Phương pháp Công tác xã hội nhóm

1. Khái niệm :

CTXH nhóm là phương pháp CTXH nhằm giúp tăng cường, củng cố chức năng xã hội của cá nhân thông qua các hoạt động nhóm và khả năng ứng phó với các vấn đề của cá nhân , có nghĩa là :

–   ứng dụng những kiến thức, kỹ năng liên quan đến tâm lý nhóm (hoặc   năng động nhóm)

–   nhóm nhỏ thân chủ có cùng vấn đề giống nhau hoặc có liên quan đến vấn đề

–   các mục tiêu xã hội được thiết lập bởi nhân viên xã hội trong kế hoạch hỗ trợ thân chủ (cá nhân, nhóm, cộng đồng) thay đổi hành vi, thái độ, niềm tin nhằm giúp thân chủ tăng cường năng lực đối phó, chức năng xã hội thông qua các kinh nghiệm của nhóm có mục đích nhằm để giải quyết vấn đề của mình và thỏa mãn nhu cầu.

Thí dụ : – Nhóm trẻ đá banh của lớp học tình thương (Nguyên Hương)

– Nhóm của 3 người bộ hành kết hợp để đẩy tảng đá bên dường.

2.Các mục tiêu của CTXH nhóm  :

–  Đánh giá (thẩm định) cá nhân : về nhu cầu/khả năng/hành vi qua  việc tự đánh giá của nhóm viên, đanh giá cùa tác viên (NVXH), đánh giá của bạn bè trong nhóm (nhóm trẻ em/người lớn phạm pháp, nhóm cha mẹ nuôi, trẻ em đường phố)

–  Duy trì và hỗ trợ cá nhân : hỗ trợ cá nhân đương đầu với những khó khăn của cá nhân hay khó khăn trước hoàn cảnh xã hội (nhóm người khuyết tật, nhóm phụ huynh khuỵết tật)

–  Thay đổi cá nhân : nhiều loại từ  hành vi cho đến phát triển nhân cách : kiểm soát xã hội (nhóm vi phạm luật pháp nhằm tránh tái phạm trong tương lai;  xã hội hoá

( nhóm trẻ trong cơ sở tập trung học tập kỹ năng xã hội để sống tại cộng đồng), hành vi tương tác (nhóm huấn luyện để tự khẳng định); giá trị và thái độ cá nhân (nhóm sử dụng ma túy nhằm tác động đế giá trị và thái độ của họ; hoàn cảnh kinh tế (nhóm người thất nghiệp với mục đích tìm việc làm), cảm xúc và khái niệm về bản thân (nhóm phát triển lòng tự trọng, tăng năng lực); phát triển nhân cách (nhóm T group).

–  Cung cấp thông tin, giáo dục (nhóm giáo dục sức khỏe, nhóm kỹ năng làm cha mẹ, nhóm tình nguyện viên).

–  Giải trí ( vui chơi để đền bù sự mất mát trong cuộc sống )

–  Môi trường trung gian giữa cá nhân và hệ thống xã hội : nhóm bệnh nhân và bệnh viện

–  Thay đổi nhóm và/ hoặc hỗ trợ : nhóm gia đình -cải thiện vấn đề truyền thông, nhóm trẻ phạm pháp-hướng hành vi tiêu cực sang những họat động tích cực.

–  Thay đổi môi trường : phát triển cộng đồng – nhóm ở cơ sở cải thiện chất lượng cuộc sống, nhóm đòi hỏi phương tiện cho con em phụ huynh lao động …

–  Thay đổi xã hội : Tăng nhận thức của cá nhân và tái phân phối quyền lực (nhóm chính quyền địa phương)

3. Các đặc điểm của công tác xã hội với nhóm :

–  Hoạt động nhóm là nơi thoả mãn nhu cầu của cá nhân

–  Đối tượng tác động là mối quan hệ tương tác trong nhóm

–  Nhóm tăng cường khả năng tự giải quyết vấn đề

– Ảnh hưởng nhón giúp thay đổi hành vi, thái độ của cá nhân

–  Nhóm là mội trường bộc lộ.

–  Các yếu tố cần quan tâm trong CTXH nhóm : 7 yếu tố

* Đối tượng là ai

* Nơi sinh hoạt, bối cảnh sinh hoạt

* Nhu cầu gì cần được đáp ứng

* Mục tiêu cần đạt được

* Giá trị : sinh hoạt nhóm dựa trên quan điểm gì

* Lý thuyết: sử dụng lý thuyết nào

* Phương cách thực hành ; cơ cấu, vai trò, trách nhiệm, mối quan hệ  bên trong và bên ngoài nhóm, các hoạt động nào được sử dụng, cách thức tổ chức …

4. Các loại hình công tác xã hội với nhóm:

– Nhóm giải trí : rèn luyện và phát triển nhân cách

– Nhóm giáo dục : Kiến thức và kỹ năng

– Nhóm tự  giúp

– Nhóm với mục đích xã hội hóa

– Nhóm trị liệu

– Nhóm trợ giúp

5. Các qui điều đạo đức trong công tác xã hội nhóm

6. Những thuận lợi và bất lợi trong trị liệu thông qua nhóm

6.1 Những thuận lợi :

Giúp những kinh nghiệm xã hội

Là nguồn hỗ trợ lẫn nhau và giải quyết vấn đề

Có thể thay đổi thái độ, cảm xúc, hành vi trong bối cảnh nhóm do tương tác xã hội bao gồm làm mẫu các vai trò, củng cố, phản hồi (cửa sổ Johari)

Mỗi thành viên trong nhóm là một người có tiềm năng giúp đỡ. Vai trò của NVXH và thân chủ ít phân biệt được trong nhóm vì sự giúp đỡ và chia sẻ lãnh đạo giữa các thành viên trong nhóm và nhân viên xã hội cũng là một thành viên.

Nhóm có thể dân chủ và tự quyết, cung cấp nhiều quyền lực hơn cho thân chủ

Nhóm thích hợp cho các đối tượng thụ hưởng dịch vụ.

Nhóm  có thể tiết kiệm thời gian và năng lực của nhân viên xã hội

6.2 Những bất lợi :

Việc bảo mật khó duy trì trong CTXH nhóm hơn là trong CTXH cá nhân.

Nhóm được thành lập có khó khăn để hoạch định, tổ chức và thực hiện. Công việc chuan bị cho loại nhóm nầy là quan trọng, có nhiều khó khăn cản trở phải khắc phục ở cấp độ nhóm viên, đồng nghiệp và cơ quan.

Nhóm cần nhiều tài nguyên : NVXH có thể phải thương lượng để có những tiện nghi, quỹ, trang thiết bị, , di chuyển…

Cá nhân ít được quan tâm riêng trong nhóm. Một số cá nhân, ít nhất là ở vào giai đoạn phát triển nào đó không thể ứng phó với việc chia sẻ, cạnh tranh trong bối cảnh nhóm, họ cần một sự quan tâm đặc biệt của một mối quan hệ cá nhân. Trong nhóm họ có thể disruptive, thụ động, tổn thương hay là vật tế thần. Đoi khi một thời gian công tác với cá nhân có thể chuẩn bị tốt cho sự tham gia nhóm.

Cá nhân dễ bị “dán nhãn” hơn. Thí dụ nhóm phụ huynh đơn thân, nhóm trẻ trốn học, nhóm nghiện rượu…

Nhóm có thể nguy hiểm đối với một thiểu số nhỏ. Nhóm và nghười hướng dẫn nhóm có thể tấn công một cá nhân, từ chối cá nhân. Lãnh đạo nhóm như thế nào sẽ giảm thiểu được nguy cơ nầy. (liên quan đến kỹ năng lãnh đạonhóm).

7. Lịch sử phát triển phương pháp công tác xã hội nhóm

Sử dụng nhóm trong CTXH như một phương pháp giúp đỡ tương đối mới, chỉ mới từ thập niên 1930s công tác nhóm mới được thừa nhận là một phần của nghề CTXH. Sử dụng nhóm như một phương tiện trị liệu trong bệnh viện, phòng khám … chỉ mới bắt đầu trong thế chiến thứ 2.

Tại Anh : Công tác nhóm bắt nguồn ở Anh vào thế kỹ 19, vào thời điểm có nhiều biến động và thay đổi từ cuộc cách mạng kỹ nghệ. Sự hình thành hệ thống các nhà máy, xưởng đã thu hút hút người dân cà nam lẫn nữ từ các làng mạc và thành phố nhỏ đến các khu công nghiệp trung tâm như Bristol, Birmingham, Sheffield và Luân Đôn. Việc tập trung số lượng người đông đảo và đột ngột nầy đã tạo ra những vấn đề nghiêm trọng như nhà ở, vệ sinh và tội phạm; các dịch vụ đang có lúc bấy giờ không đủ để giải quyết những vấn đề này.

Với sự phát triển của các xí nghiệp số người lao động ngày càng lệ thuộc kinh tế vào giới chủ nhân, họ không còn làm chủ sản xuất mà chỉ bán sức lao động, họ tùy thuộc vào giới chủ để hưởng long. Nếu tiền lương thấp, nếu không có việc làm họ sẽ không biết dựa vào cái gì để sống. Vấn đề xã hội rộng lớn đã ảnh hưởng đến hàng triệu gia đình. Sự nghèo đói lan rộng đối nghịch với sự gia tăng giàu có của quốc gia tập trung  vào một nhóm thiểu số.

Một số phong trào đã thành lập để giải quyết các vấn đề nhà ở, giáo dục, tội phạm, lao động trẻ em. Nhiều hội thiện cũng có mặt để cấp phát tiền bạc, thức ăng cho cá nhân và gia đình khốn khó, thường những tổ chức này thuộc các tôn giáo.

Những người tham gia vào những hoạt động an sinh xã hội này là những người thuộc tầng lớp giàu có, học hành cao, có đạo, họ tự xem mình là những ngườii có trách nhiệm làm cho cuộc sống an bình và tốt đẹp hơn. Họ cảm thấy có bổn phận và chia sẻ niềm tin rằng tương lai của một người tùy thuộc vào lòng tin và cách cư xử của họ.

Những câu lạc bộ, tổ chức đã thành lập để làm việc với cá nhân dưới hình thức nhóm. Một số tổ chức như trung tâm cộng đồng, YMCAs, YWCAs hình thành như một trung tâm và cung cấp các chương trình, hoạt động hàng tuần. Các tổ chức khác như hướng đạo, ..cung cấp các chương trình sinh hoạt lưu động.

Một trong những phong trào nổi bật là phong trào trung tâm mà người lãnh đạo là Samuel Barnett, người sáng lập Toynbee Hall, 1884, phong trào trung tâm đầu tiên tại Anh với các hoạt động : triễn lãm tranh, lớp học ngoài giờ, những lớp học đặc biệt cho người nghèo.

Trong khi các phong trào trung tâm sử dụng nhóm nhỏ như là phương tiện để giáo dục người nghèo và khó khăn, thì YMCA va YWCA sử dụng nhóm nhỏ như phương tiện để cứu rỗi linh hồn và tiến dần tới các hoạt động giải trí, lớp học, câu lạc bộ, thể thao.

