Chương 5 Công tác xã hội: Lý thuyết và thực hành

VNSW xin trân trọng giới thiệu Chương 5 với tiêu đề Nhân viên công tác xã hội, trong Tập tài liệu Công tác xã hội: Lý thuyết và thực hành của tác giả Trần Đình Tuấn, ĐH San Jose, Hoa Kỳ:

Nhìn chung, CTXH có những nhiệm vụ cơ bản sau: Phục hồi tiềm năng sẵn có hoặc chức năng đã bị thương tổn của khách hàng; Nối kết khách hàng với tài nguyên trong xã hội; Phòng ngừa xảy ra vấn nạn cho cá nhân và xã hội; Đóng góp vào sự hình thành và cải tiến các chính sách xã hội. Từ những nhiệm vụ cơ bản này CTXH nhắm đạt được những mục tiêu kể sau:

– Giúp khách hàng nâng cao khả năng ứng phó và tự giải quyết vấn nạn của mình (thí dụ giúp người nghèo có cơ hội học nghề để không phải đi ăn xin hay làm những chuyện phi pháp) .

– Tạo ra cầu nối giữa khách hàng và tài nguyên xã hội (gởi cụ già không nơi nương tựa đến nhà dưỡng lão).

– Giúp tạo ra và nâng cao quan hệ qua lại giữa cá nhân và xã hội, trong đó có tài nguyên xã hội (vận động thiết lập và giới thiệu các tổ chức, các hoạt đông tôn giáo, văn hóa, xã hội, sức khỏe… của người cao tuổi trong cộng đồng và khuyến khích khách hàng cao tuổi tham gia).

– Phát hiện những vấn nạn xã hội, đóng góp vào việc tạo ra chính sách mới để giải quyết vấn nạn đó, hoặc tu chỉnh những chính sách xã hội đang có sẵn (thí dụ vận đông với chính quyền thành phố, tỉnh, hay quốc gia để có những chính sách xã hội đáp ứng nhu cầu nào đó của một hay nhiều thành phần trong xã hội như chính sách cấm kỳ thị người vì lý do tính dục, chính sách buộc các kiến trúc gia cư tập thể và kiến trúc có quần chúng lui tới phải có lối đi riêng cho người sử dụng xe lăn…)

– Phân phối tài nguyên vật chất của xã hội: vận động để chính quyền các cấp dành ngân khoản xứng đáng hàng năm cho các nhu cầu của người nghèo trong xã hội.

– Giữ vai trò an toàn xã hội khi cần thiết, thí dụ thông báo cho thân nhân khi khách hàng có ý định tự tử; gởi khách hàng vào bệnh viện tâm thần nếu có khả năng thực hiện ý định tự tử; hoặc các biện pháp can thiệp trong trường hợp bạo hành, lạm dụng, ngược đãi hay loạn luân để ngăn ngừa tái phạm và bảo vệ những nạn nhân trong gia đình.

Một cách tổng quát, nhiệm vụ của CTXH là nhằm phục vụ mối an sinh của con người trong xã hội. Mối an sinh này dựa trên ba thừa nhận sau đây: (1) Tính cách quan trọng của mỗi cá nhân, mỗi gia đình, mỗi nhóm, mỗi tổ chức, đoàn thể, và cộng đồng trong xã hội, bất kể giàu nghèo, sang, hèn, chủng tộc, địa vị, tôn giáo, văn hóa, tính dục. (2) Do những nguyên nhân nội tại cũng như ngoại lai, luôn luôn có vấn nạn xảy ra cho cá nhân, cho gia đình, và cho các thành phần nhóm khác của xã hội. (3) Tìm giải pháp cho những vấn nạn này là điều cần thiết trong một xã hội có tổ chức cao.

CTXH có nhiệm vụ giải quyết những vấn nạn xã hội để con người bớt khổ đau và có thể phát triển đến mức cao nhất những tiềm năng của mình. Vấn nạn xã hội là những tình trạng gây ra các phản ứng vi phạm vào giá trị nhân phẩm, tạo ra khổ đau về tinh thần hay vật chất cho con người (Barker 1995). Thí dụ: nạn trộm cướp, nghiện ngập, kỳ thị, bất công, cửa quyền, tham ô. Merton (1961) còn chỉ ra yếu tố chính của vấn nạn xã hội là sự chênh lệch giữa lý tưởng do xã hội nhắm tới và thực trạng của xã hội đó. Thí dụ nạn nghèo đói luôn luôn là vấn nạn của tất cả các xã hội, các quốc gia, vì ấm no và hạnh phúc cho mọi thành phần trong xã hội là lý tưởng chung chưa bao giờ đạt được của nhân loại. (Phần Lan, nước giàu và có tổ chức an sinh xã hội là khuôn mẫu cho thế giới gần như đã đạt được ấm no cho toàn dân, nhưng tỷ lệ chán đời tự tử lại cao nhất thế giới). Vấn nạn xã hội xảy ra khi tổ chức xã hội không có tài nguyên hoặc có nhưng không đủ để giải quyết những nhu cầu chính đáng của con người sống trong xã  hội đó. Thí dụ xảy ra phổ biến nạn đánh đập con cái vì xã hội không cung cấp đủ lớp học nghệ thuật làm cha mẹ. Thí dụ khác: khác hẳn người Singapore, Mã Lai, Đài Loan, Hàn quốc, Thái Lan, Úc, Âu, Mỹ… người Việt Nam đến thế kỷ 21 vẫn không biết xếp hàng và vẫn xả rác bừa bãi vì xã hội chỉ có biện pháp vận động, giáo dục chung chung mà chưa bao giờ có biện pháp cưỡng chế rốt ráo đi kèm. (Ở các nước phát triển trước, người ta trừ được thói quen xả rác bừa bãi bằng biện pháp trừng phạt nặng nề, thí dụ ở California có thành phố quy định tiền phạt hơn 1000 mỹ kim cho tội xả rác ngoài công lộ. Ở Singapore tội xả rác còn bị trừng phạt nghiêm ngặt hơn). Tổ chức xã hội ở Việt Nam có khả năng làm được những thay đổi rất lớn và rất khó như đội mũ bảo hiểm, không đốt pháo trong dịp lễ tết… tại sao không tập được cho người dân hai thói quen cơ bản của nếp sống văn minh là xếp hàng và không xả rác nơi công cộng?  Đây nên là suy nghĩ của tất cả mọi người Việt Nam, đặc biệt là những sinh viên và nhân viên CTXH. Chắc chắn một ngày kia chúng ta sẽ có một nhân viên CTXH Việt Nam kiên trì vận động để huy động được quyết tâm và năng lực của chính quyền và toàn dân vào công việc biến nước Việt Nam thành một quốc gia sạch đẹp không kém các nước láng giềng chung quanh, và toàn dân Việt Nam biết xếp hàng như các dân tộc văn minh khác trên thế giới.

Vấn nạn xã hội có thể là vấn nạn của cá nhân, thí dụ thất nghiệp, hành hạ, đánh đập vợ con, bệnh tật, nghiện hút, phạm pháp. Vấn nạn xã hội cũng có thể là vấn nạn của nhiều người thí dụ nạn thất nghiệp hàng loạt do kinh tế suy thoái; trộm cướp nhiều gây ra mất an ninh; hoặc thiên tai, bão lụt, hạn hán…

Để chu toàn trách nhiệm giải quyết các vấn nạn xã hội, tạo điều kiện sống bình an cho cá nhân và thăng tiến cho xã hội, CTXH nhắm: (1) Tăng cường chức năng của các thành phần trong xã hội và sự giao lưu giữa các thành phần đó với nhau. (2) Vận dụng những tài nguyên có sẵn trong xã hội hoặc góp phần thúc đẩy sự hình thành những tài nguyên mới để đáp ứng nhu cầu của xã hội. (3) Giúp phục hồi tiềm năng của cá nhân để họ có thể tự thăng tiến đến mức cao nhất mà họ có thể đạt được, nghĩa là đạt đến viên mãn/self actualization.

Viên mãn, theo Abraham Maslow, là tầng cao nhất trong 5 tầng nhu cầu của con người (vật chất, an ninh, tình cảm, tự tin, và viên mãn). Sự thỏa mãn những nhu cầu ở tầng thấp là tiền đề cho sự thỏa mãn ở tầng cao hơn. Thí dụ của Maslow: người đang khát nước mà bị thiếu oxygen thì quên khát nước ngay lập tức. Con người chỉ đạt được viên mãn khi các nhu cầu thấp hơn đã được thỏa mãn, và ở trạng thái này người ta có khả năng chấp nhận thực tế, không chối bỏ sự thật, chấp nhận bản thân và mọi người, không có thành kiến, yêu mình, yêu người, và nhìn đời bằng nhãn quan vui tươi, dí dỏm.

Thang nhu cầu Maslow:

5: Vật chất (ăn, uống, nhà ở, tình dục…)

4: An ninh (cơ thể, việc làm, sức khỏe, gia đình…)

3: Tâm lý (thân nhân, bạn bè…)

2: Tự tin (tôn trọng người và được người tôn trọng…)

1: Viên mãn (đạo đức, sáng tạo, chấp nhận thực tế  không còn bị ràng buộc bởi những khuôn sáo, hoàn toàn tự chủ, yêu đời…)

Để hoàn thành nhiệm vụ của mình, nhân viên CTXH cần những kỹ năng riêng biệt.

