ, đưa những trẻ này ra khỏi gia đình, giao cho người khác chăm sóc trong khi chờ cha mẹ hoàn tất những điều toà án bắt buộc (thí dụ hoàn tất lớp học làm cha mẹ, lớp cai rượu hay ma túy, lớp bạo hành trong gia đình…) và được lãnh con trở về. Trong thời gian này, những trẻ ngỗ nghịch, khó dạy, thường được giao cho những “group home” là những tổ chức xã hội tư chuyên nuôi dạy trẻ ngỗ nghịch với lệ phí rất cao (khoảng 3,000 mỹ kim/tháng/trẻ ở Hạt Santa Clara, bang California). Do số chi phí cao này, một số group home tìm mọi cách để được toà án cho phép kéo dài thời gian nuôi dạy trẻ. Một số bệnh viện tâm thần tư ở Mỹ cũng có vấn đề tương tự, nghĩa là giữ bệnh nhân càng lâu càng tốt để tiếp tục được chính phủ trả lệ phí rất cao hàng tháng (tại hạt Santa Clara, phí tổn này là gần 6000 mỹ kim một tháng), chính vì khuyết điểm lớn này hiện nay ở California mới có chương trình FSP như đã trình bày ở trên.

(Trích từ Tập tài liêu: Công tác xã hội-Lý thuyết và thực hành, Trần Đình Tuấn)

Kiến thức về cộng đồng trong công tác xã hội

Khái niệm cộng đồng, mặc dù đã có từ cuối thế kỷ 19, nhưng đến 1915 mới bắt đầu được khảo sát một cách khoa học qua nghiên cứu của C.J.Galpin về mối quan hệ giữa các làng thôn với môi trường chung quanh. Từ đó đến nay đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về cộng đồng, chú trọng những yếu tố khác biệt như lãnh thổ, nhân sự, đời sống… McMillan (1976) cho rằng khái niệm cộng đồng chỉ có được khi hội đủ những yếu tố sau đây: một căn cước chung; cảm giác cá nhân mình quan trọng đối với tất cả những người khác và đối với cộng đồng; niềm tin chung về lợi ích của bản thân như một thành viên của cộng đồng.

Cohen (1985) nhận xét biên giới cộng đồng có thể là biên giới địa lý, ghi được trên bản đồ, nhưng cũng có thể là biên giới theo ý nghĩa khác, thí dụ chủng tộc hay tôn giáo: cộng đồng người Mỹ gốc Hoa, cộng đồng người theo Thiên Chúa giáo ở Iran, cộng đồng đồng tính luyến ái ở San Francisco…

Dựa trên nghiên cứu của các tác giả trước đó, Willmott (1986) đề cập ba yếu tố quan trọng tạo nên cộng đồng: lãnh thổ; mối quan tâm chung (về tôn giáo, nghề nghiệp, quyền lợi, chủng tộc…); sự gắn bó với nhau giữ các thành viên, đây là yếu tố quan trọng nhất vì nếu một nhóm người ở gần nhau nhưng sống cô lập, không quan hệ gì với nhau thì giữa họ không có một cộng đồng.

Putnam (2000) đề cập một khái niệm rất quan trọng đối với CTXH cộng đồng, đó là “vốn xã hội”/social capital. Vốn xã hội là tinh thần tin cậy, tôn trọng lẫn nhau, sẵn sàng giúp đỡ lẫn nhau của mọi người trong một cộng đồng. Cộng đồng có vốn xã hội cao là những cộng đồng lành mạnh, con người sống an toàn, ít tệ nạn xã hội, trẻ em phát triển thuận lợi. Trái lại, cộng đồng nghèo vốn xã hội thường có tỷ lệ tội phạm cao, cuộc sống căng thẳng, và trẻ em phát triển không thuận lợi.

Kiến thức về cộng đồng (bao gồm kiến thức về các nguồn tài nguyên, quan hệ với xã hội bên ngoài, nhu cầu của cộng đồng, các vấn nạn, tình trạng an sinh của các thành viên, vốn xã hội của cộng đồng…) giúp nhân viên CTXH cộng đồng hoạt động hữu hiệu, thực hiện được những thay đổi trong cộng đồng hoặc thay đổi xã hội bên ngoài để cộng đồng được phát triển tốt đẹp hơn.