Hướng đạo thì lại có những hoạt động ngoài trời cũng có sức lôi cuốn đặc biệt.

Tại Mỹ : Cuộc cách mạng kỹ nghệ mang lại nhiều thay đổi về văn hóa và xã hội. Kỹ nghệ phát triển, nhà máy mọc lên, công nhân được thuê mướn với đồng lương thấp trong điều kiên khó khăn và không an toàn. Người có tay nghề 20 xu/giờ, người không có tay nghề 10 xu/giờ. Năm 1830,  nhiều hội nhóm hình thành để giáo dục , vui chơi giải trí …Nhiều tổ chức, hội đoàn hướng về nhóm đã được thành lập ở Anh được sao chép lại tại Mỹ và Canada.

Nhiều người xem nhóm nhỏ như phương tiện sống động để xã hội hóa cá nhân, người thì coi nhóm nhỏ như những sức mạnh để duy trì một xã hội dân chủ. Các tổ chức trung tâm cộng đồng kết hợp nhiều chủ đề với mục tiêu của tổ chức họ. Đại học Toronto thì định nghĩa chức năng của nó như một trung tâm giải trí, xã hội và giáo dục của cộng đồng, dịch vụ bao gồm câu lạc bộ athelic cho trẻ trai, lớp học Anh văn cho người lớn, câu lạc bộ bạn bè cho trẻ em, lớp học cho những trẻ phải bỏ học sớm để đi làm.

Niềm tin rằng nhóm nhỏ có thể là phương tiện tích cực để xây dựng nhân cách và nâng cao sự phát triển của trẻ em. Trẻ đến với nhóm và với người trưởng nhóm có trách nhiệm, quan tâm sẽ học được những kỹ năng xã hội và giá trị của xã hội rộng lớn hơn.

Thập niên 1900s, vui chơi giải trí điều mà trong thế kỹ trước được coi là những hoạt động để choán những giờ rãnh rỗi thì nay được coi là phương tiện qua đó người ta có thể ứng phó với thực tiễn, tiếp nhận những nguyên tắc đạo đức mà họ có thể thực hiện trong đời sống hằng ngày, và học hỏi những kỹ năng tương quan.

–  Sự khác biệt giữa công tác xã hội cá nhân và nhóm

CTXHCN : khám phá bên trong liên quan đến các tiếp cận diễn biến tâm lý với sự chuẩn bị tài nguyên thật cụ thể trong khi CTXH nhóm dựa trên chương trình hoạt động kích thích nhóm viên hoạt động

Cá nhân nhắm đến giải quyết vấn đề và phục hồi trong khi CTXH nhóm

Đối tượng của CTXH cá nhân phần lớn là người kém nay mắn, thiếu thốn, kém năng lực (từ được dùng là thân chủ) trong khi đối tượng của CTXH nhóm bao gồm nhiều loại thành phần hơn (từ nhóm viên, thành viên hơn)

Báo cáo của CTXH cánh

–  Các thuyết ảnh hưởng đến phương pháp công tác xã hội nhóm :

a/ Thuyết hệ thống : Theo Parson  nhóm là hệ thống xã hội với những thanh viện lệ thuộc hỗ tương cố gắng duy trì trật tự và sự can bằng như một thể thống nhất. Nhóm phải vận động tài nguyên để đáp ứng nhu cầu. Nhóm có 4 nhiệm vụ chính : (1) hội nhập – đảm bảo rằng các nhóm viên hoà hợp với nhau; (2) thích nghi – đảm bảo rằng nhóm thay đổi để ứng phó với nhu cầu đòi hỏi của môi trường; (3) duy trì – đảm bảo rằng nhóm xác định và duy trì được mục đích cơ bản, bản sắc, và phương cách của nó; (4) đạt mục tiêu – đảm bảo rằng nhóm theo đuổi và hoàn thành trách nhiệm. Nhóm phải hoàn tất 4 công việc này để duy trì được sự quân bình, đây là công việc dành cho tác viên và nhóm viên của nhóm.

Theo Robert Bales, Thì nhóm phải giải quyết 2 vấn để để tự bảo tồn, đó là vấn đề liên quan tới công việc và vấn đề liên quan tới cảm xúc tức bầu không khí nhóm.

Parson nhấn mạnh tới sự hài hoà và quân bình, trong khi  đó Bales nhấn mạnh tới sự căng thẳng và xung đột. Nhóm có khuynh hướng vacillate giữa sự vthích nghi với môi trường bên ngoài và quan tâm tới sự hội nhập bên trong. Bales gọi đây là sự quân bình năng động. Nghiên cứu sự quân bình năng động này và thấy rằng để giải quyết vấn đề liên quan tới công việc các nhóm viên cho ý kiến, cung cấp thông tinyêu cầu các đề nghị hoặc đưa racá d62 nghị. Để giải quyết vấn đề về cảm xúc các nhóm viên bày tỏ sự đồng ý, không đồng ý, bày tỏ sự căng thẳng hay giải toả sự căng thẳng, bày tỏ sự đoàn kết hay xung đột. Qua mối tương tác này các thành viên nhóm  giải quyết vấn đề trao đổi, lượng giá, kiểm soát, lấy quyết định,  giảm căng thẳng và hội nhập.

Có thể rút ra từ các quan điểm khác nhau về thuyết hệ thống những khái niệm đáng quan tâm đối với tác viên nhóm như sau :

– Sự hiện diện của tài sản của nhóm như một tổng thể xuất phát từ mối tương tác giữa các cá nhân trong nhóm

– Sức ép mãnh liệt của nhóm lean trên hành vi của cá nhân

– Khi nhóm giải quyết những mâu thuẫn là sự đấu tranh để tồn tại

– Nhóm phải nối kết với môi trường bean ngoài và quan tâm tới sự hội nhập bên trong.

– Nhóm thường xuyên ở trong tình trạng trở thành, phát triển, thay đổi

– Nhóm có một chu kỳ sống.

b/ Thuyết tâm lý năng động : Theo lý thuyết này nhóm viên thể hiện những xung đột không giải quyết được từ kinh nghiệm sống từ thời bé. Bằng nhiều cách nhóm tái hiện lại tình huống gia đình, thí dụ như mô tả người trưởng nhóm như hình ảnh của người cha có toàn quyên trên các nhóm viên. Nhóm viên hình thành những phản ứng chuyển giao cho người trưởng nhóm và cho nhau trên cơ sở những kinh nghiệm sống thuở ban đầu của họ. Như vậy mối tương tác diễn ra trong nhóm phản ảnh cơ cấu nhân cách vả cơ chế tự vệ mà nhóm viên bắt đầu phát triển từ thời thơ ấu. Tác viên sử dụng sự giao dịch này để giúp cho nhóm viên giải quyết các xung đột chưa giải quyết của họ bằng cách thăm dò mẫu hành vi trong quá khứ và nối kết với những hành vi hiện tại. Thí dụ tác viên có thể diễn dịch hành vi của 2 nhóm viên đang tranh giành sự quan tâm của trưởng nhóm như sự tranh chấp không giải quyết được của 2 anh em. Khi diễn dịch của tác viên đúng lúc thì các nhóm viên hiểu được hành vi của riên họ. Theo thuyết tâm lý năng động thì sự hiểu biết này là thàn h tố cần thiết trong việc điều chỉnh và thay đổi hành vi bean trong và bên ngoài nhóm.

c/ Thuyết học hỏi : Thuyết gây nhiều tranh cải trong CTXH nhóm nhất. Điều cơ bản của lý thuyết này là nhấn mạnh đến hành vi cá nhân hơn là hành vi nhóm. Theo lý thuyết này hành vi của nhóm có thể được giải thích bằng 1 trong 3 phương pháp học tập.Theo lối tiếp cận cổ điển, hành vi có liên quan tới stimulus. Thí dụ như một nhân viên đáp ứng bằng một lời phê tiêu cực mỗi khi một nhóm viên quay qua nói với một nhóm viên khác trong lúc nhân viên và các nhóm viên khác đang nói. Sau nhiều lần như vậy chỉ cần nhóm viên tái hiện hành vi quay qua mà không nói chuyện cũng đủ cho người nhân viên nhận xét tiêu cực rồi.

Phương pháp thứ hai thông thường hơn gọi là điều kiện hoạt động. Hành vi của nhóm viên và tác viên được điều hành bởi kết quả của hành động của họ.Nếu một nhóm viên có mội hành vi nào đó và nhóm viên B đáp ứng một cách tích cực thì nhóm viên A có thể sẽ tiếp tục hành vi đó. Tương tự nếu tác viên nhận được phản hồi tiêu cực từ nhóm viên về một hành vi nào đó thì tác viên có thể sẽ không cư xử như thế trong tương lai.

Trong nhóm tác viên có thể dùng sự khken ngợi để gia tăng sự giao tiếp giữa nhóm viên và nhóm viên và những nhận xét tiêu cực để làm giảm sự giao tiếp giữa tác viên và nhóm viên.

Mô hình thứ ba là lý thuyết học hỏi xã hội. Nếu nhóm viên và tác viên chờ đợi điều kiện hoạt động hay cổ điển diễn ra thì những hành vi trong nhóm được học hỏi rất chậm chạp. Bandura cho rằng hầu heat việc học hỏi diễn ra qua sự quan sát và ca ngợi hay củng cố vicarious hay trừng phạt. Thí dụ, khi một nhóm viên được khen ngợi vì một hành vi nào đó thì tác viên và nhóm viên khác sẽ tái tạo hành vi đó sau này hy vọng là sẽ nhận được sự khen thưởng tương tự. KHi một nhóm viên thể hiện một hành vi nào đó mà xã hội không quan tâm hay trừng phạt thì những nhóm viên khác sẽ học là không cư xử như thế vì hành vi đó đem lại kết quả tiêu cực.

d/ Thuyết hiện trường : Kurt Lewin đã thực hiện nhiệu cuộc thou nghiệm về sức ép để giải thích hành vi trong nhóm nhỏ. Theo lý thuyết hiện trường của Lewin thì nhóm có một không gian sống, nó chiếm một vị trí tương quan với các vật thể khác trong khoảng không gian nầy, nó được hướng dẫn để đạt được mục tiêu, nó vận chuyển để theo đuổi những mục tiêu này, và nó có thể gặp nhiều trở ngại trong tiến trình vận chuyển. Sự đóng góp độc đáo của thuyết hiện trường là xem nhóm như một tổng thể (gestalt), đó là sự phát triển từ từ những lực đối lập để giữ cho nhóm viên gắn với nhómvà làm cho nhóm tìm cách để đạt được mục tiêu. Theo Lewin, nhóm liên tục thay đổi để ứng phó với tình huống xã hội dù rằng có nhiều khi nó ở trạng thái gần như đứng yên.Lewin đưa ra vài khái niệm để hiểu về sức mạnh của nhóm đó là :

– vai trò :vị trí, quyền và bổn phận của nhóm viên

– Qui chuẩn : những nguyên tắc điều hành/chi phối hành vi của nhóm viên

– Quyền lực : khả năng nhóm viên ảnh hưởng lẫn nhau

– Sự liên kết : toàn bộ những hấp lực và sự lôi cuốn của các thành viên trong nhóm cảm nhận về nhau và vể nhóm.