Nhân viên CTXH là một tác nhân thay đổi/change agent. Dù làm việc với cá nhân, hay gia đình, nhóm, hay cộng đồng, mục tiêu của nhân viên CTXH luôn luôn là sự thay đổi từ trạng thái xấu đến trạng thái tốt hơn cho khách hàng. Để đạt được mục tiêu này, nhân viên CTXH phải có kiến thức, kỹ năng và đạo đức nghề nghiệp. Johnson và Yanca (2004) mô tả vai trò của nhân viên CTXH qua năm khía cạnh sau:

I. BIẾT MÌNH

Dụng cụ mạnh nhất mà nhân viên CTXH có được là bản thân mình/the Self, tuy nhiên, cũng như đối với tất cả các loại dụng cụ khác, muốn đạt hiệu quả, người sử dụng phải hiểu nó cặn kẽ. Do biết rõ về mình, nhân viên CTXH hiểu được sự khác biệt giữa khách hàng và mình, giữa nhu cầu, mối quan tâm của mình và nhu cầu, mối quan tâm của khách hàng, nhờ vậy có thể giúp khách hàng tìm được những giải pháp phù hợp nhất với hoàn cảnh và quyền lợi của họ. Một trong những lỗi lầm thông thường của những người hảo tâm khi giúp đỡ người khác là áp đặt những giải pháp họ nghĩ là tốt (theo nhu cầu, mối quan tâm, giá trị luân lý, đạo đức, văn hóa, tôn giáo của cá nhân họ) cho người họ muốn giúp. Đây là lý do làm người ta tin phần lớn những bất hạnh của nhân loại đều gây ra bởi những hảo tâm!  Thí dụ: có cha mẹ nào đánh đập con cái không phải vì thương con?  Nhà độc tài Pol Pot từng gây ra tội ác tự diệt chủng chưa từng có trong lịch sử nhân loại, trước khi chết còn tuyên bố “lương tâm trong sáng không có gì phải hối tiếc”!

Để tránh lỗi lầm rất phổ thông kể trên, nhân viên CTXH cần hiểu rõ khách hàng và bản thân mình. Có hai cách để nhân viên CTXH hiểu mình: học hỏi kiến thức của các khoa học về ứng xử của con người như tâm lý học, xã hội học, nhân chủng học… và lắng nghe nhận xét của những người chung quanh (thân nhân, bạn bè, đồng nghiệp, kể cả những người không có thiện cảm đối với mình) về cách ứng xử, suy nghĩ và hành động của mình. Một trong những đặc tính chung của con người là hiểu rất rõ ưu điểm của mình và khuyết điểm của người khác (thánh kinh Thiên Chúa giáo đã chép cái dầm nhỏ xíu trong mắt người khác ai cũng thấy rõ, còn cái xà khổng lồ trong mắt mình thì chẳng ai thấy). Nhân viên CTXH cần luôn ý thức đặc tính này, chấp nhận sự kiện mình khó có thể hiểu biết cặn kẽ khuyết điểm của bản thân mình bằng những người chung quanh, và đón nhận phê bình của mọi người như những bài học quý giá, những cơ hội thăng tiến cho bản thân.

Kiến thức về ứng xử của con người sẽ giúp nhân viên CTXH chú ý đến những điểm sau :

1. Ứng xử của con người là kết quả tác động qua lại của cảm xúc, suy nghĩ và hành động

Qua ngũ giác, con người có được những cảm xúc, những cảm xúc này dẫn đến ý nghĩ, và ý nghĩ đưa đến hành động. Ngược lại, hành động có thể tạo ra cho con người những cảm xúc mới, ý nghĩ mới, dẫn đến hành động mới. Rất nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến cách con người cảm xúc, suy nghĩ và hành động: văn hóa, tôn giáo, sức khỏe, trình độ hiểu biết, kinh nghiệm sống, điều kiện vật chất (giàu nghèo)… Thí dụ một tín đồ tôn giáo thuần thành có thể tội nghiệp cho người đồng tính vì lối sống của họ bị coi là “tội lỗi”. Suy nghĩ này sẽ dẫn đến cách cư xử khác với cư xử của một nhân viên CTXH chuyên nghiệp vốn được huấn luyện để chế ngự thành kiến, tôn trọng khách hàng, không thương và không ghét (thương và ghét đều là những tà kiến ngăn cản nhân viên CTXH hoàn thành đúng đắn công việc của mình). Hiểu biết về những ứng xử khác nhau do ảnh hưởng của nhiều yếu tố, nhân viên CTXH hiểu được sự khác biệt giữa mình và khách hàng, tránh được những phán xét một chiều, tạo được mối quan hệ tích cực và vì vậy giúp được khách hàng.

2. Đạo đức và hệ thống giá trị

Đạo đức là cái giúp người ta phân biệt hành động đúng sai, thí dụ:  làm ăn dối trá, lọc lừa để làm giàu là sai; làm ăn lương thiện, tạo ra sản phẩm hay dịch vụ tốt cho khách hàng là đúng. Hệ thống giá trị là những điều người ta trân trọng và muốn đạt được, thí dụ chung thủy, thật thà, cần mẫn… Cũng như cách suy nghĩ, ứng xử của con người, các yếu tố văn hóa, tôn giáo, hoàn cảnh cá nhân làm cho người ta có những tiêu chuẩn đạo đức và hệ thống giá trị khác nhau. Thí dụ tiêu chuẩn đạo đức và hệ thống giá trị của một người không nhà, nghiện hút, sống ở gầm cầu, sẽ khác với tiêu chuẩn đạo đức và hệ thống giá trị của một người có gia đình, nhà ở và công ăn việc làm ổn định.

3. Gia đình và gốc rễ văn hóa

Mỗi người có một gốc gác gia đình và văn hóa riêng. Có người trân trọng, muốn bảo tồn, có người không cảm thấy thoải mái với gốc rễ gia đình và văn hóa của mình và muốn tạo dựng một văn hóa mới. Dù trong trường hợp nào, gia đình và gốc rễ văn hóa cũng giữ một vai trò quan trọng trong ứng xử của con người và cần được hiểu rõ trong CTXH. Phương pháp hiệu quả để tìm hiểu gốc rễ gia đình và văn hóa của khách hàng là vẽ lại cây gia đình/genogram trong ít nhất ba thế hệ. Những chi tiết như số con, tên, thứ tự trong gia đình, mối quan hệ xấu hay tốt, tuổi lúc mất và lý do mất, tôn giáo, nghề nghiệp, lối sống của các thành viên… sẽ giúp nhân viên CTXH hiểu rõ được ảnh hưởng của gốc rễ văn hóa và gia đình đối với khách hàng.

4. Kinh nghiệm sống

Là những diễn biến quan trọng xảy ra trong cuộc đời liên quan đến hoàn cảnh sống: mất mát người thân, kinh nghiệm thời đi học, lập gia đình, kinh nghiệm làm việc… tất cả những kinh nghiệm sống này không ngừng ảnh hưởng đến cá tính và cách ứng xử của con người.

5. Nhu cầu cá nhân

Tùy theo giới tính, văn hóa, tôn giáo, chủng tộc, sức khỏe, tuổi tác… mỗi người, trong mỗi giai đoạn phát triển, có những nhu cầu khác nhau. Khi nói đến nhu cầu, người ta thường nghĩ đến nhu cầu vật chất như nhà ở, thực phẩm, quần áo, sự an toàn… tuy nhiên, ngoài những nhu cầu vật chất, con người còn có nhu cầu tinh thần (xem lại kim tự tháp nhu cầu của Maslow): được thương yêu, được tôn trọng, được học hỏi, được đóng góp, được thực hành đức tin về tôn giáo, được có cảm giác viên mãn… Ứng xử của con người có khuynh hướng tiến đến mục tiêu thỏa mãn nhu cầu của cá nhân, ngược lại tình trạng được thỏa mãn hay không, thỏa mãn nhiều hay ít, là những yếu tố có thể chi phối cá tính và cách ứng xử của con người. Hiểu rõ nhu cầu của mình, của người, chú tâm thỏa mãn những nhu cầu chính đáng, nhân viên CTXH dễ dàng nhận ra được những sai lệch, tránh lỗi lầm trong nghề nghiệp và hoàn tất được nhiệm vụ giúp đỡ khách hàng. Thí dụ: trong quá trình làm việc với khách hàng, nhân viên CTXH có thể có cảm giác thỏa mãn vì được khách hàng tôn trọng và cần đến mình. Nếu cho phép cảm giác thỏa mãn này ảnh hưởng đến công việc để có lợi cho bản thân mình (thí dụ kéo dài thời gian giúp đỡ một cách không chính đáng, không phục vụ quyền lợi cao nhất của khách hàng), nhân viên CTXH đã phạm phải một trong những lỗi lầm nghiêm trọng của nghề CTXH, đó là phục vụ lợi ích của mình chứ không phải của khách hàng.

II. LÀ NGƯỜI GIÚP ĐỠ CHUYÊN NGHIỆP

Nhân viên CTXH đến với khách hàng trong vai trò của người giúp đỡ chuyên nghiệp. Có nhiều khác biệt giữa người giúp đỡ và người giúp đỡ chuyên nghiệp. Người giúp đỡ hành động theo lương tâm và cảm tính cá nhân; có thể hoàn toàn bất vụ lợi hoặc trông đợi được trả ơn (trực tiếp từ đối tượng được giúp đỡ, hoặc gián tiếp từ các đấng quyền năng trong tôn giáo). Người giúp đỡ chuyên nghiệp vận dụng kiến thức và kỹ năng trong khuôn khổ đạo đức và hệ thống giá trị của CTXH, và được trả lương từ cơ quan, tổ chức CTXH, hoặc lệ phí từ khách hàng. Hảo tâm là đặc tính chung của người giúp đỡ. Người giúp đỡ chuyên nghiệp có những đặc tính sau: có kiến thức và khả năng chuyên môn; thân thiện; đáng tin cậy; có khả năng sử dụng cái tôi chân thật của mình để động viên, khuyến khích, gây ảnh hưởng đến khách hàng (đây là phần quan trọng nhất trong công việc của nhân viên CTXH); biết cách dùng ngôn ngữ để truyền đạt ý kiến, khai thác và phân tích thông tin; biết gầy dựng tự tin cho khách hàng để dần dần khách hàng có thể tự giúp, không cần đến người khác.