(Trích từ Tập tài liêu: Công tác xã hội-Lý thuyết và thực hành, Trần Đình Tuấn)

Kiến thức về nhóm trong công tác xã hội

Nhóm là “một tập thể người quy tụ lại với nhau do có cùng quyền lợi hoặc mối quan tâm và có khả năng hành động chung một cách liền lạc và đồng bộ” (Barker, 1987). Có nhiều hình thức nhóm: nhóm học tập, nhóm hỗ trợ, nhóm chữa trị, nhóm chia xẻ… gia đình cũng là một loại nhóm. Yếu tố nhóm, với những nét đặc thù riêng của nó, ảnh hưởng lớn đến cách ứng xử của con người: địa vị/status của từng người trong nhóm, địa vị của nhóm trong xã hội, mục tiêu, tổ chức của nhóm, năng lực những thành viên, khả năng của những thành viên ở vị trí lãnh đạo… tất cả đều ảnh hưởng đến cách cư xử của cá nhân. Sau đây là một số đặc tính quan trọng của nhóm:

1. Quan hệ qua lại giữa các thành viên

Đây là cách các thành viên trong nhóm gây ảnh hưởng lẫn nhau qua ngôn ngữ, cử chỉ, thái độ, cách cư xử với nhau.

2. Cấu trúc

Gồm vai trò, địa vị, thế lực và ảnh hưởng của các thành viên.

3. Kích cỡ

George Simmel phân biệt nhóm nhỏ nhất là nhóm đôi, có hai người/dyad, nhóm ba/triad, nhóm nhỏ (từ 4 đến 20 người), nhóm trung bình/society, (từ 20 đến 30 người) và nhóm lớn (trên 40 người). Nhóm càng lớn càng phức tạp và cấu trúc càng có tính bài bản hơn. Không thể đếm hết số nhóm hiện diện trong xã hội, tuy nhiên đa số nhóm thường nhỏ, có từ 2 đến 7 thành viên. Hare (1976) nhận xét mặc dù lớn nhỏ khác nhau, nhóm thường có khuynh hướng di chuyển về đơn vị nhỏ nhất là nhóm đôi.

4. Mục tiêu

Nhóm thường được thiết lập vì một lý do nào đó, đây là điều làm cho các thành viên gắn bó với nhau. Từ thượng cổ nhân loại đã biết sống quy tụ thành nhóm để bảo vệ chống lại kẻ thù và thú dữ. Ngày nay, con người lập nhóm chữa trị, nhóm tự giúp đỡ lẫn nhau, nhóm hỗ trợ tinh thần, nhóm học tập, nhóm nghiên cứu, nhóm tu hành, nhóm giải trí… để thỏa mãn những nhu cầu hết sức đa dạng của cuộc sống mà cá nhân khó có thể thỏa mãn. Một thí dụ là nhóm Những Người Cờ Bạc Ẩn Danh/Gamblers Anonymous, thành lập tại Los Angeles năm 1957, phỏng theo mô hình Nhóm Những Người Nghiện Rượu Ẩn Danh (thành lập năm 1935 tại Akron, bang Ohio) để những người nghiện cờ bạc giúp đỡ lẫn nhau bỏ tật xấu này bằng phương pháp 12 bước/the twelve step method. Nhóm những Người Cờ Bạc Ẩn Danh hiện nay được tổ chức ở nhiều nước trên thế giới, riêng tại Mỹ có đến hơn 1000 chi nhánh.

5. Gắn bó

Đây là yếu tố quan trọng nhất trong việc xác định hiệu qủa của nhóm. Kurt Lewin (1945), thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu Động Năng Nhóm/Research Center for Group Dynamics, Học Viện Kỹ Thuật Massachusetts (MIT), phân hai loại gắn bó: gắn bó ở tầng cá nhân và gắn bó ở tầng nhóm. Gắn bó ở tầng cá nhân là gắn bó giữa thành viên này với thành viên khác, có thể do ý thích cá nhân, sự tôn trọng, hay tin cậy lẫn nhau. Gắn bó ở tầng nhóm có được khi các thành viên chia xẻ một căn cước chung/group identity, có cảm nghĩ và sẵn sàng hành động cùng nhau như một đơn vị duy nhất. Trong nhóm có gắn bó cao, thành viên tự tin hơn, trao đổi với nhau nhiều hơn, đạt được mục đích khi gia nhập nhóm nhiều hơn, và ít bỏ nhóm hơn. Tuy vậy, gắn bó quá mức có thể không phải là ưu điểm, vì nó làm hạn chế sự suy luận và hành động một cách khách quan của các thành viên.