– Sự nhất trí : Mức độ đồng ý về mục tiêu và các hiện tượng khác trong nhóm

– Tiềm năng (valence) đạt mục tiêu và object trong không gian sống của nhóm.

Thuyết hiện trường của Lewin cho rằng người ta sẽ không thay đổi hành vi của minh cho tới khi nào họ thấy rõ hành vi của mình như người khác thấy.

e/ Thuyết trao đổi xã hội: thuyết nay nhấn mạnh đến hành vi cá nhân của các thành viên trong nhóm. Phát xuất từ những học thuyết trò chơi, phân tích kinh tế , tâm lý động vậtcác nhà lý thuyết trao đổi xã hội cho rằng khi người ta tương tác trong nhóm , mỗi người đều cố gắng hành xử để gia tăng tối đa sự khen thưởng và giảm thiểu tối đa sự trừng phạt. Các thành viên trong nhóm bắt đầu tương tác vì những sự trao đổi xã hội này đem lại cho họ điều gì đó có giá trị, như sự tán thành chẳng hạn. Theo các nhà lý thuyết trao đổi xã hội thì thường người ta không thể nhận được gì nếu người ta không cho, có moat sự trao đổi ngầm trong mọi mối quan hệ giữa con người.

Trong lý thuyết trao đổi xã hội, hành vi nhóm được phân tích bằng cách quan sát cách mà những cá nhân thành viên tìm kiếm sự khen thưởng trong khi ứng phó với sự tương tác diễn ra trong nhóm. Đối với một cá nhân trong một nhóm, quuyết định diễn tả m65t hành vi dựa vào sự can nhắc, so sánh giữa sự khen thưởng và trừng phạt có thể có từ hành vi đó. Các thành viên trong nhóm cư xử  để gia tăng những hiệu quả tích cực và làm giảm những kết quả tiêu cực. Lý thuyết trao đổi xã hội cũng nhấn mạnh đến cái cách mà các thành viên nhóm ảnh hưởng lẫn nhau trong các tương tác ã hội. Kết quả của bất kỳ sự tương tác xã hội nào cũng đều dựa trên quyền lực xã hội và sự lệ thuộc xã hội trong mối tương tác đặc biệt.

Lý thuyết này được sử dụng để làm việc với nhóm thanh thiếu niên phạm pháp trong cơ sở, nhóm cấu trúc được sử dụng để đối đầu, thách thức, và xóa đi những qui chuẩn nhóm đồng đẳng chống xã hội và thay thế chúng bằng những qui chuẩn hỗ trợ xã hội thông qua sự tương tác nhóm đồng đẳng được hướng dẫn.

Lý thuyết trao đổi xã hội bị phê bình là máy móc vì n1 giả định người ta luôn luôn là sinh vật có lý trí hành động theo sự  phân tích về thưởng phạt. Các nhà lý thuyết trao đổi xã hội ý thức rằng tiến trình nhận thức ảnh hưởng đến cách người ta cư xử trong nhóm. Cái nhìn của các thành viên nhóm chịu ảnh hưởng bởi tiến trình nhận thức như ý định và sự mong đợi.

( Nguyễn Ngọc Lâm, http://www.nttcenter.com)

Phương pháp Công tác xã hội cá nhân

1. Sự phát triển của CTXH cá nhân (CTXHCN)

CTXHCN là phương pháp can thiệp đầu tiên của ngành được xây dựng một cách khoa học. Phương pháp này bắt đầu từ cuối những năm 1800 với các tổ chức Từ Thiện (Charity Organizations) Mỹ. Các tổ chức này tuyển dụng những nhà thăm viếng hữu nghị (friendly visitors) để giúp đỡ người nghèo. Họ tới thăm từng người, tìm hiểu cặn kẽ những người cần sự giúp đỡ, cho những lời khuyên và giúp đỡ tài chánh. Dịch vụ chủ yếu mà họ cùng cấp là tham vấn.

Thời gian sau những khám phá của các nhân viên này cho thấy rằng nguyên nhân khó khăn không chỉ xuất phát từ một khiếm khuyết của nhân cách mà từ các điều kiện xã hội trong đó thân chủ sinh sống. Họ kết luận rằng môi trường có một ảnh hưởng rất lớn đối với cá nhân. Từ đó các tổ chức Từ Thiện nói trên quyết định thực hiện cải cách xã hội để cải thiện các điều kiện vật chất và xã hội của người lao động nghèo. Họ đã thành công ở nhiều khía cạnh, tuy nhiên mặc dù có những cải thiện nhiều gia đình tiếp tục sống trong nghèo khổ và bần cùng. Từ đó họ quyết định rằng các “nhà thăm viếng hữu nghị” phải làm việc gầân gũi hơn nữa với từng cá nhân và gia đình trên cơ sở trực tiếp với từng trường hợp một.

Một trong các khám phá của giai đoạn này là sự phục hồi của thân chủ không thể thực hiện chỉ bằng tham vấn. Sự giúp đỡ tài chánh cũng cần thiết cho gia đình thân chủ trong giai đoạn thích ứng, tái huấn luyện và phục hồi. Từ đó các cơ sở xã hội giúp đỡ tài chánh kèm theo tham vấn.

Đầu những năm 1900 Mary Richmond và các nhà tiên phong khác về CTXH cá nhân xây dựng một cách tiếp cận khoa học hơn để giúp đỡ thân chủ. Bà hình dung CTXHCN như một tổng thể gồm 3 mặt: nghiên cứu xã hội, chẩn đoán, trị liệu. Ngày nay tổng thể 3 mặt này gồm 7 bước: nhận diện vấn đề, thu thập dữ kiện, thẩm định chẩn đoán, kế hoạch trị liệu, trị liệu, lượng giá và tiếp tục hay chấm dứt. Từ đó CTXHCN tiếp tục phát triển. Những năm đầu CTXHCN chịu sự ảnh hưởng của mối quan tâm đến các điều kiện kinh tế xã hội ảnh hưởng hoàn cảnh của thân chủ. Kế đó dưới ảnh hưởng của những khám phá của Signumd Freud và môn đồ của ông ta, các NVXH xem xét kỹ càng hơn khía cạnh tình cảm và tâm lý xã hội trong vấn đề của các nhân thân chủ. Các bịnh viện đa khoa bắt đầu tuyển dụng NVXH để tìm hiểu điều kiện gia đình và sinh sống của bịnh nhân nhằm mục đích chữa trị về y khoa.

Chiến tranh thế giới thứ nhất cũng ảnh hưởng đến CTXH cá nhân. NVXH bắt đầu làm việc gần gũi với các cựu chiến binh và gia đình họ. Theo kết quả quan sát và kinh nghiệm, họ đem cách giải thích về tâm lý và tâm thần học để thay thế các lý giải may tính xã hội học. Họ bắt đầu điều chỉnh phương pháp làm việc với những con người có nhu cầu. Một số nguyên tắc hướng dẫn và tiền đề về giá trị hình thành trong giai đoạn này.

Thế chiến thứ hai cũng ảnh hưởng đến sự thực hành CTXHCN. Người ta quan sát thấy song song với khó khăn vật chất, những khó khăn về nhân cách ngày càng gia tăng. Từ đó NHXH xem xét lại tính chất các dịch vụ mà họ cung ứng cho các cá nhân có vấn đề về nhân cách. Tham vấn được tăng cường và nới rộng để bao gồm gia đình của thân chủ. Càng ngày người ta cũng nhận thấy về ảnh hưởng của văn hóa đối với hành vi của thân chủ. Các NVXH trong lãnh vực y tế và tâm thần ngày càng được tìm tới.

Ngày nay với nhiều ảnh hưởng khác nhau xoay quanh cá nhân, trọng tâm của sự can thiệp không chỉ còn là cá nhân, mà “cá nhân trong tình huống”, đây là sự công nhận mối tương tác giữa cá nhân và môi trường…

2. Phương pháp CTXHCN

CTXH cá nhân là một phương pháp can thiệp (của CTXH) quan tâm đến những vấn đề về nhân cách mà một thân chủ cảm nghiệm. Mục đích của CTXHCN là phục hồi, củng cố và phát triển sự thực hành bình thường của chức năng xã hội của cá nhân và gia đình. NVXH thực hiện điều này bằng cách giúp tiếp cận các tài nguyên cần thiết. Về nội tâm, về quan hệ giữa người và người, và kinh tế xã hội. Phương pháp này tập trung vào các mối liên hệ về tâm lý xã hội, bối cảnh xã hội trong đó vấn đề của cá nhân và gia đình diễn ra và bị tác động.

Vì sự hình thành và phát triển của CTXH cá nhân xuất phát cách đây cả trăm năm các nhà thực hành đã phát triển nhiều cách tiếp cận khác nhau để sử dụng phương pháp này một cách hiệu quả. Tiến trình hay các bước đi không thay đổi, các khác biệt nằm ở trọng tâm và các công cụ trị liệu. Các nhà tiên phong trong CTXHCN đặc biệt như Mary Richmond, Gordon Hamlton và Florence Hollis triển khai cách tiếp cận tâm lý xã hội. Mối quan tâm chính là thực tiễn tâm lý xã hội nội tâm của con người và bối cảnh xã hội trong đó anh ta sống. Cách tiếp cận thứ hai được gọi là “giải quyết vấn đề”. Người chủ trương chính của cách tiếp cận này là Helen Harris Perlman tin rằn sự lôi cuốn thân chủ vào tiến trình giải quyết vấn đề tự nó là một cách trị liệu. Sau đó các NVXH theo đường lối của Ruth Smalley và Tybel Bloom hình thành cách tiếp cận chức năng. ở đây dịch vụ được cung cấp trên cơ sở chức năng của cơ quan xã hội là phương tiện trị liệu. Cách tiếp cận tập trung vào một nhiệm vụ do William Reid và Laura Epstein chủ trương, tập trung vào vệc giúp thân chủ đạt một mục tiêu cụ thể do anh ta chọn và trong thời gian giới hạn. Thực hiện mục tiêu ấy chính là trị liệu. Kế đó là “can thiệp khi khủng khoảng” do nhiều NVXH sử dụng khi ngành CTXH mới bắt đầu. Theo Howard J. Parad và sau đó Naomi Golan, đây là tích cực tác động vào chức năng hoạt động tâm lý xã hội của một cá nhân trong giai đoạn khủng khoảng. Sự lựa chọn phương pháp nào tùy thuộc sự thẩm định về tâm sinh lý của các nhân và gia đình trong tình huống xã hội.

CTXHCN có 4 thành tố: con người, vấn đề, cơ quan và tiến trình.

3. Con người thân chủ

Mục đích của CTXHCN là gương cá nhân và gia đình hoạt động có hiệu quả hơn trong các mối quan hệ tâm lý xã hội. Vì thế NVXH phải có những hiểu biết cơ bản về hành vi con người.