1. Trách Nhiệm và Thẩm Quyền của người giúp đỡ chuyên nghiệp

Trong công việc của mình, nhân viên CTXH có trách nhiệm giúp khách hàng thăng tiến, thay đổi, để có cuộc sống tốt đẹp hơn; và thẩm quyền hành động để đạt được mục tiêu đó. Trách nhiệm và thẩm quyền của nhân viên CTXH hiện hữu song song với quyền tự quyết của khách hàng và những giới hạn của quyền tự quyết đó. Nhân viên CTXH không thể vin vào trách nhiệm và thẩm quyền của mình để quyết định thay cho khách hàng, mà chỉ có thể giúp khách hàng tìm hiểu, phân tích vấn nạn, tìm kiếm các tài nguyên từ cá nhân, gia đình, và cộng đồng, thăm dò các giải pháp và hậu quả có thể xảy ra của từng giải pháp để khách hàng tự quyết định. Câu hỏi đặt ra ở đây là trong những trường hợp khách hàng cố ý chọn giải pháp xấu, nhân viên CTXH phải làm gì?  Đối với những trường hợp này, nhân viên CTXH vẫn phải tôn trọng quyền tự quyết của khách hàng, vì quyền tự quyết đi liền với trách nhiệm chấp nhận hậu quả. Quyền tự quyết có một số giới hạn sau đây (những giới hạn này nhân viên CTXH phải truyền đạt cho khách hàng hiểu rõ):

–                     Khách hàng có những quyết định có thể gây hại cho bản thân hay cho người khác. Trong trường hợp này nhân viên CTXH có trách nhiệm bảo vệ sự an toàn của khách hàng và xã hội, và có thẩm quyền hành động để điều nguy hại đó không xảy ra (án lệ Tarasoff). Tại California, đối với bệnh nhân tâm thần, điều 5150 của luật An Sinh Xã Hội tiểu bang cho phép một số người hành nghề chuyên môn, trong đó có nhân viên CTXH, được phép tạm cưỡng chế khách hàng vào nhà thương để được chăm sóc nếu khách hàng có thể có hành vi cụ thể nguy hại đến bản thân (thí dụ tôi sẽ tự tử, nhà tôi có sẵn thuốc chuột), nguy hại đến người khác (thí dụ tôi sẽ giết ông X, hàng xóm, vì tôi đi đâu ông ta cũng theo dõi), hoặc không tự chăm sóc lấy bản thân một cách nghiêm trọng (thí dụ tự nhốt mình trong phòng, không ăn uống, tắm rửa trong nhiều ngày).

–                     Khách hàng không có khả năng trí tuệ để tự quyết định (thí dụ trẻ em hoặc người mắc bệnh tâm thần). Ở Mỹ những bệnh nhân tâm thần nặng thường được toà án bổ nhiệm một người bảo hộ/conservator, người này có thể là thân nhân hoặc là nhân viên bảo hộ của Nha Xã Hội trong chính quyền Hạt. Trẻ em do Toà Án quản lý vì bị ngược đãi hoặc không có thân nhân chăm sóc (thí dụ trẻ mồ côi, trẻ có cha mẹ vi phạm pháp luật bị tước quyền làm cha mẹ hoặc bị giam giữ), cũng được toà án bổ nhiệm một thân nhân hoặc một nhân viên của Nha Xã Hội làm người giám hộ/guardian. Đối với những khách hàng này, nhân viên CTXH sẽ cùng với người bảo hộ hoặc giám hộ có quyết định thay cho khách hàng.

2. Kỹ năng của người giúp đỡ chuyên nghiệp

1. Kỹ năng truyền thông

Truyền thông là một vấn đề phức tạp. Truyền thông có thể được thực hiện bằng lời nói, chữ viết, giáng điệu, cử chỉ, vẻ mặt, thần sắc… Trong khi nói chuyện, người ta không ngừng phân tích các thông tin, lượng định các hậu quả của việc truyền thông, và chọn lọc các thông tin truyền đi để làm thế nào đạt được lợi ích cao nhất cho bản thân.

Trong CTXH, Lawrence Shulman (2006) đề ra bốn yếu tố sau đây có thể gây trở ngại cho truyền thông của khách hàng:

  • Mặc cảm tự ti hoặc tự tôn: không tự mình giải quyết được vấn nạn, phải nhờ đến xã hội là “yếu”, để tránh mặc cảm này, khách hàng có thể giảm thiểu tầm quan trọng thực sự của vấn nạn.
  • Yếu tố văn hóa: một số điều nhạy cảm của truyền thống văn hóa làm cho khách hàng không thể cung cấp những thông tin trung thực liên quan đến tình dục, tiền bạc, gia đình, tôn giáo, quyền lực… Thí dụ những chuyện xấu trong gia đình hàng xóm thì ai cũng có thể nói rõ ràng tỷ mỷ được, nhưng chuyện xấu trong gia đình bản thân thì ít người muốn phô bày ra cho người ngoài.
  • Cảm xúc tiêu cực gắn liền với sự kiện nào đó: khách hàng có thể có những cảm xúc bồn chồn khó chịu hoặc giận dữ, chán nản… vì một sự kiện nào đó và tránh không muốn đề cập đến sự kiện đó, hoặc đề cập không đúng sự thực, hoặc chối bỏ cảm xúc tiêu cực khi đề cập đến sự kiện.
  • Bản thân mối quan hệ giữa nhân viên CTXH và khách hàng: khách hàng biết nhân viên CTXH có một số quyền lực và có thể làm cho khách hàng đạt được hoặc không đạt được một mục tiêu nào đó, vì vậy khách hàng chỉ cung cấp những thông tin họ nghĩ là có lợi.

Chính vì những yếu tố kể trên, truyền thông bằng ngôn ngữ thường không thật bằng truyền thông vô ngôn như nhịp thở, ánh mắt, dáng điệu, cử chỉ, điệu bộ, thần sắc (hơi thở dồn dập, đổi sắc mặt…).

Trong truyền thông có hai phần nghe (nhận thông tin) và nói (cho thông tin). Nhân viên CTXH không ngừng chú ý quan sát khách hàng trong lúc nghe để nhận ra, phân tích, và giải mã những tín hiệu của truyền thông không lời. Phương pháp nghe đúng kỹ năng, không chỉ là nghe chăm chú, mà còn có phần đóng góp quan trọng của truyền thông vô ngôn kèm theo để truyền đạt sự thông cảm, hỗ trợ tinh thần, làm cho khách hàng được khích lệ để chia xẻ, cung cấp thông tin cần thiết. Phương pháp nói đúng kỹ năng không chỉ đơn thuần là truyền đạt rõ ràng mạch lạc ý kiến của người nói, mà làm cho người nghe được thuyết phục. Trong kỹ năng nghe và nói, phần hình thức (nghe chăm chú, nói rõ ràng mạch lạc) là phụ. Ở toà án, người ta nghe hết sức chăm chú để bắt bẻ lẫn nhau, và nói hết sức rõ ràng mạch lạc để đối phương hết đường cãi. Kỹ năng nghe và nói của nhân viên CTXH không giống kỹ năng nghe và nói của luật sư, mà là kỹ năng có phần nội dung riêng. Nội dung này xuất phát từ sự hiểu biết cặn kẽ ứng xử của khách hàng, sự tôn trọng, không phán xét khách hàng, và từ mục tiêu duy nhất giúp khách hàng có được thay đổi phù hợp nhất với thực tế của họ.

2) ( sao lai dung dâu ngoăc ) Kỹ năng thiết lập và duy trì được mối quan hệ nghề nghiệp với khách hàng

Kỹ năng này đòi hỏi trình độ đạo đức nghề nghiệp, khả năng hiểu biết, thông cảm, tôn trọng, và động viên được khách hàng của nhân viên CTXH. Kỹ năng này giúp nhân viên CTXH:

– Biết cách nghe khách hàng một cách có hiệu quả, làm cho khách hàng muốn chia xẻ; biết phân tích thông tin trong khi nghe và biết đặt câu hỏi thích hợp để động viên và hướng khách hàng đến việc chia xẻ những thông tin có ích cho việc tìm hiểu vấn nạn và giúp khách hàng tìm phương thức giải quyết vấn nạn đó.

– Động viên để khách hàng tham gia vào việc tìm kiếm giải pháp và tích cực hợp tác để giải quyết vấn nạn của họ.

– Đề cập và thảo luận được những vấn đề tế nhị (thí dụ vấn nạn liên quan đến tình dục hay loạn luân) với khách hàng.

– Làm trung gian môi giới được cho các thành phần liên quan đến vấn nạn làm việc với nhau để giải quyết vấn nạn.

Kỹ năng này cũng giúp nhân viên CTXH luôn gắn bó với lợi ích cao nhất của khách hàng và tránh được những “tai nạn nghề nghiệp” thí dụ rơi vào những mối quan hệ khác, ngoài quan hệ chuyên môn, không có mục đích phục vụ cho quyền lợi cao nhất của khách hàng (thí dụ quan hệ mua bán, trao đổi; quan hệ tình cảm…). Kỹ năng này được thể hiện ở sự tôn trọng khách hàng, trung thực, chính xác trong cách đối xử và trong ngôn ngữ, và luôn luôn đặt lợi ích của khách hàng lên hàng ưu tiên.

3)  Kỹ năng phân tích và vận dụng chính sách

Có nhiều chính sách liên quan đến CTXH, có chính sách ở cấp thành phố, tỉnh, quốc gia, và có chính sách của cơ quan, tổ chức, đoàn thể. Nhân viên CTXH phải biết chính sách, hiểu được và phân tích được chính sách để có thể bênh vực và đấu tranh hiệu quả cho khách hàng của mình. Trong hoàn cảnh chính sách còn thiếu như ở Việt Nam, nhân viên CTXH còn phải biết kỹ năng vận động và tư vấn cho chính quyền các cấp để có được những chính sách nhằm giải quyết các vấn nạn của xã hội.

4)  Kỹ năng khảo cứu

Công tác khảo cứu là một bộ phận không thể thiếu của tất cả các khoa học. Khảo cứu cần thiết cho việc mở rộng kiến thức nền tảng của khoa CTXH, đánh giá hiệu quả của các chương trình, chính sách xã hội, và hỗ trợ cho việc đề ra những chính sách mới. Công tác khảo cứu gồm lựa chọn mô hình; soạn thảo công cụ; thu nhặt, so sánh, phân tích thông tin; và trình bày kết quả khảo cứu. Chính vì vai trò quan trọng của nó, khảo cứu là một trong ba phần chính trong các chương trình đào tạo CTXH trên thế giới (hai phần kia là lý thuyết và thực tập).