6. Thay đổi

Nhóm ít khi cố định mà thường thay đổi cấu trúc, tác động qua lại/dynamics, sự gắn bó… qua các giai đoạn phát triển của nó. Tuckman & Jensen, (1977) chia ra năm giai đoạn: giai đoạn một các thành viên làm quen với nhau. Giai đoạn hai một số thành viên mâu thuẫn với nhau và nhóm tìm giải pháp hoà giải để tạo gắn bó. Giai đoạn ba thành hình cấu trúc nhóm, vai trò, cách ứng xử, các quy ước… Giai đoạn bốn nhóm kiện toàn xong tổ chức và hoạt động cho mục tiêu chung. Giai đoạn cuối nhóm giải tán.

Vận dụng kiến thức về nhóm, nhân viên CTXH có thể giúp các thành viên của nhóm phát triển đến mức cao nhất và đạt được mục đích của nhóm.

(Trích từ Tập tài liêu: Công tác xã hội-Lý thuyết và thực hành, Trần Đình Tuấn)

Lý thuyết về Công tác xã hội trong những tình huống khủng hoảng

Có nhiều định nghĩa khủng hoảng khác nhau, một cách tóm tắt, khủng hoảng/crisis là một tình trạng nguy khốn xảy ra, thường vượt quá khả năng đối phó của nạn nhân. Nếu không được giúp đỡ, khủng hoảng có thể gây ra những hậu quả trầm trọng về tâm lý, tư tưởng, khả năng ứng xử và cuộc sống của con người. Có thể chia khủng hoảng ra làm ba loại khác nhau: khủng hoảng đời thường, xảy ra trong cuộc đời bình thường của mọi người, thí dụ thi cử, lập gia đình, sinh con, về hưu… ; khủng hoảng tình huống bất ngờ, thí dụ tai nạn, tang chế, bệnh tật, thiên tai… ; và khủng hoảng tâm lý, thí dụ hối hận về một hành động nào đó trong quá khứ, cảm giác cuộc đời không có ý nghĩa (khủng hoảng tuổi trung niên), mất niềm tin vào tương lai…

1. Đặc tính của khủng hoảng

Khủng hoảng là mối nguy hiểm có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng kể cả tự tử, nhưng đồng thời cũng là cơ hội vì nó buộc con người phải cố gắng nỗ lực giải quyết hay tìm sự giúp đỡ để sống còn. Thí dụ thường thấy về đặc tính này của khủng hoảng là khi những người nghiện cờ bạc đã thua hết tài sản, đã táng gia bại sản, mới thành tâm từ bỏ tật xấu đó. Dù tự mình giải quyết được khủng hoảng hay nhờ sự giúp đỡ của gia đình, cộng đồng hay xã hội, cá nhân có thể trở nên già dặn, trường trải hơn (thay đổi theo chiều hướng phát triển); hoặc giữ nguyên khả năng úng xử cũ (không thay đổi); hoặc bị ám ảnh lâu dài, có khi suốt đời, và có thể dùng những cách đối phó tiêu cực để sống còn, thí dụ rượu chè hay ma túy, vì kinh nghiệm đã trải qua trong khủng hoảng (thay đổi theo chiều hướng xấu).

Khủng hoảng là một hiện tượng phức tạp và đa dạng. Nó có thể xảy ra đột ngột, thí dụ tai nạn xe cộ, hay bùng nổ sau một thời kỳ âm ỷ kéo dài, thí dụ khủng hoảng giữa những người trong gia đình. Khủng hoảng có thể liên quan đến một cá nhân, một gia đình, hay cả cộng đồng, xã hội, hay quốc gia, và cả thế giới. Thí dụ bão lụt, động đất, chiến tranh, bệnh dịch… Khủng hoảng xảy ra cho tất cả mọi người nhưng mỗi người có khả năng ứng phó riêng đối với cùng một khủng hoảng.

