Thuyết tri thức ứng xử

Nhiều nhân viên CTXH đạt được mục tiêu giúp khách hàng thay đổi bằng cách phối hợp hai thuyết Tri Thức và Thuyết Ứng Xử. Thí dụ để giúp những người có bệnh trầm cảm, nhân viên CTXH trước hết tập cho khách hàng thay đổi cách suy nghĩ từ “ly nước vơi một nửa” sang “ly nước đầy một nửa” (đây là giai đoạn B của công thức ABC), từ đó tiến đến giai đoạn C tức là có một hành động tích cực nào đó để chống cơn trầm cảm. Kỹ thuật dùng phản ứng thưởng hay phạt/positive hoặc negative reinforcement của thuyết Ứng Xử được áp dụng để khuyến khích những cách ứng xử lành mạnh và làm giảm dần những ứng xử không lành mạnh, dẫn đến bi quan yếm thế. Tri Thức Ứng Xử liệu pháp/Cognitive behavioral therapy thường được áp dụng trong thuật làm cha mẹ; trong việc điều trị bệnh nghiện ngập kể cả ma túy, rượu, cờ bạc và tình dục; trong tư vấn gia đình; và trong điều trị các triệu chứng tâm lý như bồn chồn, trầm cảm, căng thẳng thần kinh.

(Trích từ Tập tài liêu: Công tác xã hội-Lý thuyết và thực hành, Trần Đình Tuấn)

Thuyết tri thức

Tri thức là sự hiểu biết của cá nhân về sự vật. Thuyết tri thức chủ trương mỗi cá nhân có một suy nghĩ và hiểu biết riêng về sự vật, cách thu nhận và diễn giải các thông tin, đánh giá các kinh nghiệm, các phán đoán, và quyết định cách ứng xử. Tất cả những khái niệm này được Piaget gọi là cấu trúc tri thức/schema. Cảm xúc và cách ứng xử của con người là sản phẩm của cấu trúc tri thức khi đánh giá các thông tin đến từ thế giới chung quanh cá nhân. Beck (1995) mô tả mối quan hệ giữa tư tưởng, cảm xúc, và ứng xử như sau: sự vật diễn ra dẫn đến tư tưởng hay niềm tin; tư tưởng hay niềm tin dẫn đến cảm xúc hay hành động. Albert Ellis (1962), một trong những người áp dụng thuyết tri thức đầu tiên trong tâm lý trị liệu, tin rằng phần đông con người có cách suy nghĩ hẹp hòi và không hợp lý về sự vật và về cách phải ứng xử như thế nào để được an toàn trong cuộc sống. Mục tiêu của tâm lý trị liệu, theo Albert Ellis, là giúp khách hàng có được cách suy nghĩ đúng đắn về cuộc đời và về cách ứng xử thích hợp.

Một tác giả khác của thuyết Tri Thức là Aaron Beck (1976). Khi nghiên cứu về bệnh trầm cảm, mà Freud gọi là “sự tức giận với bản thân”, Beck nhận thấy người trầm cảm có một thành kiến tiêu cực về sự vật và thế giới, tức là trong cấu trúc tri thức/cognitive schemas của những người trầm cảm có sẵn ba thành kiến tiêu cực: tôi không có giá trị, tôi càng ngày càng tệ hơn, thế giới này là một nơi không an lành. Cấu trúc tri thức là cách người ta suy diễn sự vật, phân tích các thông tin, tạo ra sự hiểu biết về sự vật, ảnh hưởng đến cảm xúc và cách ứng xử. Theo Jean Piaget, cấu trúc tri thức được hình thành và phát triển bằng học hỏi qua kinh nghiệm sống của bản thân và qua sự quan sát, học hỏi từ ngoại cảnh. Những kinh nghiệm mới phù hợp với cấu trúc tri thức được sát nhập vào nó/assimilation; ngược lại, khi gặp những kinh nghiệm mới trái ngược với cấu trúc tri thức, người ta sẽ chỉnh sửa lại cấu trúc tri thức để chứa đựng được kinh nghiệm mới (accommodation).