Kỹ năng này giúp nhân viên CTXH tạo ra một không gian an toàn, một mối quan hệ đáng tin cậy, để từ đó khách hàng không còn bối rối, có thể bình tâm mạnh dạn làm những việc mới mà trước kia họ không tự cho có khả năng làm được. (Xem them chương 9: Đánh Giá)

5)  Kỹ năng hành động

Cùng với khách hàng lập kế hoạch hành động, tìm tài nguyên, huấn luyện khách hàng, giới thiệu khách hàng đến những cơ quan, tổ chức xã hội khác; đấu tranh, vận động để khách hàng được hưởng những dịch vụ, những quyền lợi trong cộng đồng.

III. HỮU HIỆU TRONG MỌI VĂN HÓA

Phương tiện giao thông và liên lạc văn minh làm cho thế giới càng ngày càng nhỏ lại. Các cộng đồng nhân loại đều trở nên đa dạng, phong phú về văn hóa, tôn giáo, lối sống… Nhân viên CTXH phải có khả năng làm việc với khách hàng thuộc các văn hóa khác biệt, nhất là văn hóa thiểu số, thí dụ đồng bào sắc tộc, người già, người tàn tật, người nghiện hút, người vi phạm pháp luật, người đồng tính … Tất cả những hình thức kỳ thị, dù là kỳ thị tôn giáo, chủng tộc, địa phương, văn hóa, tính dục, tuổi tác, nam nữ… đều đi ngược lại những giá trị cơ bản nhất của CTXH, đó là tôn trọng, không phán xét, và chấp nhận tính thiện của con người. Nhân viên CTXH phải luôn luôn cảnh giác, không để văn hóa của bản thân ảnh hưởng đến công việc. Trong trường hợp không thể cưỡng được những ảnh hưởng đó, nhân viên CTXH phải có trách nhiệm giới thiệu khách hàng đến các cơ quan khác hay đồng nghiệp khác để bảo vệ lợi ích cao nhất của họ.

IV. HOẠT ĐỘNG TRONG KHUÔN KHỔ TRÁCH NHIỆM NGHỀ NGHIỆP/ACCOUNTABILITY

Trách nhiệm nghề nghiệp là một khái niệm rộng rãi, bao trùm đạo đức nghề nghiệp, trách nhiệm dân sự và hình sự của người làm bất cứ nghề nào dù thuộc khu vực công hay tư trong xã hội. Trách nhiệm nghề nghiệp đòi hỏi sự trả lời công khai (trừ một số trường hợp công việc có liên quan đến an ninh quốc gia, phải trả lời cơ quan điều tra kín) minh bạch về phương cách sản phẩm hay dịch vụ đã được cung cấp như thế nào và chất lượng của sản phẩm. Những sai phạm, thiếu sót về trách nhiệm nghề nghiệp dẫn đến các biện pháp chế tài của cơ quan thuê mướn người sai phạm, tổ chức quản lý nghề nghiệp, và của toà án. Ngoài ra, ở các nước phát triển còn có những tổ chức bảo vệ người tiêu dùng hay bảo vệ quyền của người dân. Những tổ chức này được sự tài trợ của tư nhân lẫn tiền thuế do quần chúng đóng góp vào ngân quỹ nhà nước, và hoạt động hoàn toàn độc lập, không chịu sự điều động của chính quyền, có mục đích điều tra và truy tố những hoạt đông dối trá, lừa đảo trong khu vực tư nhân và tham nhũng, lạm dụng quyền thế, chức vụ, trong khu vực công quyền. Những tổ chức này được gọi là “chó canh gác”/watch dogs giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì trách nhiệm nghề nghiệp của tất cả mọi người trong xã hội và gìn giữ phẩm chất của các quan chức trong guồng máy nhà nước.

Tính cách liên đới của tinh thần trách nhiệm nghề nghiệp đòi hỏi sự làm việc nghiêm túc của tất cả các cấp nhân sự trong mọi ngành nghề tư cũng như công. Thí dụ sau đây là một minh hoạ về trách nhiệm nghề nghiệp: ở một trường tiểu học tại Gil Roy, hạt Santa Clara, bang California, vào khoảng năm 2000, một nữ học sinh mắc bệnh khờ mách với huấn luyện viên thể dục là em bị một nhóm nam sinh xâm phạm tình dục trong nhà vệ sinh. Huấn luyện viên này cho là em nữ sinh khờ không nói đúng sự thật và bỏ qua, không có biện pháp can thiệp nào. Kết quả là sau đó em nữ sinh này bị nhóm nam sinh hiếp dâm nhiều lần. Khi nội vụ vỡ lở, gia đình nạn nhân đã kiện, không phải kiện trường tiểu học nơi xảy ra nội vụ, mà kiện học khu (là cơ quan quản lý nhiều trường học trong một khu vực địa lý rộng lớn). Huấn luyện viên liên quan bị sa thải, hiệu trưởng trường tiểu học liên hệ bị khiển trách, và học khu phải bồi thường cho nạn nhân một số tiền khá lớn.

Trong CTXH, trách nhiệm nghề nghiệp đòi hỏi nhân viên CTXH tuân theo nội quy về đạo đức nghề nghiệp của hội nhân viên CTXH. Nội quy này minh định vai trò và mối quan hệ chuyên nghiệp giữa nhân viên CTXH với khách hàng, với thượng cấp, với cơ quan chủ quản, với đồng nghiệp, với nghề CTXH, và với xã hội (xem phụ bản A).

Đối với CTXH, trong khu vực CTXH công, trách nhiệm chuyên nghiệp quan trọng vì công chúng là những người đóng thuế để chính phủ có tiền tổ chức mạng lưới cung cấp dịch vụ xã hội, và vì thế có quyền được biết tiền thuế do họ đóng góp đã được chi tiêu như thế nào, hiệu quả hay không và tại sao. Trong khu vực CTXH tư, số tiền liên quan có thể là tài trợ từ ngân sách Nhà Nước, từ các tổ chức từ thiện tư nhân, hoặc từ lệ phí do người tiêu dùng trực tiếp trả cho cơ quan hay cá nhân nhân viên CTXH. Trong một số trường hợp, tài chính của cơ quan CTXH bao gồm cả ba phần thuế, tài trợ tư và phí tư nhân. Dù bất cứ có nguồn gốc tài chính nào, cơ quan CTXH cũng phải có trách nhiệm chuyên nghiệp đối với khách hàng, nghĩa là dịch vụ cung cấp phải công bằng, không phân biệt đối xử đối với khách hàng, và được cung cấp bởi những nhân viên có trình độ chuyên môn nhất định đúng theo quy định của luật pháp.

Trách nhiệm nghề nghiệp khác với trách nhiệm thông thường/responsibility. Trách nhiệm nghề nghiệp là trách nhiệm với những đối tượng cụ thể và chế tài cụ thể nếu để xảy ra sai phạm. Trách nhiệm nghề nghiệp là điều không thể thiếu trong tất cả các tổ chức xã hội, và được áp dụng cho tất cả mọi người làm việc, từ người thợ trong phân xưởng sản xuất đến tổng giám đốc công ty; từ nhân viên thấp nhất trong guồng máy hành chánh đến cấp lãnh đạo cao nhất của một quốc gia. Trách nhiệm nghề nghiệp vô cùng quan trọng vì nó giúp mọi người làm việc nghiêm túc, có thể nói nơi nào trách nhiệm nghề nghiệp không được thi hành một cách thẳng thắn và rốt ráo, nơi đó sẽ xảy ra lạm quyền, tham nhũng, thối nát.

Trong CTXH, nhân viên CTXH có trách nhiệm nghề nghiệp với khách hàng, với cơ quan thuê mướn, với tổ chức tự quản của nghề CTXH, và với luật pháp. Vi phạm trách nghiệp nghề nghiệp xảy ra khi nhân viên CTXH có hành vi sơ sót hay sai quấy gây thiệt hại cho khách hàng. Sau đây là một số vi phạm trách nhiệm nghề nghiệp có thể xảy ra:

1. Để lộ thông tin về khách hàng

Bảo mật/confidentiality là một trong những nền tảng cho mối quan hệ nghề nghiệp giữa khách hàng và nhân viên CTXH, thiếu nó sẽ không có sự tin cậy và CTXH sẽ không thể tồn tại. Tất cả các thông tin liên quan đến mối quan hệ nghề nghiệp giữa khách hàng và nhân viên CTXH đều phải được giữ kín, hồ sơ khách hàng phải được lưu trữ thế nào để những người không liên quan không thể chạm đến. Thông tin chỉ được tiết lộ khi có giấy cho phép của khách hàng, khi có trát đòi của toà án, và khi sự tiết lộ thông tin cần thiết cho an toàn của khách hàng, của người khác hay của xã hội. Thí dụ khi khách hàng tiết lộ họ đang bị hành hạ ngược đãi về thể chất hay về tình dục, nhân viên CTXH phải thông báo cho cơ quan xã hội liên hệ (sở Bảo Vệ Người Già, sở Bảo Vệ Trẻ Em, cơ quan công an…) dù khách hàng không muốn. Trách nhiệm bảo mật này, và những ngoại lệ, phải được thông báo cho khách hàng bằng văn bản, với chữ ký của khách hàng ngay từ đầu và lưu trong hồ sơ khách hàng.

2. Thiếu sót trong công việc

Thí dụ khách hàng có nhu cầu và cộng đồng có nguồn tài nguyên liên hệ, nhưng nhân viên CTXH không giới thiệu, gây thiệt hại cho khách hàng. Thí dụ khách hàng chỉ biết dạy con bằng cách đánh đập nhưng nhân viên CTXH không giới thiệu đến lớp huấn luyện nghệ thuật làm cha mẹ do hội phụ nữ địa phương tổ chức, để cho tình trạng đánh đập con cái tiếp diễn. Điều cần lưu ý ở đây là cho dù biết trước khách hàng sẽ không hợp tác, nhân viên CTXH vẫn phải giới thiệu các dịch vụ cần thiết và ghi trong hồ sơ. Khách hàng có quyền tự quyết và chịu hậu quả do quyết định của họ gây ra (thí dụ không được toà án trả con).

3. Lợi dụng khách hàng

Trong CTXH, nhân viên CTXH có thể giúp khách hàng đạt được những kết quả rất tốt đẹp. Sai trái sẽ xảy ra khi nhân viên CTXH đặt điều kiện, và nhận quà cáp, hối lộ, trao đổi (tôi giúp anh xin được trợ cấp X., anh sửa xe cho tôi miễn phí…) từ khách hàng để giúp khách hàng đạt được điều thuận lợi nào đó.