Khủng hoảng xảy ra trong một thời gian có giới hạn, thường không quá sáu đến tám tuần lễ, sau thời gian này các hậu quả tiêu cực của nó giảm dần. Mặc dù vậy, tùy theo cường độ lúc xảy ra, khủng hoảng có thể để lại những di chứng lâu dài (có khi suốt đời) cho nạn nhân, thí dụ những nạn nhân của hội chứng hậu chấn tâm lý/PTSD, post-traumatic stress disorder.

2. Ứng dụng

Nhân viên CTXH không phải nhân viên cấp cứu, vì vậy, trong nhiều trường hợp khủng hoảng, chỉ can thiệp sau khi sự an toàn của khách hàng đã được bảo đảm. Đối với những trường hợp nhân viên CTXH là người đầu tiên đối diện với khủng hoảng của khách hàng, mối quan tâm ưu tiên cũng là sự an toàn về thể chất của khách hàng, điều này có nghĩa khách hàng có thể phải được di chuyển đến nơi an toàn. Ở California, luật An Sinh Xã Hội cho phép nhân viên CTXH và các nhân viên giúp đỡ chuyên nghiệp khác được quyền tạm thời cưỡng bách nhập viện, trong thời gian không quá 72 giờ, những khách hàng không có đủ khả năng tâm trí để tự kiềm chế và có thể trở thành mối nguy hiểm cho bản thân hay cho những người chung quanh.

CTXH trong trường hợp khủng hoảng có tính cách tức thời, tập trung, ngắn gọn, và cụ thể. Sau khi đã ổn định an toàn thể chất cho khách hàng, nhân viên CTXH sẽ tiến hành công tác lượng định để tìm hiểu khủng hoảng, cung cấp sự hỗ trợ tinh thần và vật chất, các nguồn tài nguyên khách hàng có thể vận dụng; cùng với khách hàng thăm dò các giải pháp; chọn và lập kế hoạch thi hành giải pháp tối ưu. Sau giai đoạn lượng định là giai đoạn thực thi kế hoạch đã đề ra. Bên cạnh vai trò khuyến khích, động viên và hỗ trợ tinh thần, nhân viên CTXH có thể sẽ phải giữ một vai trò tích cực và chủ động hơn trong giai đoạn tiến hành kế hoạch giúp đỡ so với những trường hợp không khủng hoảng.

3. Trường hợp khách hàng có ý tưởng tự tử

Hành vi tự kết liễu cuộc sống là hành vi độc đáo của loài người, các sinh vật khác không có hành vi này. Tự tử có thể diễn ra đối với bất cứ ai, không phân biệt giàu nghèo, trình độ trí tuệ, giai cấp, tôn giáo, giới tính, địa vị trong xã hội, … Ở Mỹ, đối với lứa tuổi 15 đến 24, tự tử là nguyên nhân tử vong lớn thứ nhì sau tai nạn. Cũng ở Mỹ, mặc dù chỉ chiếm 10% dân số, khoảng 25% số người tự tử là những người trên 65 tuổi, trong số này đàn ông tự tử nhiều gấp đôi phụ nữ. Ở Việt Nam có lẽ cấu trúc gia đình Á châu, trong đó ông bà phần đông sống gần con cháu, có lẽ sẽ cho một thống kê khác biệt về tình trạng tự tử của người cao niên. Nhìn chung, ở Mỹ nhóm người có rủi ro tự tử cao nhất là đàn ông da trắng, tuổi từ 35 trở lên, mặc dù vậy tỷ lệ tự tử trong lứa tuổi vị thành niên và trong số người da đen cũng có khuynh hướng tăng đáng kể trong thời gian qua.

Rất nhiều tác giả đã nghiên cứu về hiện tượng tự tử, trong đó đáng kể nhất là các tác giả thuộc hai trường phái tâm lý và trường phái xã hội. Trường phái tâm lý sử dụng lý thuyết của Freud, diễn dịch hành động tự tử như kết quả của những mâu thuẫn về tâm lý trong tiềm thức, tác động bởi kinh nghiệm khủng hoảng trong đời sống thực tế, gây ra cảm giác bạo động hướng nội. Tự tử diễn ra khi cảm giác bạo động tăng lên cao điểm và nạn nhân không thể hướng nó ra thế giới bên ngoài.