1. Ứng dụng

Thuyết Tri Thức chủ trương cá nhân gặp khó khăn vì rơi vào một trong ba trường hợp sau:

1) Không có tri thức/cognitive deficit. Thí dụ một thanh niên mới lớn, có nhiều kinh nghiệm giao du với bạn bè, nhưng chưa bao giờ có kinh nghiệm về bạn gái.

2) Tri thức cứng nhắc/cognitive rigidity: trắng đen, có không, đúng sai…

3) Tri thức lệch lạc/cognitive distortion: tức là những tin tưởng sai, dựa trên một cấu trúc tri thức tiêu cực, thí dụ: bị xử ức nhưng không khiếu nại vì “khiếu nại cũng chẳng đi đến đâu”.

Nhân viên CTXH ứng dụng thuyết Tri Thức có thể giúp khách hàng bằng các phương pháp sau:

Thay đổi tri thức/cognitive restructuring:

Giúp khách hàng thay đổi phần B trong mô hình ABC (A = sự việc diễn ra/ activating event; B = niềm tin về sự việc belief; C = cảm xúc hay hành động gây ra do niềm tin/consequences. Thí dụ: A = bạn gái gọi điện thoại báo tin có việc bận, ngày mai thứ bảy không đi chơi được. Nếu B = cô ấy đi chơi với người khác, C = ghen tức, giận dữ. Nếu B = đàn bà con gái đúng là không thể tin được, C = bực mình. Nếu B = xui quá, nhưng ai chẳng có lúc bận bất ngờ, C = buồn 5 phút sau đó tính chuyện khác cho ngày thứ bảy.

Ứng phó tri thức/cognitive coping:

Giúp khách hàng chuẩn bị sẵn một phương thức mới để ứng phó với những hoàn cảnh tiêu cực. Thí dụ mỗi lần giận dữ muốn la hét, đập phá thì đi bộ 100 bước ra khỏi hiện trường. Huấn luyện về cách đối thoại ôn hoà, rõ ràng, mạch lạc, dùng câu nói chủ yếu về “Tôi”/“I” messages, cũng là phương pháp hữu hiệu về ứng phó tri thức, tức là nói về vấn đề, cảm xúc, ý muốn của bản thân, thay vì chĩa mũi dùi công kích sang người đối diện. Thí dụ người chồng đã hẹn sáng thứ bảy chở vợ về thăm quê ngoại, nhưng lại đi uống cà phê với bạn gần trưa mới về. Thay vì nói “Tại sao sáng thứ bảy nào anh cũng phải đi uống cà phê, bỏ uống một sáng thứ bảy có chết không? Người gì đâu không biết giữ lời hứa gì hết?  Nói đi nửa tiếng mà đi tới giờ này mới về? Sao không đi luôn tới sáng mai đi?” Người vợ có thể nói “Em chờ gần hai tiếng đồng hồ, mất hết cả hứng thú. Em không muốn trễ hẹn với Ba Má.”

2. Huấn luyện về phương pháp giải quyết khó khăn/problem solving training

Gồm xác định vấn nạn, tìm kiếm và liệt kê các giải pháp, gạn lọc giải pháp, chọn giải pháp thích hợp nhất, và sau cùng, hoạch định kế hoạch thi hành.

3. Phê bình thuyết Tri Thức

Thuyết tri thức chủ trương ý tưởng quan trọng hơn cảm xúc. Nhiều tác giả khác không đồng ý với quan điểm này và cho rằng cảm xúc là phần cốt cán của bản chất và sự hành xử của con người và cảm xúc sinh ra bởi hệ thống sinh lý thần kinh chứ không phải luôn luôn do tư tưởng tạo ra. Thí dụ một người đang đi ngoài phố đông người, trạng thái tâm lý bình thường, không vui không buồn, đầu óc đang suy nghĩ những chuyện bình thường trong cuộc sống, bỗng dưng thoáng ngửi thấy một mùi nước hoa, thế là cả một dĩ vãng kinh hoàng của những ngày không hạnh phúc dồn dập hiện về làm cho tự dưng vui mừng phấn khởi hẳn lên, và nghĩ đến chuyện làm một việc gì đó để tỏ lòng trân trọng cuộc sống bình thường hiện tại. Đây là một rất nhiều thí dụ để chứng minh cảm xúc không những không do tư tưởng tạo ra mà còn sinh ra tư tưởng, và điều này trái ngược với những nguyên lý của thuyết Tri Thức.