4. Quan hệ bất chính với khách hàng

Rủi ro này dễ xảy ra trong lĩnh vực cố vấn tâm lý. Ở lĩnh vực này quan hệ giữa nhân viên CTXH (tư vấn tâm lý) và khách hàng là quan hệ rất gần gũi và bất bình đẳng. Nhân viên CTXH giỏi là người có uy tín, kiến thức, hiểu rõ và luôn luôn tôn trọng khách hàng, giúp khách hàng phục hồi và thăng tiến những ưu điểm của mình để vươn lên. Những đặc tính này rất gần với đặc tính của một người yêu lý tưởng. Bên cạnh con người lý tưởng này là khách hàng có những vấn đề khúc mắc, đổ vỡ, cô đơn, đau khổ… Vì vậy tình trạng khách hàng, qua quá trình làm việc gần gũi, phát sinh tình cảm quyến luyến đối với nhân viên CTXH, rất dễ xảy ra. Trong thực tế rất nhiều khách hàng trải qua đổ vỡ luôn khao khát một người yêu lý tưởng đã không đạt được trong tuổi dậy thì. Đến khi gặp người cố vấn tâm lý thì phóng chiếu những tình cảm trong quá khứ vào hiện tại, và coi người cố vấn như người yêu lý tưởng. Freud gọi hiện tượng này là “phóng chiếu”/transference, hiện tượng này giúp người cố vấn phát hiện được những uẩn khúc, những vết thương tinh thần trong quá khứ của khách hàng; tức là những nguyên nhân làm cho khách hàng đau khổ, thất bại, không hạnh phúc; từ đó giúp được khách hàng phân biệt quá khứ với hiện tại và lành được vết thương. “Phản phóng chiếu”/counter transference là cảm xúc của nhân viên CTXH đối với khách hàng bắt nguồn từ những nhu cầu không được thỏa mãn trong quá khứ. Phóng chiếu và phản phóng chiếu có thể là những cảm xúc tích cực hoặc tiêu cực. Thí dụ khách hàng ghét cố vấn tâm lý vì cố vấn tâm lý giống hệt ông bố nghiêm khắc đã từng hành hạ, đánh đập mẹ của khách hàng. Hoặc cố vấn tâm lý yêu khách hàng vì khách hàng có đôi mắt buồn tha thiết  y như đôi mắt của người yêu xưa đã lên xe hoa từ 20 năm trước… Phóng chiếu có thể có lợi cho công việc chuyên môn của nhân viên CTXH, phản phóng chiếu luôn có hại và là điều nhân viên CTXH phải hết sức chú ý để tự cảnh giác, không để những ẩn ức trong quá khứ của mình ảnh hưởng đến mối quan hệ chuyên nghiệp với khách hàng. Sai phạm nghiêm trọng về trách nhiệm nghề nghiệp sẽ xảy ra khi nhân viên CTXH có quan hệ bất chính, thí dụ quan hệ tình dục với khách hàng.

5. Hậu quả của sai phạm về trách nhiệm nghề nghiệp

Ở những nước có ngành CTXH phát triển như Mỹ, sai phạm về trách nhiệm nghề nghiệp có thể dẫn đến sa thải, mất chứng chỉ hành nghề (đối với cố vấn tâm lý), và truy tố trước toà án. Cơ quan thuê mướn người vi phạm trách nhiệm nghề nghiệp cũng có thể bị khách hàng nạn nhân thưa ra toà để đòi bồi thường thiệt hại.

V. KHẢ NĂNG LÀM VIỆC TRONG NHÓM

Giải quyết vấn nạn của khách hàng nhiều khi đòi hỏi sự đóng góp của nhiều người, nhiều nguồn tài nguyên khác nhau. Vì vậy nhân viên CTXH phải có kiến thức rộng về tất cả các tài nguyên có thể vận dụng để giới thiệu cho khách hàng, từ đó sẽ hình thành một nhóm những người cùng làm chung công việc giúp đỡ khách hàng. Những người này có thể là thân nhân của khách hàng, hoặc những người giúp đỡ chuyên môn thuộc nhiều ngành nghề khác nhau, thí dụ nhân viên CTXH, y tá, bác sĩ, người bảo hộ cho bệnh nhân tâm thần, người giám hộ cho trẻ em, thân nhân của khách hàng… Thành viên của nhóm có thể là những nhân viên của một cơ quan hoặc nhiều cơ quan khác nhau và được hình thành để phối hợp công việc giúp đỡ, chia xẻ khó khăn và tiến triển của khách hàng để điều chỉnh chương trình làm việc của riêng từng thành viên và của toàn nhóm. Tùy theo trường hợp, bản thân khách hàng cũng có thể là một thành viên của nhóm giúp đỡ. Sau đây là một thí dụ:

Nhóm những người giúp đỡ chuyên nghiệp họp tại các bệnh viện tâm thần ở Mỹ, gồm: đại diện bệnh viện tâm thần (bác sĩ, y tá, nhân viên CTXH trong bệnh viện), đại diện cơ quan bảo hộ thuộc Nha Xã Hội địa phương (nhân viên bảo hộ), đại diện cơ quan y tế ngoại chẩn cộng đồng (nhân viên CTXH), thân nhân bệnh nhân. Các buổi họp này do nhân viên CTXH trong bệnh viện triệu tập trước khi cho bệnh nhân xuất viện, để thảo luận và quyết định những vấn đề sau:

–     Bệnh nhân đã tiến triển như thế nào, khi nào có thể xuất viện.

–     Những việc cơ quan y tế ngoại chẩn, người bảo hộ và thân nhân có thể làm để bảo đảm bệnh nhân xuất viện sẽ có chỗ ăn ở, được gặp bác sĩ ngoại chẩn định kỳ và nhận thuốc men cần thiết, được giúp làm đơn xin hoặc nhận lại tiền cấp dưỡng hàng tháng dành cho người tật nguyền không có khả năng đi làm (khi bệnh nhân nhập viện số tiền này, khoảng 875 mỹ kim một tháng ở hạt Santa Clara, California, vào năm 2008, sẽ được Nhà Nước trừ vào chi phí bệnh viện và bệnh nhân không được lãnh đồng nào).

Do luôn luôn phải làm việc với nhiều người trong nhóm giúp đỡ, nhân viên CTXH phải có kiến thức và kỹ năng nhóm. Kiến thức bao gồm kiến thức tổng quát về các ngành nghề liên quan đến CTXH, kiến thức về các quá trình nhóm (hình thành, sinh hoạt, giải tán). Kỹ năng nhóm bao gồm kỹ năng thực hiện và thúc đẩy quá trình nhóm, kỹ năng hướng dẫn thảo luận, kỹ năng hoà giải mâu thuẫn, kỹ năng tạo lập và duy trì các mối quan hệ hợp tác thân thiện giữa các thành viên… Kỹ năng nhóm giúp nhân viên CTXH hoàn thành được nhiệm vụ của mình nghĩa là giúp khách hàng đạt được những mục tiêu đã đề ra.

(Trích từ Tập tài liêu: Công tác xã hội-Lý thuyết và thực hành, TrầnĐình Tuấn)

"Lý thuyết nhân loại học"

Anthropologie là môn học tổng hợp có tính liên ngành nghiên cứu nguồn gốc và quá trình phát triển của con người. Đối tượng của Anthropologie rất rộng rãi và được phân chia ra nhiều ngành rất khác nhau tùy theo từng nước. Có thể chia ra làm hai ngành, một là Anthropologie physique là nhân học hình thể nghiên cứu về phương diện tự nhiên (Nhân học, Nhân chủng học, Raciologie, …). Về phần xã hội, theo phương pháp Anglo-Saxons là Nhân loại học văn hóa (Anthropologie culturelle). Ở các nước khác như Liên Xô phân ra nhiều ngành nhỏ khác nhau.

Ban đầu, vào đầu thế kỷ 18, Anthropologie chịu ảnh hưởng của thuyết Tiến hóa luận với Charles Darwin và Herbert Spencer, tiếp theo là Lewis Henry Morgan và Friedrich Engels. Ở Liên Xô, Anthropologie theo thuyết Karl Marx và Friedrich Engles. Đến thế kỷ 20, có nhiều nhà lý luận với những góc độ khác nhau như trường phái Chức năng, Xã hội học, Sinh Tâm lý học … Tư tưởng Karl Marx nổi trội lên không chỉ ở thế giới Xã hội chủ nghĩa mà còn ảnh hưởng đến các tác giả của thế giới phương Tây. Những tác giả nội dung ảnh hưởng tư tưởng Marx, nhưng cũng có những tác giả không trích dẫn, còn tác giả khác thì nói rõ ra (Xem chú giải trong sách này).

Tôi ủng hộ quan điểm của các dịch giả nên dùng chữ Nhân loại học mà không nên dùng chữ Nhân học vì con người phải hiểu là con người xã hội. Anthropologie nghiên cứu những mối quan hệ giữa các cộng đồng người khác nhau (tộc người, dân tộc, mẫu hệ, phụ hệ, tôn giáo, tín ngưỡng, …).

Ở nước ta, trước khi đổi mới, chỉ có bộ môn Dân tộc học và Nhân loại học hình thể. Gần đây với thời kỳ đổi mới có chủ trương mở rộng thành Nhân học. Những quan điểm của Liên Xô đã được các nhà nghiên cứu trong nước thấm nhuần. Các lý thuyết về Nhân loại học của các nước Âu Mỹ mới được tìm hiểu vài năm gần đây. Cho nên việc dịch lý thuyết Nhân loại học của Liên Xô, tức là theo quan điểm Marx-Lénine, thì cần giới thiệu lý thuyết của phương Tây. Vì thế cuốn sách dịch của nhóm Lê Sơn Phương Ngọc và Đinh Hồng Phúc cùng một số đồng nghiệp: Tuyển tập lý thuyết Nhân loại học của R.Jon Mcgee – Richard L. Warms là một trong những cuốn sách mà chúng ta cần đến. Vốn lý thuyết rất trừu tượng lại được hiểu rất khác nhau nên ta xem cuốn sách này như một cuốn sách tham khảo cho việc học tập ở đại học và trên đại học.