Con người là saœn phẩm của tự nhiên và giáo dưỡng và luôn luôn trên đà thay đổi. Dễ hiểu anh ta và những vấn đề của anh ta NHXH phải có kiến thức cơ bản về tương tác giữa các ảnh hưởng sinh lý, tâm lý, văn hóa xã hội trên hoạt động của cá nhân và nhóm. NVXH cũng phải biết mối quan hệ giữa con người và môi trường. Các học thuyết về tâm lý giúp NVXH hiểu hành vi quá khứ và tương lai của thân chủ và dự báo được những gì sẽ xảy ra. Vì chính thân chủ là người phải hành động để giải quyết vấn đề của mình trong khả năng của anh ta, NVXH phải biết tìm hiểu, thaœo luận và huy động động cơ của thân chủ và khả năng sẵn có và còn tiềm tàng của thân chủ. Nếu thẩm định đúng động cơ và năng lực của thân chủ NVXH có thể ít nhiều xác định thân chủ có thể vận dụng hiệu quả của CTXHCN đến mức nào và họ cùng nhau (TC và NVXH) đặt ra những mục đích thực tế và đạt được.

4. Vấn đề

Vấn đề mà TC gặp phải có thể thuộc lãnh vực tâm lý xã hội, môi trường hay sự kết hợp cả hai. Những vấn đề này cản trở TC trong thực hiện mục đích và do đó ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động tâm lý và xã hội của anh ta. Những vấn đề có thể là những khó khăn về đời sống như sự thiếu ăn, thiếu tình thương, ở nhà hay bỏ trốn, giữ hay cho đi đứa con ngoại hôn, ở lại trong tình trạng thất nghiệp hay ra nước ngoài v.v… Khó khăn của một cá nhân có thể bắt nguồn từ sự thiếu tài nguyên kinh tế hay xã hội, trình độ học vấn thấp, thiếu kỹ năng và kinh nghiệm, mâu thuẫn trong mối quan hệ, cảm xúc trước một thử thách nặng, hay các nhân tố tâm lý xã hội liên quan đến bịnh hoạn, khuyết tật, sự không thỏa mãn trong các mối quan hệ, mâu thuẫn với cơ quan, tổ chức. Hoặc cũng có thể là những rối loạn tâm lý, gia đình không thích nghi hay nhóm trục trặc.

Bất cứ khó khăn nào trong số này cũng có thể làm cho cá nhân bị trục trặc trong chức năng của mình.

5. Cơ quan xã hội

Cơ quan là nơi cung cấp các dịch vụ và tài nguyên bên ngoài mà cá nhân hoặc gia đình không có. Đại diện của cơ quan để giúp thân chủ là NVXH. NVXH là người trực tiếp cung cấp dịch vụ phục vụ thân chủ.

Các cơ quan được phân loại như thuộc chính phủ hay ngoài chính phủ tùy nguồn tài trợ. Tổ chức chính phủ được chính quyền tài trợ và các tổ chức ngoài (phi) chánh phủ gây quỹ từ các chiến dịch, hay từ những sự đỡ đầu tài chánh khác. Một số ít là cơ quan bán công vì họ có nhận một phần tài trợ từ chính phủ mặc dù nguồn chính là từ bên ngoài.

Các cơ quan cũng có thể được phân loại theo sự chủ quản. Cơ quan chỉnh phủ được phép hoạt động từ chính phủ, phần lớn trên cơ sở luật lệ. Cơ quan tư nhân được cấp quyền hạn từ một nhóm công dân có quan tâm hay một cộng đồng hoặc lãnh vực tư nhân.

Cũng có thể phân loại theo chức năng. Bộ xã hội là một cơ quan đa năng với nhiều loại thân chủ như trẻ em và thanh niên, gia đình và phụ nữ thiệt thòi, người tật nguyền, nạn nhân của thiên tài hay tai họa do con người. Cũng có cơ quan với một chức năng duy nhất, chỉ nhằm vào một loại đối tượng. Phần lớn các tổ chức phi chính phủ thuộc loại này. Một số chỉ chăm sóc tập trung, số khác chỉ hỗ trợ về giáo dục hoặc giúp đào tạo kỹ năng hay lo về tín dụng trợ vốn để cải thiện đời sống.

Có những cơ quan mà mục đích chủ yếu là CTXH và những cơ quan có mục đích khác nhưng có tuyển dụng NVXH như lãnh vực giáo dục, sức khỏe nhà ở, tòa án v.v… ở đây CTXH hỗ trợ, bổ sung cho chức năng chuyên biệt.

6. Tiến trình CTXH cá nhân

CTXHCN là phương pháp giúp đỡ cá nhân có vấn đề về chức năng tâm lý xã hội. Nó đi sâu vào tiến trình giải quyết vấn đề gồm 7 bước. Đó là xác định vấn đề, thu thập dữ kiện, thẩm định chẩn đoán, kế hoạch trị liệu, thực hiện kế hoạch , lượng giá, tiếp tục hay chấm dứt. Đây là những bước chuyển tiếp

theo thứ tự logich, nhưng trong quá trình giúp đỡ, có những bước kéo dài suốt quá trình như thâu thập dữ kiện, thẩm định và lượng giá.

Các bước này được két hợp nhau thành 3 giai đoạn. Giai đoạn nghiên cứu gồm xác định vấn đề và thu thập dữ kiện; giai đoạn 2 gồm: thẩm định chẩn đoán và kế hoạch trị liệu; cuối cùng giai đoạn 3 gồm: thực thi kế hoạch, lượng giá, tiếp tục hay chấm dứt.

Xác định vấn đề:

CTXHCN bắt đầu với việc xác định vấn đề do thân chủ trình bày. Đó là vấn đề đã gây ra cho anh ta nhiều khó khăn và sự mất cân bằng trong chức năng tâm lý xã hội. Bước này diễn ra ở giai đoạn “đăng ký”, nghĩa là khi TC tự mình hay được giúp đỡ để chính thức yêu cầu một sự giúp đỡ của cơ quan.

Thu thập dữ kiện:

Trước tiên NVXH tìm hiểu hoàn cảnh của TC thông qua sự trình bày của anh ta. Sau khi xác định tính chất của vấn đề NVXH tìm hiểu sâu hơn nữa tại sao nó xảy ra.

NVXH có thể dựa vào 4 nguồn tin:

–         Chính thân chủ là nguồn tin trực tiếp.

–         Những người có quan hệ như các thành viên trong gia đình, bác sĩ, giáo viên, người chủ cơ quan của anh ta v.v…

–         Tài liệu, biên bản liên quan đến vấn đề.

–         Các trắc nghiệm tâm lý, thẩm định về tâm thần học để xác định mức độ của chức năng xã hội của anh ta.

Mục đích của cuộc thu thập dữ kiện này là để giúp NVXH thử làm một chẩn đoán về cá nhân trong tình huống và trên cơ sở đó lên một kế hoạch trị liệu.

Chẩn đoán:

Gồm 3 bước: chẩn đoán, phân tích, thẩm định. Chẩn đoán là xác định xem có trục trặc ở chỗ nào, tính chất của vấn đề là gì, trên cơ sở các dữ kiện thu thập được. Phân tích là động tác chỉ ra các nguyên nhân hay nhân tố dẫn đến hay đóng góp vào khó khăn. Thẩm định là thử xem có thể loại bỏ hay giảm bớt khó khăn trên cơ sở động cơ và năng lực của thân chủ để tham gia giải quyết vấn đề, tạo mối quan hệ và sử dụng sự giúp đỡ. Sự thẩm định này mang tính chất tâm lý xã hội vì đây là trọng tâm của CTXH.

Khi hoàn thành cuộc thẩm định tình huống có vấn đề và cá nhân liên quan trong đó, NVXH làm ngay một kế hoạch trị liệu cho dù đây mới là tạm bợ.

Kế hoạch trị liệu:

Ơ đây NVXH xác định loại hỗ trợ sẽ cung ứng cho TC, cách can thiệp mà anh, chị ta cho rằng tốt nhất cho TC. Giai đoạn này gồm việc xác định mục đích trị liệu và các mục tiêu cụ thể để đạt được mục đích. Càng nhiều càng tốt đây là một sự chung sức của NVXH và thân chủ vì chính anh ta là người phải tạo ra những thay đổi cần thiết với sự hỗ trợ của NVXH. sự chọn lựa mục đích cuối cùng phụ thuộc vào:

–         Điều thân chủ mong muốn.

–         Điều mà NVXH cho là cần thiết khả thi.

–         Và các yếu tố liên hệ như có hay không có các dịch vụ, tài nguyên cần thiết.

Từ gốc độ của NVXH có 3 yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn cách trị liệu: tính chất của vấn đề, các tài nguyên cần thiết và có được và động và năng lực của thân chỉ. Các nhân tố khác có thể ảnh hưởng đến việc chọn lựa mục đích và mục tiêu là các giá trị của thân chủ, cách anh ta đánh giá vấn đề và hệ lụy của nó. Các mục tiêu cụ thể là những đáp ứng cho các nguyên nhân và nhân tốc đã liên kết đã tạo ra tình huống có vấn đề.

Trị liệu:

Đó là tổng hợp các hoạt động và dịch vụ nhằm vào việc giúp đỡ cá nhân có vấn đề. Đó là giải tỏa hay giải quyết một số vấn đề trước mặt và điều chỉnh những khó khăn với sự công nhận và tham gia của thân chủ. Có khi mục tiêu chỉ là giữ không cho tình huống trở nên xấu hơn, giữ vững hiện trạng, giữ mức độ hoạt động tâm lý xã hội của TC thông qua các hỗ trợ vật chất và tâm lý. Một cách đặc thù mục tiêu của trị liệu gồm:

a/  Thay đổi hay cải thiện hoàn cảnh của TC bằng cách đưa vào các tài nguyên như giúp đỡ tài chính;

–          Và / hoặc thay đổi môi trường như gởi đứa trẻ nơi khác hoặc cải thiện các mối quan hệ gia đình.

b/ Giúp cá nhân thay đổi thái độ, hành vi trong hoàn cảnh trước mặt.

c/ Thực hiện cả 2 cùng lúc.

Làm như thế NVXH có thể sử dụng một cách tiếp cận hay liên kết 3 cách.

–          Cung cấp một dịch vụ cụ thể.

–          Cải tạo môi trường và trị liệu trực tiếp mà ngày nay người ta gọi là tham vấn. Tham vấn cá thể dược sử dụng một mình nó như một cách trị liệu hay kết hợp với một cách tiếp cận khác.

Tham vấn (TV) là một loạt vấn đàm mà NVXH thực hiện với TC. Mục đích của TV là củng cố các thái độ có lợi cho sự gìn giữ cân bằng về tình cảm, cho các quyết định xây dựng, cho sự tăng trưởng và đổi mới. TV nhằm vào hoàn cảnh trước mắt cần được giải quyết. Mục đích của nó là vận động sự tham gia ý thức của thân chủ trong việc xưœ lý các vấn đề xã hội và sự thích nghi xã hội.