Thuyết Tri Thức chú trọng những tư tưởng của con người trong ý thức nhiều hơn tư tưởng trong vô thức. Mặc dù khó nhận ra, hoạt động tư tưởng của vô thức trong thực tế nhiều khi đóng vai trò quan trọng hơn, ảnh hưởng mạnh mẽ hơn đến ứng xử và cảm xúc của con người. Không chú trọng tìm hiểu những hoạt động mơ hồ của vô thức, những người ứng dụng thuyết Tri Thức có thể không hiểu cặn kẽ căn nguyên suy nghĩ và cảm xúc của khách hàng và vì vậy có thể khó lòng giúp khách hàng tìm ra được một giải pháp rốt ráo cho vấn nạn của họ.

Thuyết Tri Thức chú trọng những gì xảy ra trong nội bộ cá nhân hơn mối quan hệ giữa cá nhân với môi trường. Trong thực tế, con người là một sinh vật bầy đoàn, không sống riêng biệt mà sống trong gia đình, làng xã, khu xóm, cộng đồng, xã hội, quốc gia, và thế giới. Mối quan hệ tốt xấu, lành mạnh hay không lành mạnh với môi trường có ảnh hưởng rất lớn đối với cuộc sống, cảm xúc, và suy nghĩ của con người, và nhiều khi chỉ cần tạo ra thay đổi trong môi trường là đủ để phần nào đạt được an sinh cho cá nhân.

(Trích từ Tập tài liêu: Công tác xã hội-Lý thuyết và thực hành, Trần Đình Tuấn)

Thuyết ứng xử

Ứng xử là hành vi, suy nghĩ, và cảm xúc có thể quan sát được của con người cũng như các sinh vât khác. Ứng xử có thể được tạo ra hay thay đổi bằng cách học tập. Con người học được cách ứng xử qua tác động qua lại với môi trường. Tác động qua lại này dẫn đến thưởng hay phạt, vui hay buồn, hạnh phúc hay đau khổ. Những hậu quả này có thể làm thay đổi cách ứng xử của con người.

Thuyết ứng xử không quan tâm đến những diễn biến có tính cách trừu tượng trong tâm lý của con người (vốn là trọng tâm nghiên cứu của nhiều trường phái khác trong tâm lý học). Bắt nguồn từ tư tưởng của Descartes, nhà toán học và triết gia Pháp thế kỷ 17, về tính không tin cậy được của giác quan và sự hiện hữu không thể chối cãi của tư tưởng (“Tôi nghĩ, vì vậy tôi hiện hữu”/ Je pense, donc je suis), thuyết Ứng Xử phát triển dần và trở nên phổ biến từ thập niên 60 của thế kỷ thứ 20. Đóng góp của Ivan Pavlov (1927), nhà khoa học Nga, chứng tỏ người ta có thể điều kiện hóa ứng xử của sinh vật (rung chuông mỗi lần cho chó ăn, sau nhiều lần, chỉ cần rung chuông, không cần cho ăn, cũng làm cho chó tiết ra nước bọt và dịch vị để sẵn sàng tiêu hóa thức ăn).

Thuyết Ứng Xử dựa trên những khái niệm chính kể sau:

  • Ứng xử là những hành động, suy nghĩ hay cảm xúc có thể quan sát được. Trong quan hệ nghề nghiệp giữa khách hàng và người làm công việc giúp đỡ hay chữa trị, chỉ những gì quan sát được mới đáng kể, phần trừu tượng trong hoạt động của tâm lý không đáng quan tâm.
  • Con người có khuynh hướng tự nhiên tìm kiếm lạc thú và tránh khổ đau. Ứng xử của con người thường có mục đích hướng đến mục tiêu này. Thí dụ: trong trường học thường có những đứa trẻ hay bắt nạt những trẻ khác yếu hơn, vì ứng xử này làm cho nó được sợ, nể, và nó không bị nhà trường trừng phạt.
  • Ứng xử của con người dựa trên kiến thức có được do học tập, do kinh nghiệm về đáp ứng của môi trường, và do quan sát ứng xử của người khác.
  • Ứng xử có thể thay đổi được với điều kiện nó phải được định nghĩa bằng những tiêu chuẩn có thể đo lường được.
  • Biện pháp giúp thay đổi ứng xử tập trung vào phản ứng có tính cách khuyến khích hay trừng phạt. Những phản ứng này phải tức thời và trước sau như một, không thay đổi.
  • Tư tưởng và cảm xúc cũng là những ứng xử có thể thay đổi được bằng phương pháp dùng phản ứng khuyến khích hay trừng phạt kể trên.
  • Ứng xử của con người nên được giải thích một cách đơn giản, không cần thiết phải tìm đến những nguyên nhân sâu xa trừu tượng có tính bác học của nó (thí dụ những ẩn ức sâu kín về tình dục của khoa phân tâm hay những kinh nghiệm mơ hồ của bản ngã trong tâm lý học về cái tôi).

Thuyết Ứng Xử không chú trọng khía cạnh đúng sai, đạo đức hay vô đạo đức của các hành vi, mà chỉ lưu tâm đến điều kiện tiếp diễn, chấm dứt, hay thay đổi của chúng do phản ứng khuyến khích hay trừng phạt của môi trường.

Phê bình Thuyết ứng xử

Thuyết Ứng xử không lưu ý đến các yếu tố tâm sinh lý vốn có ảnh hưởng rất sâu sắc đến hoạt động của con người (Nichols & Schwartz, 2001). Mặt khác, các biện pháp giúp đỡ của thuyết Ứng Xử đều được thực hiện qua môi trường nhân tạo/controlled environment, thường khó xảy ra trong môi trường sống tự nhiên của con người (Allen-Meares, 1995). Thí dụ đứa trẻ có tính xấu hay bắt nạt người khác có thể sẽ không có ứng xử đó khi có thầy cô giáo ở gần (sẽ bị phạt), nhưng trong môi trường tự nhiên giữa  những trẻ khác trong sân trường nó sẽ tính nào tật nấy. Vì các khuyết điểm này, ứng xử liệu pháp/behavioral therapy có thể đạt kết quả nhanh chóng nhưng không lâu bền.

(Trích từ Tập tài liêu: Công tác xã hội-Lý thuyết và thực hành, Trần Đình Tuấn)

Thuyết cấu trúc gia đình

Gia đình là đơn vị nền tảng của xã hội, là môi trường sống quan trọng nhất của con người. Kiến thức về vị trí và quyền lực của mỗi thành viên trong gia đình, cách họ nói chuyện và cư xử với nhau, hoàn cảnh kinh tế, văn hóa, sức khỏe, ảnh hưởng và tác động của xã hội bên ngoài… đều là những yếu tố để nhân viên CTXH phân tích cặn kẽ, hiểu thấu vấn nạn, và giúp gia đình khắc phục khó khăn, phục hồi được chức năng nguyên thủy của nó là hỗ trợ cho cuộc sống hạnh phúc và cho sự phát triển cao nhất có thể đạt được của mỗi thành viên. Một trong những đóng góp quan trọng nhất vào kiến thức về gia đình là thuyết Cấu Trúc Gia Đình do Salvador Minuchin đề xuất. Sau đây là những khái niệm chính của thuyết này:

Gia trưởng

Người nắm quyền quyết định. Trong một gia đình lành mạnh và hữu hiệu, những thành viên khác trong gia đình có thể chia xẻ quyền lực với gia trưởng, được khuyến khích tham gia thảo luận, đóng góp ý kiến để đi đến quyết định của gia đình. Thí dụ: trong các gia đình kém lành mạnh, người cha một mình quyết định con cái phải học ngành nào (thường quanh đi quẩn lại chỉ bác sĩ, luật sư, kỹ sư, nha sĩ, dược sĩ…), hoặc người mẹ một mình quyết định con cái nên lập gia đình với ai (cũng quanh đi quẩn lại chỉ với người hành các nghề kể trên).