Xin trân trọng giới thiệu bản dịch của Tiến sĩ Lê Sơn (Lê Sơn Phương Ngọc) và Đinh Hồng Phúc. Các tác giả đã đánh vật một cách công phu và khó khăn vì phải suy nghĩ tìm hiểu những từ mới để chuyển tải ý tưởng của các tác giả nước ngoài ra tiếng Việt.

Xin trân trọng giới thiệu với độc giả cuốn sách đồ sộ này.

Tp. Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2009

GS. Đặng Nghiêm Vạn

Nguồn: doxa.com.vn

Hội thảo xây dựng nghị định hướng dẫn thi hành Luật Người khuyết tật

Sáng ngày 29/9/2010, tại Hà Nội, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã tổ chức hội thảo nhằm lấy ý kiến đóng góp cho việc xây dựng nghị định hướng dẫn thi hành Luật Người khuyết tật và đánh giá kết quả thực hiện đề án trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2006-2010. Tham dự, có Thứ trưởng thường trực Đàm Hữu Đắc, đại diện các tổ chức của người khuyết tật trong và ngoài nước, lãnh đạo các Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Phòng Bảo trợ Xã hội của 20 tỉnh, thành phía Bắc.

Phát biểu tại hội thảo, Thứ trưởng Đàm Hữu Đắc cho rằng, trong những năm qua, cùng với việc đẩy mạnh phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước ta cũng đặc biệt quan tâm tới các đối tượng yếu thế, trong đó có người khuyết tật thông qua việc ban hành các văn bản, chính sách liên quan. Và gần đây nhất, Quốc hội đã thông qua Luật Người khuyết tật, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2011, góp phần nâng cao vai trò và vị thế, tạo cơ hội cho NKT hoà nhập cộng đồng. Tuy nhiên, bên cạnh đó, vẫn còn nhiều người khuyết tật có cuộc sống khó khăn, chưa được đào tạo nghề và có việc làm ổn định. Hơn nữa, việc tiếp cận với các vấn đề trợ giúp như chăm sóc sức khoẻ, phục hồi chức năng, giáo dục, đào tạo, giao thông… của NKT cũng còn nhiều bất cập, hạn chế.  Do vậy, để Luật NKT sớm đi vào cuộc sống, Thứ trưởng đề nghị, các đại biểu tham gia hội thảo hãy thẳng thắn thảo luận, góp ý cho dự thảo nghị định hướng dẫn để văn bản pháp luật này có thể cụ thể hoá những nội dung của luật, đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng của NKT. Cùng với đó, các bộ, ngành liên quan cũng cần nêu cao vai trò, trách nhiệm của mình trong việc tham gia góp ý dự thảo. Các cơ quan thông tin truyền thông cần đẩy mạnh hơn nữa việc tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về NKT để người khuyết tật được thụ hưởng đầy đủ các chế độ chính sách ban hành.

Đối với đề án 239 về trợ giúp NKT giai đoạn 2006-2010, Thứ trưởng cũng lưu ý các đại biểu cần đánh giá nghiêm túc, khách quan những kết quả đạt được, chưa đạt được và những nguyên nhân để rút ra bài học kinh nghiệm, tạo cơ sở cho việc xây dựng đề án trợ giúp NKT trong giai đoạn tiếp theo.

Tiếp đó, các đại biểu đã được nghe đại diện Cục Bảo trợ Xã hội giới thiệu nội dung của Luật Người khuyết tật và dự thảo nghị định hướng dẫn thi hành. Theo đó, dự thảo sẽ gồm 4 chương, quy định về các vấn đề: dạng tật, mức độ khuyết tật, chính sách giáo dục, hỗ trợ tạo việc làm cho NKT, chính sách bảo trợ xã hội, xã hội hoá các hoạt động trợ giúp NKT… Trong đó, đáng chú ý là việc nâng mức trợ cấp xã hội hàng tháng cho đối tượng là trẻ em và người cao tuổi là người khuyết tật đặc bịêt nặng từ mức 180.000 đồng (theo Nghị định 13) lên 450.000 đồng và có quy định chế độ trợ cấp đối với người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc NKT đặc biệt nặng là 270.000 đồng/tháng.

Dự kiến trong ngày 30/9, các đại biểu sẽ được nghe giới thiệu đề cương đánh giá thực hiện đề án trợ giúp NKT giai đoạn 2006-2010 và đề xuất những nội dung cơ bản để xây dựng đề án trợ giai đoạn tới 2011-2015; những thuận lợi, khó khăn trong quá trình tổ chức thực hiện đề án 239 ở một số tỉnh, thành.

Nguồn: molisa.gov.vn

Đại hội toàn thể Hội phát triển Công tác xã hội

Một số thành viên dự Đại hội

Vào lúc 9h ngày 26 tháng 09 năm 2010 tại Chùa Thắng Nghiêm, xã Cự Khê, Thanh Oai, Hà Nội đã diễn ra Đại hội Đại biểu toàn thể của Hội Phát Triển Công tác Xã hội (gọi tắt là Hội). Đến dự Đại hội có hơn ba mươi thành viên gồm các nhà khoa học, các chuyên gia nghiên cứu, đào tạo, giảng dạy và thực hành công tác xã hội, các nhà hoạt động công tác xã hội… Đây là những người quan tâm, say mê công tác xã hội, tự nguyện làm đơn gia nhập và xây dựng Hội, cam kết tuân thủ hoạt động theo đúng điều lệ của Hội và pháp luật Việt Nam.

Trước khi diễn ra Đại hội Đại biểu toàn thể, trong 2 ngày (ngày 11/9  tại thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ và ngày 22/9 tại Thanh Oai- Hà Nội)  Hội đã họp trù bị, đóng góp vào dự thảo về tôn chỉ, mục đích, và điều lệ của Hội cũng như chức năng nhiệm vụ của từng ban, quy chế vận hành website và bầu Ban Chấp hành lâm thời và Ban Kiểm tra của Hội.

Tại Đại hội, thay mặt Ban Chấp hành lâm thời, Phó chủ tịch thường trực Tạ Hải Giang đã giới thiệu về cơ cấu tổ chức nhân sự của Hội, các thành viên chủ chốt của các đơn vị chuyên môn, chức năng trực thuộc Hội.

Các Đại biểu đã nghe báo cáo và tham gia thảo luận sôi nổi, tích cực trên tinh thần đóng góp xây dựng và cùng nhất trí thông qua văn bản dự thảo do Ban Chấp hành Hội trình bày như: Điều lệ tổ chức và hoạt động của Hội; Quy chế làm việc chung và quy định chức năng nhiệm vụ của các Phòng/Ban trực thuộc Hội; Quy chế quản lý và vận hành Website của Hội và các văn bản mang tính pháp lý khác của Hội.

Toàn thể Đại biểu của Đại hội đã thống nhất quan điểm, tầm nhìn, tôn chỉ, mục đích Hội: là tổ chức xã hội nghề nghiệp nhằm tập hợp, đoàn kết những cá nhân, tổ chức, các nhà khoa học, các chuyên gia nghiên cứu, đào tạo, giảng dạy và thực hành công tác xã hội; các nhà hoạt động công tác xã hội; những người quan tâm có tâm huyết, tự nguyện hoạt động phấn đấu cho mục đích vì sự phát triển của ngành và nghề công tác xã hội tại Việt Nam và trợ giúp cho những đối tượng yếu thế trong xã hội. Hội hoạt động không vì mục đích lợi nhuận. Hoạt động của Hội trên phạm vi toàn quốc tuân thủ theo quy định của Pháp luật hướng tới chính quy, chuyên nghiệp. Hội có biểu tượng (logo) và website riêng.

Tất cả Đại biểu đều nhất trí cao về nghĩa vụ và quyền lợi của Hội viên như: được đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực, kỹ năng, nghiệp vụ chuyên môn; được chia sẻ, cung cấp thông tin, kinh nghiệm nghiên cứu, đào tạo, giảng dạy và thực hành công tác xã hội trong phạm vi, quyền hạn của Hội, theo quy định của pháp luật.

Hội là nơi liên kết và hợp tác với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước thực hiện các hoạt động nghiên cứu, tư vấn/tham vấn, đào tạo, triển khai các hoạt động cung ứng và các dịch vụ liên quan đến lĩnh vực công tác xã hội; cung cấp các luận cứ khoa học giúp hoạch định chính sách, xây dựng chủ trương, chính sách phát triển kinh tế – xã hội của Nhà nước.

Vào buổi chiều cùng ngày, các Đại biểu đã thông qua chức năng và nhiệm vụ của từng đơn vị chức năng, chuyên môn trực thuộc Hội và nghe ông Vũ Trùng Dương, Chủ tịch lâm thời của Hội trình bày về: chiến lược phát triển; phương thức, công tác phát triển Tổ chức Hội và Tài chính Hội; kế hoạch khung và một số hoạt động cụ thể của Hội trong thời gian tới. Theo định hướng chung, Hội phát triển Tổ chức, hội viên trên địa bàn trải rộng, thông qua các Chi hội ở cả ba miền: Bắc-Trung-Nam, ở các môi trường nghiên cứu, giảng dạy, hoạch định chính sách và tại các cơ sở ở cộng đồng.

Một số thành viên trong Ban Chấp hành lâm thời của Hội

Theo kế hoạch, việc kiện toàn Ban Chấp hành lâm thời, tiến đến tổ chức Đại hội chính thức và bầu ra cơ cấu Ban lãnh đạo có đầy đủ năng lực, tầm nhìn, điều kiện và khả năng đóng góp cho Tổ chức Hội sau này cũng được tiến hành, chuẩn bị. Đại hội cũng đã tín nhiệm và bầu chỉ định các Chi hội trưởng thuộc Hội tại các đơn vị, tổ chức như: các trường Đại học, Học viện, các viện nghiên cứu, các Trung tâm NGO và ở nhiều cơ quan khác.

Có thể nói, Hội ra đời là một dấu ấn quan trọng của những người làm Công tác xã hội, vì sự phát triển của Công tác xã hội. Hội là địa chỉ đáng tin cậy để trao đổi, chia sẻ thông tin, học thuật về Công tác xã hội. Đây cũng là diễn đàn trao đổi kinh nghiệm đào tạo, nghiên cứu, quản lý và thực hành Công tác xã hội của những người quan tâm, tâm huyết với ngành và nghề Công tác xã hội trong và ngoài nước./.