Công cụ của trị liệu là mối quan hệ NVXH. TC, vấn đàm, triển khai các tài nguyên xã hội, vật chất, áp dụng chính sách và tài nguyên của cơ quan xã hội và nối kết với các tài nguyên của cơ quan và cộng đồng khác.

Khả năng đáp ứng của TC đối với tiến trình trị liệu sẽ phụ thuộc vào tâm – thể trạng của anh ta, nhân cách đã hấp thụ một nền văn hóa đặc biệt của anh ta, sự tự ý thức về bản thân của anh ta và các tài nguyên và cơ hội anh ta có thể có.

Càng nhiều càng tốt trị liệu phải hướng vào và dựa trên gia đình. Vấn đề nên được xem như vấn đề của gia đình khi thấy phù hợp. Vào thành viên trong gia đình có thể là nhân tố đóng góp vào vấn đề hay ngược lại có người có những khả năng mà NVXH có thể huy động để giải quyết vấn đề. Các cuộc vấn đàm có thể nhằm vào lứa đôi hay gia đình như một phần của trị liệu.

Lượng giá:

Là động tác nhằm xác định xem sự can thiệp của NVXH hay trị liệu có đem lại kết quả mong muốn không. Lượng giá được thực hiện thỉnh thưởng trong quá trình trị liệu để giúp TC tự mình xem cuộc trị liệu có giúp gì cho anh ta không. Kết quả lượng giá sẽ nêu lên nhu cầu sửa đổi hay thích nghi. Lượng giá cũng giúp NVXH xác định xem mục đích mục tiêu đề ra đạt được đến mức nào để điều chỉnh trị liệu.

Chỉ có thể lượng giá tốt khi các mục tiêu được xác định rõ ràng và có thể đo đạt trên cơ sở thông tin đầy đuœ. Ngoài ra, NVXH, TC và những người cùng giúp đỡ khác (ví dụ như bác sĩ, nhà tâm lý) phải cùng tham gia việc lượng giá khi cần thiết.

Tiếp tục hay chấm dứt:

Nên tiếp tục trị liệu khi các cuộc lượng giá định kỳ cho thấy có sự tiến bộ hay thay đổi nào đó. Nếu không có gì thay đổi hay thay đổi chậm có thể nên thay đổi phương pháp; nếu có những thông tin mới hay NVXH có những suy nghĩ mới, thì nên bổ sung các phương thức trị liệu.

Kết thúc là chấm dứt mối quan hệ NVXH – TC và xếp hồ sơ. Người ta chấm dứt khi dịch vụ của cơ quan đã hoàn tất, mục đích đạt được, hoặc TC được chuyển đến một cơ quan khác và sự hiện diện của NVXH không còn cần thiết. TC có thể muốn chấm dứt hay NVXH nghĩ rằng tiếp tục cũng không đạt được thêm kết quả nào.

Có những trường hợp can thiệp trong cơn khủng khoảng thì không cần kéo dài thời gian. Trường hợp có liên quan đến vấn đề tâm lý xã hội thì cần nhiều thời gian hơn.

7. Mối quan hệ NVXH thân chủ

Mối quan hệ NVXH – TC hay quan hệ giúp đỡ là công cụ chủ yếu của CTXHCN vì đó là nhịp cầu thông qua đó sự giúp đỡ được đưa tới cho TC. Mối quan hệ này phải bao phần đặc điểm thân tình, ấm cúng, và mối liên hệ nghề nghiệp phần gưœi có thể khơi dậy nơi thân chủ động cơ để thay đổi. TC phải tin vào sự trung thực, năng lực, và sự vô tư của NVXH; TC tin tưởng rằng NVXH là một người thật sự quan tâm đến sự an sinh của anh ta.

Khi sử dụng mối quan hệ như một công cụ, NVXH phải tuân theo của nguyên tắc cơ quản. Đó là sự chấp nhận, thái độ không phê phán, cá biệt hóa, giúp TC bộc lộ cảm xúc của mình một cách có mục đích, NVXH kiểm soát cảm xúc của chính mình, giữ bí mật, và công nhận quyền tự quyết của TC (chi tiết đã được trình bày ở chương I).

Mối quan hệ NVXH – TC được chia thành 3 giai đoạn: bắt đầu, giữ chừng, chám dứt. Giai đoạn đầu là giai đoạn trắc nghiệm. Khi TC thử xem NVXH có giúp anh ta được không và NVXH xem mình có thể giúp gì. Họ bắt đầu có sự tiếp xúc với nhau. ở giai đoạn giữa, giai đoạn trị liệu, hai người cùng nhau làm việc như một ê-kíp. ở giai đoạn kết thúc mục đích và mục tiêu trị liệu đã đạt được và trường hợp dừng ở đây.

8. Gia đình của thân chủ

Cách tiếp cận bao gồm cả gia đình rất cần thiết vì nhiều vấn đề bắt nguồn từ gia đình và gia đình cũng có thể giúp đỡ TC. Bắt đầu với TC, sớm muộn gì tiến trình cũng nới rộng tới gia đình.

Cuộc tìm hiểu đầy đuœ về TC phải bao gồm thông tin về gia đình anh ta, chân dung gia đình, hoàn cảnh kinh tế, sức khỏe và hành vi sức khỏe, sự căm sóc và giáo dục trẻ em, các mối quan hệ trong gia đình, hành vi và sự thích nghi của từng thành viên, sự tham gia của gia đình vào các hoạt động chính thức và phi chính thức trong khu xin và cách gia đình sử dụng tài nguyên cộng đồng.

Từ các dữ kiện trên NVXH thử đánh giá về năng lực của gia đình để liên hệ với người dân và các tổ chức xung quanh họ, các mặt mạnh mặt yếu của gia đình, và các yếu tố về nhân cách khả dĩ hỗ trợ hay giới hạn chức năng xã hội của gia đình. Trong quá trình làm việc, NVXH nên gặp từng cá nhân và gia đình cùng một lúc để xác định xem mâu thuẫn ở chỗ nào, và khám phá những mặt mạnh của gia đình để vận dụng mà giải quyết vấn đề. Phỏng vốn cả cặp vợ chồn một lượt sẽ đưa tới một kế hoạch tốt để giải quyết vấn đề. Phỏng vấn nhóm cũng có thể được sử dụng như là một phương pháp chữa trị trong gia đình trị liệu; phương pháp này cũng được gọi là tham vấn gia đình. Phỏng vấn nhóm có thể cải thiện các mối quan hệ gia đình, đời sống gia đình và hành vi cá nhân. Nó cũng giúp thân thuœ học cách nói chuyện, cùng nhau lên kế hoạch và hành động thay vì hành động theo xu hướng cá nhân riêng lẻ. Khi tiếp cận với các vấn đề gia đình, phỏng vấn nhóm là phương tiện trị liệu gia đình tốt nhất.

9. Kết luận

Giúp đỡ cá nhân và gia đình không chỉ đơn thuần là hỗ trợ vật chất hay tài nguyên xã hội nhưng quan trọng hơn đó là giúp họ tự mình giải quyết vấn đề. Nhằm mục đích này NVXH phải thực hiện một loạt công việc đòi hoœi kiến thức khoa học về con người và môi trường xã hội trong đó họ sống và các phương pháp can thiệp của CTXH.

Kiến thức, thái độ, kỹ năng cần thiết để thực hiện CTXHCN có hiệu quả cũng áp dụng cho CTXH nhóm cộng đồng. NVXH cũng sẽ áp dụng các bước đi của tiến trình giải quyết vấn đề cho cả 3 phương pháp khi làm với nhóm và cộng đồng NVXH cũng có thể vận dụng các kỹ năng CTXH cá nhân để làm việc với các thành viên. Cho dù là các loại thân chủ có khác nhau mục đích chung là giúp cải thiện chức năng hoạt động tâm lý xã hội của thân chủ.

Phát triển kỹ năng giúp đỡ (Tư Vấn Tâm Lý)              M. Howe (1980)

Đầu tiên là Carl Rogers và sau đó nhiều người khác kết luận rằng điều tốt nhất phải làm để giúp một người khác, khi họ có một vấn đề là tạo điều kiện cho người kia khám phá ra vấn đề và một cách chung hơn, tăng trưởng về nhân cách. Các tác giaœ nghĩ rằng cốt lõi của sự việc là mối quan hệ giữa nhà tư vấn và thân chủ, người giúp đỡ và người được giúp đỡ, và một số thái độ từ phía nhà tư vấn mà thân chủ nhận ra được. Rogers và các đồng nghiệp của ông qua kinh nghiệm lâm sàng và nghiên cứu khẳng định rằng các đức tính ấy là:

–         Sự trung trực (congruence – nhà tư vấn thật là mình, chân thật, một con người thật trong mối quan hệ).

–         Một cái nhìn tích cực vô điều kiện (tôn trọng thân chủ như một người có phẩm giá).

– Sự thấu cảm (empathy – có khả năng chia sẻ được kinh nghiệm từng lúc của thân chủ; cảm nhận kinh nghiệm ấy như của chính mình, và truyền đạt sự cảm nhận ấy cho thân chủ).

Nếu thân chủ cảm nhận được những thái độ này nơi nhà tư vấn thì kết quả của mối tương tác giữa họ sẽ tích cực. Robert Carkhuff đào sâu vấn đề thêm. Ông cho rằng những đặc điểm này không chỉ có ở những nhà tư vấn chuyên nghiệp mà ít nhiều người thường cũng có thể có những đặc điểm này và những kỹ năng liên quan có thể học được. Ông ta đã hoàn thiện thêm một bước các khái niệm cơ bản, và đã thiết lập các định chuẩn đo lường các khía cạnh khác nhau của cac mối quan hệ giữa người và người. Ông ta cũng chứng minh rằng các kỹ năng này có thể dạy được trong các khóa huân luyện.

Một điều quan trọng trong công cuộc nghiên cứu của ông là sự chứng minh rằng những kỹ năng này không liên quan đến trình độ học vấn chung hay chuyên môn về tâm lý. Nhiều người như giáo viên, viên chức phụ trách nhân sự, hàng giáo phẩm, nhà vật lý trị liệu, cảnh sát, nhân viên xã hội v.v… cần kỹ năng lắng nghe, tiếp xúc… đáp ứng với người khác và mỗi người đều có tiềm năng học tập các kỹ năng này.

Mô hình của Carkhuff khá ý nghĩa. Theo ông, trước tiên một người tìm đến sự giúp đỡ thường bối rối và không thấy rõ các thành tố của tình huống có vấn đề. Điều rõ ràng nhất là cảm xúc của họ – sự lo âu, sự suy sụp, buồn rầu, thần kinh căng thẳng, kích động. Điều phải làm là giúp họ làm sáng tỏ cái mớ bòng bong này.

Như thế tự tìm hiểu mình (self – exploration – thăm dò, khám phá) là mục tiêu đầu tiên của tư vấn.

Từ đó bắt đầu phần nào sự hiểu biết chính mình. Thân chủ bắt đầu thấy mình đã làm gì với chính mình, đang cho phép người khác làm gì với mình, cảm xúc của anh ta có liên quan tới ai, biến cố nào, anh ta có thể có hành động nào để thay đổi tình huống. Hiểu rõ chính mình là mục tiêu thứ hai của giúp đỡ (tư vấn).