Nhóm nhỏ

Trong bất cứ gia đình nào có từ ba người trở lên cũng có lúc một người muốn liên kết với người kia thành một nhóm nhỏ để loại người thứ ba ra khỏi mối liên kết này. Thí dụ về nhóm nhỏ: cha mẹ/con cái, mẹ con/chàng rể, bố con/mẹ, anh chị/em. Tình trạng nhóm nhỏ trong gia đình là phổ thông và thường là lành mạnh, thí dụ bố mẹ liên kết với nhau để dạy dỗ con cái, các con che dấu cho nhau để bố mẹ khỏi nổi giận. Nhóm nhỏ có thể trở thành xấu nếu có mâu thuẫn trầm trọng giữa các thành viên trong gia đình, thí dụ mẹ liên kết với các con để tất cả cùng thù ghét bố.

Biên giới

Gồm biên giới bên ngoài và biên giới bên trong. Biên giới bên ngoài phân biệt gia đình với môi trường chung quanh, thí dụ chuyện trong nhà không mang ra ngoài nói cho hàng xóm nghe. Biên giới bên trong là biên giới giữa những thành viên trong gia đình. Mặc dù là vợ chồng, cha mẹ, con cái, anh chị em trong cùng một gia đình nhưng vẫn có những ngăn cách không thể vượt qua mà không gây khó chịu cho người bị xâm phạm biên giới: thí dụ xem lén thư từ của nhau, mượn tiền bạc hay đồ dùng của nhau mà không trả đúng hẹn, đi ăn cưới với vợ mà cứ khen cô phù dâu đẹp trước mặt mọi người, v.v… Biên giới cứng rắn, cứ như biên giới giữa Pakistan và Ấn Độ, là không lành mạnh; nhưng biên giới quá uyển chuyển đến độ gần như không có biên giới cũng không tốt, trường hợp này gọi là vướng mắc, nhập chung lại với nhau, không còn cuộc sống riêng tư/enmeshment. Thí dụ người mẹ bỏ tất cả nhu cầu riêng tư để chăm sóc đứa con, coi đứa con là nguồn hạnh phúc của mình. Nếu đứa con cũng “vướng mắc”/ “enmeshed” như người mẹ, nó sẽ hy sinh tất cả nhu cầu riêng tư để chăm sóc mẹ, coi mẹ là nguồn hạnh phúc duy nhất của nó. Trong mối quan hệ cha mẹ/con cái lành mạnh, mỗi người đều phải có nguồn hạnh phúc riêng bên cạnh nguồn hạnh phúc chung. Hạnh phúc của riêng người mẹ phải là người bố, và hạnh phúc của riêng đứa con phải là bạn gái hay bạn trai của nó. Tương tự, mặc dù là vợ chồng, mỗi người cũng cần có những hạnh phúc riêng, lành mạnh, không liên quan đến người kia, thí dụ người vợ thích trồng hoa, người chồng có vài bạn thân lâu lâu gặp nhau bàn thảo những chuyện quan trọng tày đình như hoà bình trung Đông, khủng hoảng kinh tế toàn cầu, v.v… Gia đình “vướng mắc” không có hoặc không khuyến khích những hạnh phúc riêng rẽ này. Gia đình lành mạnh khuyến khích biên giới riêng tư và tạo điều kiện cho con cái trưởng thành, tách ra thành những gia đình riêng có quan hệ tốt với gia đình gốc là gia đình của cha mẹ.

Luật lệ

Gia đình là một tập thể, vì vậy nó cũng phải có luật lệ y như những tập thể khác. Mỗi thành viên trong gia đình, tùy theo tuổi tác, vị trí, phải tuân theo những luật lệ riêng. Thí dụ: con gái đi học về phải phụ mẹ nấu cơm; các con từ 15 đến 18 tuổi không được đi chơi quá 11g đêm; các con dưới 14 tuổi và bố không được ra khỏi nhà sau 9g tối mà không có mẹ đi cùng… Những luật lệ trong gia đình có thể được công bố rõ rệt hoặc mặc nhiên chấp nhận theo thói quen. Trong gia đình lành mạnh, luật lệ phải rõ ràng, áp dụng đồng nhất, không tùy tiện, và mọi người đều được khuyến khích tham gia vào việc thảo luận, giúp gia trưởng làm ra luật lệ.