Giới thiệu về Hội phát triển Công tác xã hội

Hội Phát triển Công tác Xã hội là tổ chức xã hội nghề nghiệp nhằm tập hợp, đoàn kết những cá nhân, tổ chức, các nhà khoa học, các chuyên gia nghiên cứu, đào tạo, giảng dạy và thực hành công tác xã hội; các nhà hoạt động công tác xã hội; những người quan tâm có tâm huyết, tự nguyện hoạt động phấn đấu cho mục đích vì sự phát triển của ngành và nghề công tác xã hội tại Việt Nam và trợ giúp cho những đối tượng yếu thế trong xã hội. Hội hoạt động không vì mục đích lợi nhuận.

Tên gọi của Hội: Hội Phát triển Công tác Xã hội. Tên giao dịch quốc tế: Association of Social Work Promotion. Tên viết tắt: ASOP

Hội có chức năng: Tập hợp, liên kết và hợp tác với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước thực hiện các hoạt động nghiên cứu, đào tạo, tư vấn/tham vấn, triển khai các hoạt động ứng dụng và các dịch vụ liên quan đến lĩnh vực công tác xã hội theo quy định của pháp luật. Cung cấp các luận cứ khoa học giúp hoạch định chính sách, xây dựng chủ trương, chính sách phát triển kinh tế – xã hội của Nhà nước.

Hoạt động của Hội trên phạm vi toàn quốc, theo quy định của Pháp luật Việt Nam và hướng tới chính quy, chuyên nghiệp.

Hội viên chính thức của Hội là các thành viên của cơ quan, tổ chức, đơn vị và công dân Việt Nam có tâm huyết, trách nhiệm, có điều kiện tham gia công tác hội, tán thành điều lệ Hội, tự nguyện làm đơn gia nhập Hội, được Ban Chấp hành Hội xem xét công nhận.

Quyền lợi của Hội viên: được đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực, kỹ năng, nghiệp vụ chuyên môn; chia sẻ, cung cấp thông tin, kinh nghiệm nghiên cứu, đào tạo, giảng dạy và thực hành công tác xã hội trong phạm vi, quyền hạn của Hội, theo quy định của pháp luật.

Hội viên có trách nhiệm: Tham gia các hoạt động của Hội và sinh hoạt trong một tổ chức của Hội; Chấp hành pháp luật Việt Nam, Điều lệ Hội, Nghị quyết của Đại hội, Ban Chấp hành Hội; Tuyên truyền phát triển hội viên mới, đoàn kết hợp tác để cùng nhau thực hiện mục đích vì sự phát triển của Hội; Đóng hội phí theo quy định.

* Hội có hộp thư chung: socialworkorg@googlegroups.com VÀ Website: www.socialwork.vn để giao lưu, kết nối các thành viên thuộc Hội; là địa chỉ cung cấp các thông tin về hoạt động của Hội; lưu trữ, chia sẻ tài liệu chuyên ngành Công tác xã hội; là diễn đàn trao đổi kinh nghiệm nghiên cứu, đào tạo, quản lý và thực hành Công tác xã hội; thông tin, dịch vụ tư vấn/tham vấn của Hội về Công tác xã hội và lĩnh vực khác có liên quan./.

Mục lục tạp chí Research on Social Work Practice, số 9.2010

VNSW xin trân trọng giới thiệu danh mục một số bài viết chính trong tạp chí Research on Social Work Practice, số tháng 9.2010. Quý vị cần đọc bài viết nào, xin liên lạc qua email: khamtv@gmail.com.

  • Haluk Soydan, Intervention Research in Social Work, Research on Social Work Practice September 2010 20: 457458,
  • Mark W. Fraser and  Maeda J. Galinsky, Steps in Intervention Research: Designing and Developing Social Programs, Research on Social Work Practice September 2010 20: 459466,
  • Kathleen Ell, Pey-Jiuan Lee, and Bin Xie, Depression Care for Low-Income, Minority, Safety Net Clinic Populations With Comorbid Illnes, Research on Social Work Practice September 2010 20: 467475,
  • Mary M. McKay,Geetha Gopalan, Lydia M. Franco, Kosta Kalogerogiannis, Mari Umpierre, Orly Olshtain- Mann,William Bannon, Laura Elwyn, and Leah Goldstein, It Takes a Village to Deliver and Test Child and Family-Focused Services, Research on Social Work Practice September 2010 20: 476482,
  • Concepcion Barrio and Ann-Marie Yamada, Culturally Based Intervention Development: The Case of Latino Families Dealing With Schizophrenia, Research on Social Work Practice September 2010 20: 483492,
  • Gary R. Bond, Robert E. Drake, and Deborah R. Becker, Beyond Evidence-Based Practice: Nine Ideal Features of a Mental Health Intervention, Research on Social Work Practice September 2010 20: 493501,
  • Daniel B. Herman and James M. Mandiberg, Critical Time Intervention: Model Description and Implications for the Significance of Timing in Social Work Intervention, Research on Social Work Practice September 2010 20: 502508,
  • Jeffrey M. Jenson, William A. Dieterich, Daniel Brisson, Kimberly A. Bender, and Anne Powell, Preventing Childhood Bullying: Findings and Lessons From the Denver Public Schools Trial, Research on Social Work Practice September 2010 20: 509517,
  • J. David Hawkins, Valerie B. Shapiro, and Abigail A. Fagan, Disseminating Effective Community Prevention Practices: Opportunities for Social Work Education, Research on Social Work Practice September 2010 20: 518527,
  • Sheryl Pimlott Kubiak, Natalie Kasiborski, and Emily Schmittel, Assessing Long-Term Outcomes of an Intervention Designed for Pregnant Incarcerated Women, Research on Social Work Practice September 2010 20: 528535,
  • Amy C. Watson, Research in the Real World: Studying Chicago Police Department’s Crisis Intervention Team Program, Research on Social Work Practice September 2010 20: 536543,
  • Lawrence Albert Palinkas, Commentary: Cultural Adaptation, Collaboration, and Exchange, Research on Social Work Practice September 2010 20: 544546,
  • Paula S. Nurius, Rethinking the Bar on Standards of Evidence for Social Work Intervention Research, Research on Social Work Practice September 2010 20: 547549,
  • Robert Schilling, Commentary: The Challenge of Nonexperimental Interventions Studies in Social Work, Research on Social Work Practice September 2010 20: 550552,

Nguồn: SAGE Publications

Vài nét về Claude Lévi-Strauss và lý thuyết nhân loại học của ông

Claude Lévi-Strauss là nhà nhân loại học xã hội người Pháp, một lý thuyết gia hàng đầu của thuyết cấu trúc, vốn là thuyết được áp dụng vào việc phân tích các hệ thống văn hóa (như: các hệ thống quan hệ họ hàng và các hệ thống huyền thoại) dựa vào các quan hệ cấu trúc giữa các yếu tố của chúng. Thuyết cấu trúc không chỉ ảnh hưởng đến khoa học xã hội thế kỷ 20 mà còn đến các lĩnh vực khác: nghiên cứu triết học, tôn giáo so sánh, văn chương, điện ảnh.

Sau khi học triết học và luật học tại Universités de Paris [Viện Đại học Paris] (1927-1932), Lévi-Strauss đi dạy học ở một trường trung học ở Pháp, rồi sau đó được bổ nhiệm làm giáo sư xã hội học Viện Đại học São Paulo, Brazil (1934–37), và trên cương vị này, ông chuyên nghiên cứu về các các cộng đồng dân tộc bản địa ở Brazil. Từ năm 1941 đến 1945, ông là giáo sư thỉnh giảng tại trường New School for Social Reseach ở Thành phố New York, và ở đây ông quan tâm sâu sắc đến các công trình ngôn ngữ học của Roman Jakobson. Từ năm 1950 đến 1974, ông là giám đốc trường École Pratique des Hautes Études [Trường Cao đẳng Nghiên cứu Thực hành] thuộc Viện đại học Paris, và năm 1959, ông được bổ nhiệm chức giáo sư nhân loại học xã hội trường Collège de France (một cơ sở đào tạo cấp cao danh giá nhất nước Pháp). Năm 1973, ông được bầu vào Viện Hàn lâm Pháp. Claude Lévi-Strauss từ trần vào ngày 30 tháng 10 năm 2009, hưởng thọ 101 tuổi.

Các công trình nghiên cứu của ông thật phong phú và đồ sộ đến mức sẽ là một thử thách cực kỳ khó khăn cho bất cứ ai có tham vọng muốn tổng hợp toàn bộ sự nghiệp của ông, trong đó ta có thể kể đến một số công trình quan trọng nhất của ông: Les Structures élémentaires de la parenté [Cấu trúc sơ đẳng của quan hệ họ hàng, 1949], Race et Histoire [Chủng tộc và lịch sử, 1952],Tristes tropiques [Nhiệt đới buồn, 1955], Anthropologie structurale [Nhân loại học cấu trúc, 1958], Le Totémisme aujourd’hui [Tôtem giáo ngày nay, 1962], La pensée sauvage [Tư duy hoang dã, 1962]. Mythologies [Huyền thoại học, gồm 4 quyển: Le cru et le cuit / Cái sống và cái chín (1964), Du miel aus cendres / Từ mật đến tro (1967), L’Origine des manières de table / Nguồn gốc của phép tắc ăn uống (1968) và L’Home nu / Con người trần truồng (1971)], Anthropologie structurale deux / Nhân loại học cấu trúc, quyển II (1973), v.v..

Thuyết cấu trúc của Lévi-Strauss là một nỗ lực rút gọn một lượng khổng lồ các thông tin về các hệ thống văn hóa vào các quan hệ hình thức giữa các yếu tố của chúng. Ông xem các nền văn hóa như là các hệ thống giao tiếp và tiến hành xây dựng các mô hình dựa trên ngôn ngữ học cấu trúc, lý thuyết thông tin để giải thích chúng.