Càng hiểu mình dẫn tới phân biệt các chiến lược hành động khác nhau và hiệu quả của chúng. Những chiến lược này có thể được thử nghiệm, và kết quả được cảm nghiệm, đánh giá. Hành động xây dựng là mục tiêu thứ ba và điều này có thể tạo ra những kinh nghiệm dẫn đến sự tự tìm hiểu xa hơn. Điều này có thể dẫn tới những cái khám phá mới meœ về bản thân và những chương trình hành động được hoàn thiện thêm, v.v…

Mô hình này khá hữu ích để áp dụng trong mối tương tác giữa người giúp đỡ và người được giúp đỡ, giữa thầy và trò, giữa nhà tư vấn và thân chủ hay ngay cả giữa viên chức phụ trách nhân sự và người xin việc làm…

Có những kỹ năng hay hành vi của nhà tư vấn có thể hỗ trợ quá trình mô taœ trên đây.

Trước tiên nhà tư vấn phải sẵn sàng (available – thái độ tiếp đón), tỏ ra quan tâm, để thân chủ muốn chia sẻ nỗi bận tâm của mình. Sự thổ lộ, chia sẻ đối với thân chủ thường được xem như một nguy cơ, và có thể làm cho anh thất vọng, cụt hứng. Anh ta tự hoœi, có phải đây là người mình có thể gởi gấm tâm tình không? Ông (bà) ta có thật sự quan tâm không? Ông (bà) ta có tôn trọng những điều tôi gởi gắm không? Mình có tin tưởng vào ông (bà) ta được không? Đó là những tư tưởng laœng vaœng trong đầu thân chủ khi anh ta thử đánh giá người sẽ giúp mình. Nhưng nếu có được sự tin tưởng ban đầu, anh ta cũng chỉ thổ lỗ chút ít thôi. Nói chung mới có sự thử nước trước khi lao vào thật sự.

Người biết giúp đỡ lắng nghe và đáp ứng một cách nào đó chứng tỏ rằng họ đã thừa nhận cảm xúc của thân chủ. Cách nhà tư vấn đặt câu hoœi tạo điều kiện cho thân chủ đóng vai chủ động và nói được những điều anh ta muốn nói. Nhà tư vấn giúp triển khai và sáng tỏ những nhận thức và cảm nghĩ của anh ta. Nhà tư vấn chấp nhận, không phê phán và biết “tránh ra” khi người kia đang thăm dò, khai phá về chính bản thân họ.

Khi các mối quan hệ được xác lập và tiến trình giúp đỡ tiếp diễn, các kỹ năng và hành vi khác được cần đến. Sự thấu cảm cần được sâu sắc hơn và biểu lộ đầy đuœ. Thỉnh tkhoảng nhà tư vấn nắm bắt một chủ đề, chỉ ra vài vấn đề bị tránh né hay chưa ăn khớp trong những điều thân chủ trình bày. Bắt đầu có sự gần gũi hơn, nhà tư vấn cũng có thể đưa ra một số kinh nghiệm hay phaœn ứng của chính mình. Từ thể thụ động, tiếp nhận, nhà tư vấn có thể bắt đầu đóng một vai trò chủ động hơn để kích thích và khuyến khích thân chủ hướng về một hành động xây dựng.

Còn người giúp đỡ hay nhà tư vấn thì sao? Mở đầu tôi có nhắc đến sự trung thực trong mối quan hệ. Về vấn đề này các buổi huấn luyện nhằm giúp nhà tư vấn hiểu chính mình hơn, ý thức về mình hơn. Trong các khóa huấn luyện này nhà tư vấn cũng khám phá, hiểu chính mình và hành động.

Rất cần ý thức về bản thân nếu ta muốn phân biệt được giữa ý nghĩ, cảm xúc của riêng ta và của thân chủ. Phần lớn chúng ta có xu hướng áp đặt ý nghĩ của chúng ta cho người khác, muốn họ nói những điều chúng ta muốn nghe.

Là những người giúp đỡ chúng ta phải tránh điều này và phân biệt rõ rệt giữa cảm xúc, bận tâm của ta và của người mình muốn giúp.

Dưới đây là mô hình trình bày quá trình tư vấn.

NHÀ TƯ VẤN HỮU HIỆU BẮT ĐẦU VỚI MỐI QUAN HỆ GIÚP ĐỠ BẮT ĐẦU VỚI THÂN CHủ CỐ GẮNG GIảI QUYẾT VẤN ĐỀ,BẮT ĐẦU VỚI
Thái độ hỗ trợ Sự trung thực Tôn trọng Thấu cảm chính xác Cụ thể Tự khám phá
Kỹ năng và thái độ hữu hiệu Sẵn sàng Tiếp xúc Lắng nghe Đáp ứng với: Những tình cảm thừa nhận Giúp người kia Triển khai và làm sáng tỏ Tự hiểu mình
Ý thức về mình Lắng nghe những * Chủ đề lập đi lập lại * Điều gì đó không nói ra hay không ăn khớp * Gần gũi * tự cởi mở * Đối đầu Hành động xây dựng
* Kích thích và khuyến khích * Hành động tích cực * Giải quyết vấn đề * Trang bị thêm kỹ năng
(MÔ HÌNH CARKHUFF)

TÀI LIỆU THAM KHảO

Những vấn đề cần tìm hiểu để chẩn đoán

1. Nội dung vấn đề do thân chủ trình bày.

2. Các chi tiết về thân chủ và tất cả các thành viên trong gia đình: Tên, giới tính, tuổi….

3. Chân dung gia đình

3.1. Nhà cưœa, đồ đạc, hàng xóm

3.2. Tổ chức sắp xếp trong nhà

4. Tình trạng kinh tế

4.1. Nguồn và số thu nhập

4.2. Công việc làm

4.3. Tiền bạc được sử dụng như thế nào.

5. Hành vi sức khỏe

5.1. Các vấn đề sức khỏe (có ai bị bịnh gỉ, ốm, suy dinh dưỡng…)

5.2. Thói quen về sức khỏe (họ đi bịnh viện hay thầy cúng, gia đình giải quyết vấn đề sức khỏe của mình như thế nào).

6. Chăm sóc và giáo dục trẻ em

6.1. Chăm sóc

6.2. Phương pháp tập luyện

6.3. Giáo dục

7. Các mối quan hệ trong gia đình

7.1. Quan hệ vợ chồng

7.2. Quan hệ cha mẹ – con cái

7.3. Quan hệ anh em

7.4. Sự đoàn kết và liên đới của gia đình

8. Hành vi của cá nhân và sự thích nghi

Mô taœ đại nét về từng người

9. Các vấn đề khác

9.1. Tham gia vào các tổ chức, nhóm, chính thức và phi chính thức (tổ dân phố, hợp tác xã, nhóm bạn v.v…).

9.2. Việc sử dụng tài nguyên cộng đồng: trường học, nhà thờ, bịnh xá, tổ chức vui chơi giải trí v.v…

Từ những dữ kiện trên NVXH sẽ thẩm định xem:

1. Khả năng của gia đình để giao dịch với những người và tổ chức xung quanh họ.

2. Điểm mạnh và điểm yếu của chức năng hoạt động của gia đình.

3. Các yếu tố nhân cách có thể phát huy hay hạn chế chức năng của gia đình.

Trích dịch từ L.S – De Guzman, Working with Individuals. The Social Case Work Process, tr. 179 – 180.

Vấn đàm gia đình

Công cụ chính yếu của CTXHCN là vấn đàm. Nó phục vụ việc thu thập dữ kiện, chẩn đoán và trị liệu. Tiến trình CTXHCN thường bắt đầu với những cuộc vấn đàm, đầu tiên với cá nhân gặp khó khăn, kế đó là với các thành viên trong gia đình từng người riêng lẻ và cả gia đình một lượt để phát hiện nơi xuất phát mâu thuẫn, đồng thời những thuận lợi có thể huy động hầu giải quyết vấn đề. Các thành viên trong gia đình có những quyền lợi chung, họ trung thành với nhau nhưng đang thực hiện các vai trò khác nhau, tuổi tác khác nhau và có những nhu cầu khác nhau. Với trẻ em, nói chuyện thân mật giúp NVXH hiểu vấn đề tốt hơn là một cuộc vấn đàm bài bản.

Cần vấn đàm cả cập vợ chồng hay cha mẹ càng sớm càng tốt. Mặc dù quan tâm đến toàn gia đình NVXH cần giúp họ cùng thấy trách nhiệm chung để cải thiện điều kiện và nếp sống gia đình.

Vấn đàm cha mẹ ngay sẽ giúp chẩn đoán tốt. Gặp họ một lượt sẽ giúp NVXH thấy được mối quan hệ giữa họ và khả năng cùng hành động của họ. Một loạt vấn đàm chung sẽ giúp hiểu sâu về tính chất của mối quan hệ giữa họ mà các cuộc vấn đàm riêng rẽ không cho thấy được. Các cuộc vấn đàm chung có hể dẫn đến một kế hoạch tốt để giải quyết vấn đề. Việc này nói thì dễ chớ làm thì khó. Các thành viên gia đình có thể có những ý kiến trái ngược nhau hay họ không chịu nói thẳng với NVXH. Nếu cuộc vấn đàm chung bế tắc, NVXH phải tháo gở bằng những cuộc tiếp xúc riêng để các cá nhân chịu điều chỉnh phần nào lối suy nghĩ của mình. Sau đó mới tiếp tục các cuộc vấn đàm chung.

Các cuộc vấn đàm cần được chuẩn bị trước. Trước khi bắt đầu NVXH phải xác định mục đích và các mục tiêu muốn đạt tới cho từng cuộc vấn đề để chuẩn bị các câu hoœi hướng dẫn. NVXH phải được trang bị kỹ năng để chuẩn bị và thực hiện cuộc vấn đàm. NVXH cũng phải có khả năng giao tiếp với nhóm, cho dù đó có thể là một nhóm chỉ có 2 người là cặp vợ chồng để thao luận về các vấn đề chung của họ. Nếu không dù trước mặt 2 người NVXH có thể trên thực tế chỉ thực hiện vấn đàm cá nhân, điều này làm ngưng trệ sự tương tác giữa họ và hành động chung để giải quyết vấn đề.

Đáp ứng nhu cầu bức bách trước mắt và tìm hiểu gia đình phải được thực hiện cùng một lúc.

Vấn đàm nhóm như một công cụ trị liệu:

Khi vấn đàm nhóm được sử dụng như một công cụ trị liệu, thi NVXH có thể tham khảo các hướng dẫn sau đây:

1. Ngay từ đầu tính toán để tiếp tục làm việc với cả hai người trên cơ sở bình đẳng.

2. Trường hợp có mâu thuẫn vợ chồng, giúp họ bộc lộ với nhau những xúc cảm thật của họ xung quanh những vấn đề trong hôn nhân. Đó cũng là cách giúp họ xưœ lý các mâu thuẫn.