Vai trò

Là nhiệm vụ và trách nhiệm của mỗi thành viên trong gia đình. Một người có thể giữ nhiều vai trò khác nhau, thí dụ gia trưởng cũng là người kiếm tiền nuôi gia đình, người mẹ vừa giữ vai trò chăm sóc gia đình vừa đi làm ở ngoài. Những vai trò khác có thể là vai trò “dê tế thần”/“scapegoat” tức là người bị coi là gây ra mọi vấn nạn của gia đình; “anh hùng” là niềm hãnh diện của gia đình; “thủ quỹ” giữ túi tiền của gia đình… Qua công tác lượng định, nhân viên CTXH có thể biết sự phân chia vai trò trong gia đình có hợp lý hay không, có thành viên nào bị căng thẳng vì phải lãnh những vai trò mâu thuẫn nhau hoặc không phù hợp với tuổi tác, hoặc quá nặng nề hay không.

Đồng minh

Là hai thành viên hoặc hai nhóm nhỏ trong gia đình hợp tác với nhau. Tình trạng này là lành mạnh nếu sự hợp tác này phục vụ yêu cầu đúng đắn của gia đình. Thí dụ cha mẹ đồng minh với nhau để dạy dỗ con cái. Liên kết giữa hai người hay hai nhóm nhỏ sẽ không lành mạnh nếu có mục đích cô lập một hay nhiều người khác trong gia đình. Thí dụ các con liên kết với nhau để chống lại bố mẹ, hoặc mẹ lôi kéo con về phe mình để cô lập bố… Trong những trường hợp này có thể xảy ra tình trạng vướng mắc như đã mô tả ở trên hoặc ly khai/disengagement nghĩa là hai thành viên trong gia đình không còn muốn quan hệ với nhau.

Bộ ba/triangles:

Khi hai người trong bộ đôi của gia đình mâu thuẫn với nhau, họ quay sang người thứ ba để tranh giành sự hỗ trợ hoặc để tìm an ủi, và như vậy bộ ba được thành hình. Bộ ba là đơn vị ổn định nhỏ nhất trong các tổ chức nhóm vì nó có tính chịu đựng, chống căng thẳng, đổ vỡ, cao hơn bộ đôi. Lý do là vì sự căng thẳng được chuyển tải ra ba người. Trong bộ ba luôn luôn có bộ đôi (hai người chính liên kết với nhau) và một người phụ là người thứ ba. Trong khi sự căng thẳng được chuyển tải qua lại giữa ba người, có thể sẽ có sự thay đổi trong vị trí của mỗi người: người thứ ba có thể chen vào bộ đôi, đẩy một người trong bộ đôi cũ ra ngoài thành người thứ ba. Người thứ ba mới sẽ phấn đấu để giành lại vị trí cũ của mình trong bộ đôi. Cũng có khi vì căng thẳng lên cao, một người trong bộ đôi sẽ tìm cách lôi kéo người thứ ba liên minh với mình để chống lại người kia, hoặc lui ra xa để coi hai bên chống lẫn nhau. Kết bộ ba là hoạt động tự nhiên, bình thường của gia đình, có tác dụng làm giảm căng thẳng giữa các bộ đôi. Tuy vậy bộ ba cũng có thể không lành mạnh nếu nó cô lập hóa lâu dài một người và tạo ra căng thẳng kinh niên trong gia đình. Hiểu được cơ chế hoạt động của bộ ba, nhân viên CTXH có thể hiểu được nguyên nhân vấn nạn của một thành viên trong gia đình. Thí dụ: vợ chồng cãi nhau, chồng chạy về nhà than thở với mẹ, làm cho vợ bồn chồn lo lắng. Nguyên nhân chính gây ra cảm xúc bồn chồn lo lắng khó chịu của người vợ trong trường hợp này không phải là những bất hoà với chồng mà là sự liên kết giữa chồng và mẹ chồng.