Vào những năm 1940, Lévi-Strauss đề xuất ý kiến rằng lĩnh vực nghiên cứu riêng của các nhà nhân loại học không phải ở việc tìm hiểu xem các cộng đồng dân tộc đã đưa thế giới của họ vào các phạm trù ra sao, mà ở việc xét xem những khuôn mẫu nền tảng của tư duy nhân loại tạo ra những phạm trù về thế giới như thế nào. Theo đuổi công việc tìm kiếm này, ông dành cả quãng đời còn lại để tiến hành các nghiên cứu xuyên-văn hóa về quan hệ họ hàng, các huyền thoại, và tôn giáo trong một nỗ lực hiểu cho được cái cấu trúc nền tảng của nhận thức của con người.

Lý thuyết của Lévi-Strauss về văn hóa dựa vào tâm lý học, nhưng khác với Sigmund Freud, ông không tin rằng cái cấu trúc tâm lý học là cái quy định văn hóa. Thay vào đó, Lévi-Strauss tin rằng những quá trình lôgic làm cơ sở cho việc cấu trúc toàn bộ tư duy con người vận hành trong những ngữ cảnh văn hóa khác nhau. Kết quả là, các hiện tượng văn hóa không mang tính đồng nhất, mà chúng chỉ là những sản phẩm của một khuôn mẫu tư duy phổ quát làm cơ sở. Nhân loại học của ông là một cố gắng tìm cách vạch ra cái khuôn mẫu này.

Thuyết cấu trúc của ông chịu ảnh hưởng sâu sắc của thế hệ các nhà bác học tiền bối người Pháp là Émile Durkheim và Marcel Mauss. Nhan đề của công trình chủ yếu đầu tiên của ông, Các cấu trúc sơ đẳng của quan hệ họ hàng (1949), mang âm hưởng của nhan đề một công trình vĩ đại của Durkheim về tôn giáo, Các hình thức sơ đẳng của đời sống tôn giáo (1912). Cái gọi là Trường phái Prague (Prague School) trong ngôn ngữ học cấu trúc, được tổ chức vào năm 1926, cũng đóng một vai trò quan trọng trong sự hình thành lý thuyết của ông. Nhóm các nhà bác học này, do nhà ngôn ngữ học Roman Jakobson (1896-1982) và Nikolai Troubetzkoy (1890-1938) sáng lập, nhấn mạnh phương diện đồng đại (mô tả) chứ không phải phương diện lịch đại (lịch sử) của nghiên cứu ngôn ngữ và cổ xúy cho lý thuyết rằng nghĩa của ngôn ngữ được xây dựng trên những sự đối lập giữa các âm, hay các âm vị. Các hội viên của Trường phái Prague đã định nghĩa và xác định tính chất cho việc nghiên cứu âm vị học về các ngôn ngữ. Việc làm này đã mang lại cho Lévi-Strauss khái niệm “các đối lập nhị phân”, vốn là khái niệm nền tảng trong quá trình ông xây dựng thuyết cấu trúc của mình.

Có lẽ cách đơn giản nhất để giải thích cơ sở lý luận của thuyết cấu trúc là đối sánh nó với ngôn ngữ học. Tất cả các ngôn ngữ đều được kết hợp từ các nhóm âm tố có tính chất võ đoán gọi là các âm vị. Bản thân các âm vị là không có nghĩa. Chỉ khi nào được kết hợp thành những đơn vị lớn hơn (các hình vị, các từ, các ngữ, v.v..) theo những mô hình nhất định (các quy tắc về cú pháp và ngữ pháp) thì các âm vị mới tạo thành những đơn vị có nghĩa (lời nói). Vì phần đông những người nói ở một ngôn ngữ không thể nối khớp các quy tắc làm cơ sở cho việc cấu trúc nên cách sử dụng các âm vị của họ và việc tạo ra một sự giao tiếp có nghĩa, thế nhưng tất cả họ đều có thể sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp với nhau một cách có hiệu quả. Vì thế, ở cấp độ tiềm thức, ta phải “biết” các quy tắc cấu trúc nên việc sử dụng ngôn ngữ của ta. Công việc của một nhà ngôn ngữ học là phải vượt khỏi sự sử dụng bề ngoài của ngôn ngữ và phát hiện ra các nguyên tắc vô thức này. Theo cùng cách như vậy, Lévi-Strauss cố gắng thiết kế một kỹ thuật nghiên cứu các nguyên tắc vô thức cấu trúc nên văn hóa của con người.

Với Lévi-Strauss, văn hóa, cũng như ngôn ngữ, về cơ bản là một tập hợp các biểu trưng có tính chất võ đoán. Ông không quan tâm đến nghĩa riêng biệt của các biểu trưng đến mức giống như nhà ngôn ngữ học quan tâm đến những âm vị của một ngôn ngữ. Đúng hơn, ông chú ý đến việc tạo khuôn mẫu cho các yếu tố, tức phương cách mà các yếu tố văn hóa quan hệ với nhau để tạo thành hệ thống tổng thể.

Một thức nhận then chốt của Trường phái Prague đó là các từ được xây dựng trên các đối lập (các đối lập nhị phân) giữa các âm vị chứ không phải đơn thuần là giữa các nhóm âm. Theo mô hình ngôn ngữ học này, Lévi-Strauss đề xuất ý kiến là khuôn mẫu nền tảng của tư duy nhân loại cũng sử dụng các đối lập nhị phân như đen-trắng, đêm-ngày, nóng-lạnh, v.v.. Thức nhận này rất trùng hợp với đề nghị của Durkheim và Hert rằng những sự phân biệt như thiêng-phàm, phải-trái đều là những bộ phận nền tảng của ý thức tập thể.

Công trình chính yếu đầu tiên của Lévi-Strauss là Các cấu trúc sơ đẳng của quan hệ họ hàng (1949). Ông dùng khái niệm cấu trúc nhị phân của tư duy con người để phân tích mối quan hệ họ hàng trong khi sử dụng công trình của Marcel Mauss. Trong Essai sur le don. Forme et raison de l’échange dans les sociétés archaïques [Bàn về quà tặng. Hình thức và lý do của sự trao đổi trong các xã hội nguyên thủy, 1925], Mauss cố chứng minh rằng hiện tượng trao đổi trong các xã hội nguyên thủy không phải do những động cơ kinh tế thúc đẩy mà do các quy tắc trao đổi lẫn nhau, mà sự liên kết xã hội lại phụ thuộc vào quy tắc này, thúc đẩy. Trong Các cấu trúc sơ đẳng của quan hệ họ hàng, Lévi-Strauss lấy quan niệm của Marcel Mauss về quan hệ có qua có lại và áp dụng nó vào vấn đề hôn nhân trong các xã hội nguyên thủy khi cho rằng phụ nữ là một hàng hóa có thể được mang đi trao đổi. Lévi-Strauss thừa nhận rằng một trong những phân biệt đầu tiên và quan trọng nhất của một ai đó là sự phân biệt giữa cái tôi và người khác. Sự phân biệt nhị phân “có tính chất tự nhiên” này dẫn đến sự hình thành việc cấm kị loạn luân, bắt buộc việc chọn vợ chọn chồng phải là người ngoài gia đình. Theo cách này, sự phân biệt nhị phân giữa họ hàng và không họ hàng được giải quyết bằng sự trao đổi những người phụ nữ lẫn nhau và sự hình thành mạng lưới họ hàng trong các xã hội nguyên thủy.

Mối quan tâm của Lévi-Strauss đến huyền thoại ở chỗ ông tin rằng việc nghiên cứu các huyền thoại của các cộng đồng dân tộc nguyên thủy sẽ cho phép ông khảo sát được cái khuôn mẫu ý thức phổ quát của tư duy nhân loại trong hình thức chưa bị vấy bẩn của nó. Trong quan niệm của ông, huyền thoại của các cộng đồng dân tộc nguyên thủy gần với các nguyên tắc phổ quát này hơn là với niềm tin của người phương Tây, bởi lẽ sự đào tạo mà ta tiếp nhận trong xã hội Tây phương sẽ chôn vùi cái cấu trúc lôgíc mà ông tìm kiếm dưới các lớp “giao thoa văn hóa” do môi trường xã hội Tây phương tạo ra.

Trong công trình nghiên cứu về các truyện huyền thoại, truyện kể dân gian và tôn giáo, Huyền thoại học, Lévi-Strauss mở rộng quan niệm rằng nhận thức của con người được cấu trúc thành các đối lập nhị phân. Ông cho rằng đặc trưng cơ bản của tư duy con người là mong muốn tìm ra một trung điểm giữa các đối lập ấy. Trong quan niệm của Lévi-Strauss, các yếu tố của truyện huyền thoại, giống như các âm vị của ngôn ngữ, chỉ có nghĩa khi chúng được sắp đặt theo các quan hệ cấu trúc nhất định. Kết quả là, nhà cấu trúc luận khảo sát các quy tắc quy định mối quan hệ giữa các yếu tố của truyện huyền thoại, bằng cách cố gắng phân giải truyện thành những yếu tố cấu thành và vạch ra cái nghĩa vô thức được tìm thấy trong các quan hệ nhị phân giữa chúng. Cái lõi cấu trúc ẩn giấu này sẽ vén mở những yếu tố chính yếu của tư duy nhân loại.

Để ghi nhớ những gì ông đã đóng góp cho văn hóa nhân loại, nhất là cho sự thông hiểu lẫn nhau giữa các vũ trụ văn hóa, chúng tôi sẽ lần lượt phiên dịch để giới thiệu rộng rãi cho bạn đọc yêu quý của trang web Doxa trong vài tuần tới hai bài viết mẫu mực của ông: một là bài “Phân tích cấu trúc trong ngôn ngữ học và trong nhân loại học”, một trong những bài viết kinh điển đầu tiên của Lévi-Strauss, công bố lần đầu vào năm 1945, trong đó ông dựa vào quan niệm của Mauss về quan hệ có qua có lại để phác thảo lý thuyết của mình về quan hệ dòng họ; hai là bài “Bốn huyền thoại của người Winnebago – một phác thảo cấu trúc” (1960), trong đó ông phác họa những phương diện cơ bản của phương pháp phân tích huyền thoại của ông bằng cách so sánh bốn câu chuyện huyền thoại của người Mỹ bản địa do Paul Radin sưu tập.

(Đinh Hồng Phúc tổng lược từ các tài liệu nước ngoài, http://doxa.com.vn)