3. Cùng với cả hai xem xét cách tốt nhất để đáp ứng nhu cầu của gia đình xuất phát từ một tình huống đặc biệt ví dụ như việc người cha không đi làm được vì đau ốm.

Vấn đề nhóm giúp cải thiện mối quan hệ vợ chồng, đời sống gia đình và hành vi cá nhân. Vấn đàm nhóm giúp các thân chủ học trao đổi, lên kế hoạch, và hành động chung như một gia đình thay vì theo xu hướng vá nhân.

Hướng dẫn về cách vấn đàm:

1. Cả hai loại vấn đàm cá nhân và nhóm đều cần thiết để làm việc với các gia đình.

2. Cả hai người (cha mẹ) cần được gặp chung ngay từ đầu để họ hiểu rằng NVXH muốn làm việc với cả hai để giải thích cơ sở của mối quan tâm chung và những dịch vụ có thể cung ứng.

3. Khó có thể chẩn đoán tình trạng gia đình mà không quan sát sự tương tác của các thành viên thông qua vấn đàm nhóm.

4. Vấn đàm nhóm (với cả cặp vợ chồng) chỉ có giá trị trị liệu khi mỗi người thấy được chính mình trong mối quan hệ với vấn đề xảy ra, với cảm xúc của mình và cho rằng họ có thể hợp tác với người kia để tìm giải pháp cho vấn đề.

5. Không nên vấn đàm nhóm khi thân chủ muốn kéo NVXH về phe mình hoặc bắt làm trọng tài.

6. Phỏng vấn cá nhân có thể có ích hơn khi 2 người không chia sẻ quan điểm chung và để chuẩn bị từng người hầu ở những buổi làm việc chung sau đó các vấn đề tế nhị có thể được nêu lên.

7. Mọi kế hoạch vấn đàm chung hay riêng đều phải có sự thỏa thuận của các đương sự.

8. Vấn đàm chung giữa cha mẹ và con cái nên được thực hiện khi vấn đề là mối quan tâm chung của đôi bên.

Dĩ nhiên nguyên tắc cuối cùng cần được áp dụng linh động tùy theo nền văn hóa của gia đình. ở nhiều nơi trẻ con, hay cả thanh thiếu niên không dám phát biểu trước mặt cha mẹ. Trong những trường hợp tương tự NVXH nên quan tâm đến tính chất của mối quan hệ tương tác giữa cha mẹ và con cái trong phần chẩn đoán của mình.

(Trích dịch từ L.S. De Guzman. Working with Individuals. The Case Work Process, tr. 80 – 183, Người dịch: Nguyễn Thị Oanh).

Những đặc điểm nổi bật của Công tác xã hội

Công tác xã hội ngày càng được nhiều người biết đến như một khoa học, một nghề chuyên môn ở nhiều quốc gia và ở Việt Nam. Đây là một khoa học ra đời từ cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20; được du nhập vào nước ta từ đầu những năm 50 của thế kỷ trước.

Sau hơn một thế kỷ hiện hữu, khoa học công tác xã hội đã có những bước tiến triển mới về mặt lý luận cũng như thực hành. Các cách tiếp cận mới đã hình thành như chú trọng công tác phòng ngừa, vận dụng năng lực của thân chủ, vận dụng tài nguyên cộng đồng để tự giúp; đặt con người trong bối cảnh môi trường khi giải quyết vấn đề; coi trọng vai trò gia đình, cộng đồng v.v. Ngoài ra, một số lý thuyết mới giúp nhân viên xã hội hiểu được hành vi con người như lý thuyết hệ thống sinh thái, mô hình lực tác động bên trong và bên ngoài, mô hình vòng đời … kết hợp với ba cấp độ vi mô, trung mô và vĩ mô.

Xin đọc toàn văn bài viết ở đây

(Nguồn http://www.ou.edu.vn)

Công tác xã hội: Lý thuyết và thực hành

VNSW xin trân trọng giới thiệu phần Lời nói đầu của Tập tài liệu Công tác xã hội: Lý thuyết và thực hành của tác giả Trần Đình Tuấn, ĐH San Jose, Hoa Kỳ:

CTXH có mục đích thăng tiến chức năng xã hội của con người qua ba lĩnh vực: phục hồi khả năng đã bị thương tổn, giúp con người tận dụng được những tài nguyên có sẵn, và phòng ngừa tình trạng mất khả năng sống bình thường trong xã hội. Định nghĩa này, của Werner Boehm, nhà giáo dục CTXH người Mỹ gốc Đức, phản ánh khá đầy đủ vai trò quan trọng của CTXH và giải thích tại sao CTXH ngày càng trở nên thiết yếu hơn trong tất cả các quốc gia.

Khoa học và nghề CTXH đã được hình thành tại Mỹ và Âu châu từ thế kỷ thứ 19. Ở miền Nam Việt Nam, từ thập niên 60 và 70 đã có hai trường đào tạo cán sự xã hội do cơ quan từ thiện Caritas và đại học Vạn Hạnh thiết lập, đây là những trường tư, ngoài ra còn có một trường công do giáo sư Phạm thị Tự làm giám đốc. Chương trình đào tạo của trường Caritas dài ba năm, gồm các môn luật phổ thông, luật gia đình, môi trường xã hội, những vấn đề xã hội qua các thời kỳ lịch sử, kiến thức tổng quát về y khoa và dinh dưỡng, phương pháp chẩn đoán các bệnh thông thường, cách đo áp huyết, cách chích thuốc, phương pháp cấp cứu, băng bó vết thương… Trường công của giáo sư Phạm Thị Tự có chương trình đào tạo riêng kéo dài hai năm. Những chương trình đào tạo này phản ánh nhu cầu CTXH thời bấy giờ ở miền Nam chủ yếu do chiến tranh       gây ra.

Từ thập niên 70 đến nay, ngành CTXH đã tiến rất xa, đã hướng đến việc giải quyết những nhu cầu phức tạp và đa dạng không phải chỉ của người nghèo mà của tất cả mọi thành phần trong xã hội. Một trong những bước tiến quan trọng của CTXH hiện đại so với CTXH của thập niên 60 và 70 là việc thay thế phương pháp “chẩn đoán”/diagnosis bằng phương pháp “lượng định”/ assessment. Phương pháp “chẩn đoán” dựa theo mô hình y khoa, coi người nhận CTXH như một bệnh nhân mang một chứng bệnh cần được chữa trị. Phương pháp “lượng định” coi người nhận CTXH như một “khách hàng”/client sống trong môi trường gia đình, cộng đồng, và xã hội. Vấn nạn của khách hàng có thể do nhiều nguyên nhân ngoại lai cũng như nguyên nhân nội tại, và biện pháp giúp đỡ hiệu quả nhiều khi đòi hỏi sự cải thiện của môi trường nhiều hơn sự thay đổi của cá nhân. Trong khi phương pháp chẩn đoán chú trọng những khiếm khuyết của bệnh nhân để tìm cách “chữa trị”, phương pháp lượng định chú ý tìm kiếm ưu điểm của khách hàng, khách hàng không giữ vai trò thụ động của một bệnh nhân, mà được tạo điều kiện để tích cực tham gia vào quá trình giúp đỡ để thăng tiến trong cuộc sống.

Sự đa dạng hóa của nhu cầu con người trong xã hội đã thúc đẩy ngành CTXH không ngừng phát triển. Để làm việc hiệu quả, nhân viên CTXH không phải chỉ cần trái tim mà khối óc còn quan trọng hơn gấp bội. Ngoài ra, CTXH còn đòi hỏi những kỹ năng riêng biệt. Tài liệu này có mục đích cung cấp cho độc giả và sinh viên CTXH một số kiến thức cơ bản về lý thuyết và kỹ năng thực hành CTXH. Do khả năng có giới hạn, người biên soạn tài liệu này đã gặp một số khó khăn trong việc tìm kiếm những từ ngữ chuyên môn bằng tiếng Việt; trong những trường hợp này, để đọc giả dễ hiểu, người biên soạn đã dùng từ ngữ tiếng Anh bên cạnh tiếng Việt, với mục đích nếu có sai sót, quý vị đọc giả sẽ sửa dùm. Hy vọng tài liệu này sẽ giúp ích được ít nhiều cho các bạn sinh viên và những đọc giả quan tâm đến ngành CTXH còn rất non trẻ của Việt Nam.

Trần Đình Tuấn

San Jose, California, 12-2008

Báo cáo Tổng kết 8 năm thực hiện pháp lệnh người cao tuổi

I. BỐI CẢNH RA ĐỜI PHÁP LỆNH NGƯỜI CAO TUỔI

Năm 1986, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã tiến hành công cuộc đổi mới tư duy, trước hết là đổi mới tư duy kinh tế, chuyển nền kinh tế Việt Nam từ cơ chế tập trung qua liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trư­ờng định hướng xã hội chủ nghĩa. Đổi mới đã tạo ra động lực mới cho sự phát triển của đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu do đổi mới mang lại, trong thời kỳ đầu, đời sống của nhân dân ta đã gặp không ít khó khăn, đặc biệt là người cao tuổi, những người trước đây đã từng tham gia 2 cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc.

Theo số liệu Tổng điều tra dân số năm 1989, người cao tuổi chiếm 7,2% dân số; năm 1990 chiếm 8,2% và năm 2009 chiếm 9,45%, trong đó 73% người cao tuổi sống ở nông thôn, 21% thuộc diện nghèo.Điều tra năm 2003, nhóm tuổi 50-59, nam chiếm 46,3%, nữ 53,7%; nhóm tuổi 65-69, nam chiếm 42,2%, nữ chiếm 57,8% và ở nhóm 70 tuổi trở lên, nữ chiếm 64,4%[1]

Nhận thức được vai trò của người cao tuổi là nền tảng của gia đình, nguồn lực quý giá của dân tộc; lực lượng người cao tuổi ngày càng đông, chiếm gần 10% dân số, là tấm gương sáng về phẩm chất đạo đức, có lối sống mẫu mực; giáo dục thế hệ trẻ giữ gìn truyền thống tốt đẹp của dân tộc; vận động gia đình và cộng đồng chấp hành chủ trương, pháp luật của Nhà nước, Chính phủ đã ban hành Quyết định thành lập Hội người cao tuổi Việt Nam ngày 10/5/1995, đã thu hút người cao tuổi vào tổ chức Hội.

Ngay sau khi Hội người cao tuổi Việt Nam được thành lập, Ban Bí thư TW đã ban hành Chỉ thị 59/CT-TW “Về chăm sóc người cao tuổi”, quy định: “Việc chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần cho người cao tuổi là trách nhiêm của Đảng, nhà nước và toàn xã hội. Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc, các ban đảng, các đoàn thể nhân dân cần giúp đỡ Hội hoạt động có hiệu quả thiết thực, phối hợp với Hội trong việc vận động gia đình và xã hội chăm sóc, bồi dưỡng, phát huy người cao tuổi phục vụ công cuộc đổi mới. Đảng đoàn Quốc hội, Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các ban của Đảng, các ban cán sự đảng Chính phủ, Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế, Bộ Tư pháp phối hợp với Hội nghiên cứu, soát xét các chính sách luật pháp hiện hành, đề xuất những văn bản pháp quy của nhà nước nhằm bảo vệ, chăm sóc và phát huy người cao tuổi. Nhà nước cần dành ngân sách để giải quyết các vấn đề xã hội, trong đó có vấn đề chăm sóc người cao tuổi.