Tính uyển chuyển/flexibility:

Uyển chuyển là khả năng của các thành viên trong gia đình sẵn sàng thay đổi vai trò, thói quen, vị trí của mình để phù hợp với những thay đổi xảy ra. Những thay đổi này có thể bất ngờ hoặc đoán trước. Thí dụ tai nạn, thêm trẻ mới sinh, bớt cha mẹ già mới mất, thất nghiệp, đổi công ăn việc làm, dọn nhà… Tính uyển chuyển giúp gia đình duy trì được hoạt động bình thường trong thời kỳ khủng hoảng, tránh rối loạn, tê liệt, tan rã.

Đối thoại/communication:

Cách người ta đối thoại với nhau, và nội dung của đối thoại, có thể cho biết rõ rệt mối quan hệ các thành viên trong gia đình tốt hay xấu. Trong các gia đình lành mạnh, đối thoại thường rõ ràng và trực tiếp, không mập mờ, không cần qua trung gian. Gia đình cứng nhắc, không lành mạnh, trái lại ít đối thoại, đối thoại khi diễn ra thường nông cạn, một chiều (thí dụ con cái chỉ được nghe, không được “cãi”), không rõ ràng, hoặc gián tiếp, hoặc qua trung gian. Thí dụ con muốn đi chơi phải nhờ mẹ xin phép bố, nếu đứa con được giáo dục đúng đắn để có tự trọng và tự tin từ bé, nó sẽ trực tiếp xin phép bố. Thay đổi cách đối thoại có thể giúp thay đổi trạng thái của gia đình từ từ yếu kém sang lành mạnh. So với tiếng Anh hay tiếng Pháp, tính cách hết sức phong phú của cách dùng  danh từ trong ngôn ngữ Việt Nam càng làm rõ nét hơn nữa mối quan hệ của những người đang đối thoại.

Phê bình thuyết Cấu Trúc Gia Đình

Thuyết Cấu Trúc Gia Đình chú ý tổ chức bên ngoài, ít lưu tâm đến đời sống tâm lý phong phú và đa dạng của con người. Trong thực tế, có những gia đình có cấu trúc rất hữu hiệu, mọi người đều đối xử với nhau một cách đúng đắn và đều thành công về mặt hiểu biết (con cái học giỏi, vợ chồng có chức phận, không bao giờ to tiếng với nhau…) nhưng bên trong là một gia đình không hạnh phúc. Mặt khác, do khác biệt về văn hóa với khách hàng, nhân viên CTXH có thể có định kiến không chính xác về thế nào là một cấu trúc gia đình đúng đắn, có hiệu quả. Thí dụ cấu trúc của gia đình Việt Nam, cách đối thoại, cách phân chia quyền lực, có thể không giống với cấu trúc gia đình trong những nền văn hóa khác. Tinh thần hy sinh rất cao cho gia đình là một giá trị của văn hóa Việt Nam, nhưng đến mức độ nào đó có thể giống khái niệm “vướng mắc” trong văn hóa Mỹ, vì văn hóa Mỹ chú trọng nhu cầu và sự phát triển của cá nhân nhiều hơn của gia đình.

(Trích từ Tập tài liêu: Công tác xã hội-Lý thuyết và thực hành, Trần Đình Tuấn)

Sức khỏe tâm thần

Khái niệm sức khoẻ tâm thần ngày nay đang được mở rộng. Đó được xem là một tình trạng khoẻ mạnh về tâm trí được mô tả trên 5 khía cạnh cơ bản.     Read more of this post

4 phương pháp nâng cao kỹ năng làm việc nhóm

Tạo ra sự hòa hợp cho một nhóm làm việc là điều không dễ chút nào. Bởi nhóm là sự tập hợp của nhiều tính cách và phương pháp làm việc vào một nơi với mục đích cùng đạt được kết quả vượt trội. Tuy nhiên không phải nhóm làm việc nào cũng có thể hoạt động hiệu quả theo như lý thuyết. Thậm chí một số nhóm còn nảy sinh xung đột nặng nề, đồng thời mang lại cho các thành viên tâm lý nặng nề và hoạt động kém hiệu quả.