Trái với trường phái tâm lý, trường phái xã hội (Durkheim, 1951) chú trọng ảnh hưởng và áp lực của môi trường đối với tự tử. Durkheim cống hiến một giải thích hợp lý để cắt nghĩa tỷ lệ tự tử cao ở những nước có tổ chức xã hội và đời sống cao như các nước tây và nhất là bắc Âu (Phần Lan là nước có tỷ lệ tự tử cao vào bậc nhất thế giới), và trường hợp tự tử của những người giàu có: khi có sự bất quân bình giữa nhu cầu và phương tiện để thỏa mãn nhu cầu, người ta dễ lâm vào khủng hoảng. Vì quá thừa thãi của cải vật chất, người giàu dễ trở nên lắm nhu cầu, nhưng không phải tiền bạc có thể mua được sự thỏa mãn mọi nhu cầu, vì vậy sinh ra bất quân bình và khủng hoảng diễn ra y như trường hợp những người bị dồn vào giải pháp tự tử để thoát cảnh nghèo túng cùng quẫn. Durkheim chia ra ba loại tự tử:

–     Tự tử vì bản thân/Egoistic suicide: diễn ra do cá nhân không có quan hệ gắn bó với môi trường (gia đình, bạn bè, đoàn thể, tôn giáo…) vì vậy không được sự hỗ trợ cần thiết khi đối diện với khủng hoảng. Thí dụ trong loại tự tử này là trường hợp tự tử của những người không có ai để nương tựa, cảm thông, và vì vậy dễ rơi vào tình trạng tuyệt vọng. Điều này giải thích tình trạng người độc thân có rủi ro tự tử cao hơn người có gia đình.

–     Tự tử vì khủng hoảng môi trường/Anomic suicide: diễn ra khi cá nhân có quan hệ với môi trường nhưng môi trường bị khủng hoảng, không cung cấp được sự hỗ trợ theo đúng chức năng của nó. Thí dụ: gia đình đổ vỡ, mất niềm tin vào tôn giáo hay đoàn thể. Thống kê cho thấy tỷ lệ tự tử (cả thành công lẫn thất bại) diễn ra khá cao ở Âu châu và Mỹ trong số những nạn nhân của lạm dụng về tình dục bởi các tu sĩ. Những trường hợp người cao niên tự tử sau khi vợ hay chồng qua đời cũng thuộc loại này.

–     Tự tử vì lý tưởng/Altruistic suicide: diễn ra khi cá nhân có quá nhiều gắn bó với môi trường (ngược với tự tử vì bản thân, đến nỗi đặt lợi ích của môi trường (quốc gia, tổ chức, tôn giáo…) cao hơn mạng sống của cá nhân. Đây là trường hợp tự tử của các cảm tử quân trong chiến tranh hay những tín đồ Hồi giáo đánh bom tự sát ở Trung Đông.

Sau Durkheim, Fujimura và một số đồng tác giả (1985) thêm loại tự tử thứ tư: tự tử vì nhân cách/death with dignity, diễn ra khi con người đối diện cái chết chậm chạp và đau đớn, mất nhân cách (thí dụ không còn kiểm soát được vệ sinh cá nhân). Ở Mỹ, năm 1994 bang Oregon trở thành một trong những địa phương đầu tiên trên thế giới cho phép bác sĩ, nếu có yêu cầu của những người được chứng nhận chỉ còn sống không quá sáu tháng, được trợ giúp để bệnh nhân tự kết liễu cuộc đời một cách nhân đạo.

4. Ứng dụng

Trừ trường hợp mất trí, điều may mắn là tự tử ít khi là hành động đột xuất. Trong đại đa số các trường hợp tự tử, nạn nhân thường để lộ rất nhiều dấu hiệu báo trước hành vi tự tử. Những dấu hiệu này có thể là lời nói rõ rệt về ý muốn tự tử; những hành vi bất thường như chạy xe bừa bãi, bỏ thuốc chữa bệnh, hay cứ tiếp tục uống rượu, hút thuốc mặc dù bác sĩ cấm; tự cô lập không muốn giao du tiếp xúc với những người chung quanh; cho đi tiền bạc, của cải hay những kỷ vật quý giá của bản thân; đột nhiên hăng hái, phấn khởi sau một thời kỳ dài trầm cảm nghiêm trọng (đây là thời gian dễ xảy ra tự tử nhất vì nạn nhân có đủ năng lực và ý chí phấn khởi để thực hiện việc tự kết liễu cuộc sống vốn là một việc khó làm)…

Trong công tác lượng định về tự tử, nhân viên CTXH chú trọng tìn hiểu những yếu tố rủi ro sau đây của khách hàng:

–     Trong gia đình đã có thân nhân tự tử.