Vậy với vai trò của một người quản lý, bạn cần làm gì để có thể tạo ra được một nhóm làm việc thống nhất và hiệu quả. Để làm được điều này, bạn cần suy nghĩ một cách cẩn trọng và lên kế hoạch chi tiết cho hoạt động của nhóm trước khi tiến hành thành lập một nhóm làm việc. Mặc dù trong quá trình tiến hành, sẽ có khá nhiều điểm mà bạn không thể kiểm soát được, ví dụ như tính cách của từng cá nhân, nhưng với một số phương pháp dưới đây bạn vẫn có thể tạo ra một môi trường thuận lợi để các thành viên trong nhóm phát huy được hết sở năng của họ nhằm đạt tới một cái đích chung do bạn đặt ra.

Lựa chọn thành viên cho nhóm làm việc

Những người có phương pháp làm việc và quan niệm về sự nỗ lực để đạt tới mục tiêu tương đồng nhau sẽ có khả năng hòa hợp cao khi làm việc nhóm. Vì thế, trong quá trình thành lập nhóm, bạn nên lựa chọn những nhân viên có thói quen làm việc hoặc thường đưa ra các phương pháp giải quyết những khó khăn khá giống nhau.

Tuy nhiên, để tạo ra một nhóm đa dạng thành viên là điều không dễ. Tuy nhiên, bạn có thể lựa chọn một nhân viên thường đảm nhiệm công việc có tính sáng tạo để kết hợp với một nhân viên khác thường đảm nhận công việc phân tích. Mặc dù có những kỹ năng hoàn toàn khác nhau nhưng họ đều là những người có tinh thần trách nhiệm cao trong việc hoàn thành công việc đúng thời hạn và thường xuyên cập nhật về tiến trình công việc.

Đưa ra mục tiêu rõ ràng và cụ thể cho nhóm làm việc

Bạn cần đặc biệt lưu tâm tới mục tiêu đã đưa ra. Bởi nếu các thành viên trong nhóm đều hiểu rõ những gì cần đạt tới, họ sẽ dễ dàng hơn trong việc tìm ra tiếng nói chung trong phương pháp thực hiện công việc đó. Những sự khác biệt về chính kiến có thể dễ dàng giải quyết khi các thành viên trong nhóm cùng ngồi lại và sử dụng mục tiêu đã đề ra làm thông tin định hướng.

Nói một cách khác, nếu mục tiêu không rõ ràng, mỗi thành viên sẽ thực hiện công việc theo một hướng nghĩ riêng. Khi đó nhóm làm việc không tránh khỏi tình trạng bất đồng; sự kết nối giữa các thành viên trở nên rời rạc bởi thành viên nào cũng khăng khăng với cách nghĩ của riêng họ.

Khích lệ nhân viên bằng  tinh thần cạnh tranh

Sự đồng tâm trong nhóm sẽ mạnh mẽ nhất khi họ có cùng một kẻ thù. Họ sẽ cùng dồn sức để bảo vệ danh tiếng cho nhóm làm việc của mình. Điều này có thể tạo nên tinh thần cạnh tranh thân thiện trong công ty nhưng cũng có thể tạo ra tình trạng đấu tranh lẫn nhau để đạt được mục tiêu.

Vì thế khi thực hiện phương pháp này, bạn cần rất thận trọng. Bởi nếu nhóm làm việc không nhận được sự hỗ trợ từ người quản lý trực tiếp. Họ cũng sẽ coi sếp của mình là một kẻ thù chung. Khi đó nhóm làm việc cũng đồng tâm nhưng không để đạt các mục tiêu đã đề ra, mà để đấu tranh vì quyền lợi riêng.

Có quy trình giải quyết bất đồng trong nhóm

Hầu hết các nhóm làm việc đều có các bất đồng. Trên thực tế, đây là một phần quan trọng và cần thiết trong quá trình làm việc đi tới một kết quả cuối cùng. Cách giải quyết các xung đột này sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới suy nghĩ của từng thành viên đối với nhóm làm việc của mình.

Có nhiều cách để giải quyết các bất đồng. Bản thân người quản lý có quyền phủ quyết, nhưng các thành viên trong nhóm lại cũng có quyền đa số. Vì thế, bạn cần phải lập quy trình cho việc giải quyết các bất đồng. Đối với từng loại bất đồng, bạn nên đưa ra những quy trình riêng để giải quyết và nên để các thành viên tham gia thảo luận về những bất đồng.

Nguồn: vietnamlearning.vn