–     Đã có một hay nhiều lần tự tử hụt.

–     Có kế hoạch tự tử cụ thể.

–     Có khủng hoảng hiện thời do mất mát người thân, ly dị, ly thân, mất việc…

–     Đã từng bị lạm dụng về tình dục bởi người thân hay bởi giới tu sĩ.

–     Bị ám ảnh bởi quá khứ bị lạm dụng về tình dục.

–     Bị ám ảnh bởi kỷ niệm thường niên của một mất mát lớn trong quá khứ.

–     Là bệnh nhân thần kinh tâm trí.

–     Có quá khứ nghiện rượu hoặc ma túy.

–     Có khủng hoảng về tâm lý hay vật chất

–     Sống một mình, không có thân nhân hay bạn bè.

–     Trầm cảm.

–     Có hành vi sắp xếp hậu sự như cho của cải, dặn dò người thân.

–     Thay đổi lớn về cá tính hay thói quen.

–     Có cảm giác tuyệt vọng.

–     Biểu lộ một hay nhiều cảm xúc (thí dụ giận dữ, hối tiếc, thù hận, buồn chán, thất vọng) một cách quá mức bình thường.

Tùy theo kết quả lượng định cho thấy rủi ro nhiều hay ít, các biện pháp can thiệp có thể là nhập viện tạm thời để quan sát 24/7 trong thời gian ngắn, đây là những trường hợp rủi ro cao, khách hàng có kế hoạch tự tử cụ thể ở đâu, khi nào và bằng cách nào; Trường hợp rủi ro không cao, khách hàng không có kế hoạch cụ thể, nhân viên CTXH giúp khách hàng viết bản thỏa thuận về những gì sẽ làm khi có ý định tự tử (gọi đường giây nóng, nói chuyện với người thân nào đó, gọi nhân viên CTXH…).

Bên cạnh can thiệp trong giai đoạn khủng hoảng kể trên, khi khách hàng đã được ổn định, nhân viên CTXH sẽ có biện pháp để khách hàng được sự hỗ trợ cần thiết của gia đình và cộng đồng, được tư vấn tâm lý chuyên môn để nâng cao khả năng giải quyết các vấn nạn và để có được một nhãn quan tích cực hơn về cuộc sống.

Hipple (1985) chỉ ra một số điều nên tránh khi làm việc với khách hàng có ý định tự tử như sau:

  1. Không giảng luân lý, đạo giáo, hay trách móc.
  2. Không chỉ trích chọn lựa hay cách úng xử của khách hàng.
  3. Không thảo luận lợi hay hại của hành vi tự tử với khách hàng.
  4. Không tin khi khách hàng nói khủng hoảng đã qua.
  5. Không coi nhẹ ý tưởng tự tử của khách hàng.
  6. Không thách đố khách hàng thực hành ý đồ tự tử (để tạo phản ứng ngược).
  7. Không để khách hàng một mình không có người quan sát giúp đỡ.
  8. Không định bệnh hay phân tích ứng xử của khách hàng và thảo luận với khách hàng về những điều này khi khách hàng chưa sẵn sàng.
  9. Không thụ động.
  10. Không phản ứng quá mức, giữ bình tĩnh.
  11. Không giữ bí mật ý đồ tự tử của khách hàng.
  12. Không để những vấn đề phụ hay người khác làm loãng sự chú ý đến khách hàng.
  13. Không đề cao, thánh hóa, hay lý tưởng hóa hành vi tự tử của bất cứ ai trong quá khứ hay hiện tại.
  14. Không quên theo dõi sau thời gian giúp đỡ/follow up.

(Trích từ Tập tài liêu: Công tác xã hội-Lý thuyết và thực hành, Trần Đình Tuấn)