Thông báo số 12-TB/TW ngày 13 tháng 6 năm 2001 Hội người cao tuổi Việt Nam là tổ chức xã hội của người cao tuổi, có các nhiệm vụ đã được quy định cụ thể tại Pháp lệnh người cao tuổi; Hội có Ban đại diện ở cấp tỉnh và cấp huyện; Cấp tỉnh có từ 2 đến 3, cấp huyện có từ 1 đến 2 cán bộ chuyên trách đồng thời khẳng định: “ Nhà nước tiếp tục trợ cấp knh phí họat động cho Hội. Các cơ quan có chức năng của Nhà nước tạo thuận lợi, bảo đảm cấp kinh phí kịp thời cho Hội”.

Chăm sóc và phát huy tốt vai trò người cao tuổi là thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta và đạo đức người Việt Nam.

Hiến pháp năm 1946, Điều 14 quy định: “Những công dân già cả hoặc tàn tật không làm đư­ợc việc thì đư­ợc giúp đỡ”. Điều 32 của Hiến pháp 1959 ghi rõ: “Giúp đỡ ngư­ời già, người đau yếu và tàn tật. Mở rộng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm sức khoẻ và cứu trợ xã hội…”. Điều 64 của Hiến pháp 1992 quy định: “… Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con cái. Con cái có trách nhiệm kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ… ”. Và Điều 87 của Hiến pháp ghi rõ: “Người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa được nhà nước và xã hội giúp đỡ”.

Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 2 Điều 36  quy định:“Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dư­ỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ ốm đau, già yếu, tàn tật…Và khoản 2 điều 47 Luật này quy định: “Cháu có bổn phận… chăm sóc, phụng dư­ỡng ông bà nội, ngoại”.

Luật bảo vệ chăm sóc sức khoẻ nhân dân đã dành một chư­ơng riêng: Bảo vệ sức khoẻ người cao tuổi … trong đó, khoản 1 Điều 41 của Luật này quy định :“người cao tuổi …đư­ợc ưu tiên khám bệnh, chữa bệnh, đư­ợc tạo điều kiện thuận lợi để đóng góp cho xã hội phù hợp với sức khoẻ của mình”.

Luật Lao động quy định tại Điều 124: “Ngư­ời sử dụng lao động có trách nhiệm quan tâm chăm sóc sức khoẻ ngư­ời lao động cao tuổi, không được sử dụng ngư­ời lao động cao tuổi làm việc nặng nhọc, nguy hiểm… ảnh hưởng sức khoẻ ”.

Điều 151 của Bộ luật hình sự quy định: “Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình” và Điều 152 quy định “Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng”. Bên cạnh đó, luật cũng quy định một số tình tiết giảm nhẹ khi “người phạm tội là người già”.

Năm 1996, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 117/CP “Về chăm sóc người cao tuổi và hỗ trợ hoạt động cho Hội người cao tuổi Việt Nam”. Chỉ thị khẳng định: “Kính lão đắc thọ” là truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta, Đảng và nhà nước ta coi việc quan tâm, chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần của người cao tuổi là đạo lý của dân tộc, là tình cảm và trách nhiệm của toàn đảng, toàn dân và các cấp chính quyền và đã đề ra nhiều chính sách thể hiện sự quan tâm đó.

Để phát huy truyền thống của dân tộc, thực hiện chủ trương chính sách của Đảng và hỗ trợ hoạt động của Hội người cao tuổi, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ thị:

Các cấp chính quyền, các cơ quan quản lý nhà nước trong khi hoạch định các kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội và các chương trình quốc gia, cần chú ý bồi dưỡng và phát huy nguồn lực người cao tuổi. Hàng năm cần dành một tỷ lệ thích đáng ngân sách để giải quyết các vấn đề xã hội, chăm sóc, bồi dưỡng, phát huy vai trò người cao tuổi và hỗ trợ Hội người cao tuổi.

Tuy nhiên, các chính sách và văn bản quy phạm pháp luật về người cao tuổi hiện hành chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước về người cao tuổi và những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn công tác người cao tuổi những năm qua, đó là:

Hiến pháp năm 1992, Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân, Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình… có đề cập đến người cao tuổi ở một số điều luật song các quy định của pháp luật hiện hành đó chưa bao quát đầy đủ, toàn diện về quyền và nghĩa vụ của người cao tuổi; phụng dưỡng, chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi; trách nhiệm của cơ quan Nhà nước đối với công tác người cao tuổi trong điều kiện đất nước phỏt triển nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế Quốc tế. Một số quy định về cụng tỏc tổ chức Hội chưa được thống nhất trong cách hiểu và vận dụng trong thực tiễn rất khác nhau.

Do thấu hiểu được tâm tư, nguyện vọng của người cao tuổi, năm 2000, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh người cao tuổi. Pháp lệnh người cao tuổi ra đời là bư­ớc đi thích hợp để chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi.

II. KẾT QUẢ TRIỂN KHAI THỰC HIỆN PHÁP LỆNH

2.1. Công tác chỉ đạo triển khai thực hiện Pháp lệnh

Sau khi có Pháp lệnh người cao tuổi, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 30/2002/NĐ-CP ngày 26 tháng 3 năm 2002 và tiếp đến là Nghị định số 120/2003/NĐ-CP ngày 20 tháng 10 năm 2003 hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh người cao tuổi.

Thực hiện sự chỉ đạo và phân công của Chính phủ, các Bộ ngành chức năng đã ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh, như:

* Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư số 16/2002/TT-BLĐTBXH ngày 09/12/2002; Thông tư số 24/2003/TT-BLĐTBXH ngày 06/01/2003 và Thông tư số 36/2005/TT-BLĐTBXH ngày 26/12/2005 hướng dẫn thực hiện các Nghị định số 30/2002/NĐ-CP ngày 26 tháng 3 năm 2002; Nghị định số 120/2003/NĐ-CP ngày 20 tháng 10 năm 2003 của Chính phủ và các văn bản có liên quan đến chế độ, chính sách trợ giúp người cao tuổi.

* Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 02/2004/TT-BYT ngày 20/01/2004 hướng dẫn thực hiện các Nghị định số 30/2002/NĐ-CP của Chính phủ về công tác chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi.

* Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 123/TT-BTC ngày 16/12/2003 hướng dẫn hỗ trợ từ ngân sách cho các tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, trong đó có người cao tuổi.

* Bộ Nội vụ ban hành công văn số 69/BTCCBCP-TCCP ngày 13 tháng 8 năm 2002 hướng dẫn Ban tổ chức chính quyền các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (nay là Sở Nội vụ) thành lập Ban đại diện Hội người cao tuổi cấp tỉnh, huyện.

Và các văn bản khác quy định về chăm sóc sức khoẻ, chế độ trợ cấp, nuôi dưỡng và phát huy vai trò người cao tuổi.

Trên cơ sở Pháp lệnh người cao tuổi và Thông tư hướng dẫn của Bộ, ngành, Ban chấp hành và Ban Thường vụ Trung ương Hội khoá II và khoá III đã ban hành nhiều Nghị quyết hướng dẫn các cấp Hội triển khai và phối hợp với các Bộ, sở, Ban ngành thực hiện Pháp lệnh người cao tuổi.

2.2. Công tác tuyên truyền phổ biến Pháp lệnh

Pháp lệnh của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã được các Ban đại diện Hội người cao tuổi cấp tỉnh, huyện phổ biến đến cơ sở.

Hội người cao tuổi các cấp đã phối hợp với các cơ quan, báo chí, đài phát thanh và truyền hình Trung ương, địa phương,…thường xuyên tuyên truyền chủ trương của Đảng, Pháp lệnh người cao tuổi. Các chuyên mục “ Cây cao bóng cả”, “Người đương thời”, “Người xây tổ ấm”, “Sống khoẻ, sống vui, sống có ích” đã có tác dụng động viên, cổ vũ người cao tuổi tham gia các hoạt động xoá đói giảm nghèo, tham gia xây dựng đảng, chính quyền, giữ vững an ninh chính trị trật tự an toàn xã hội ở cơ sở, hoà giải, giải quyết mâu thuẫn tại cộng đồng dân cư, hoạt động khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập, tham gia các hoạt động văn hoá xã hội, vận động con cháu và cộng đồng chấp hành chủ trương và pháp luật của nhà nước.

Nhiều sách, báo, tạp chí của Viện Lão khoa, Viện Dinh dưỡng, Viện Nghiên cứu Khoa học Thể dục thể thao, Viện Nghiên cứu người cao tuổi Việt Nam, Tạp chí người cao tuổi, Báo người cao tuổi…đã đăng tải nhiều bài hướng dẫn về rèn luyện và giữ gìn sức khoẻ cho người cao tuổi…

2.3. Các hoạt động chăm sóc đời sống vật chất cho người cao tuổi

Cùng với việc thực hiện xoá đói giảm nghèo, Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm đến chính sách trợ cấp xã hội  như: chính sách thân nhân liệt sĩ, Bà Mẹ Việt Nam anh hùng, thương binh, bệnh binh, đảm bảo được mức sống trung bình ở cộng đồng. 6.900 bà mẹ Việt Nam anh hùng được Nhà nước, các cơ quan, xí nghiệp địa phương nhận chăm sóc, phụng dưỡng suốt đời; có 4.206/126.000 người cao tuổi cô đơn, già yếu, tàn tật, không nơi nương tựa được đưa vào nuôi dưỡng tại các Trung tâm Bảo trợ xã hội ở địa phương, được sự hỗ trợ của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội, Trung ương Hội đã xây dựng thí điểm mô hình “Nhà xã hội” ở 3 tỉnh (Nam Định, Thừa Thiên Huế và Bến Tre) thực hiện chăm sóc người cao tuổi tại cộng đồng.

Thực hiện chính sách trợ cấp theo Nghị định 30/2002 của Chính phủ cho người cao tuổi đã được nhiều địa phương quan tâm. Một số địa phương có khả năng kinh tế còn nâng mức trợ cấp cao hơn mức qui định của Chính phủ như Quảng Ninh (100.000đ/65.000đ), Hà Nội (105.000đ/65.000đ). Ở Đồng Tháp có 6.154 cụ, ở An Giang có 14.420 cụ được hưởng trợ cấp xã hội. Cả nước có 30.222 trên tổng số 142.343 người cao tuổi từ 90 tuổi trở lên được hưởng trợ cấp theo quy định của Pháp lệnh.

Từ khi thực hiện Nghị định 67/NĐ-CP, ngày 13/4/2007 của Chính phủ  hạ độ tuổi trợ cấp xã hội cho người cao tuổi từ 90 xuống 85 tuổi và nâng mức trợ cấp từ 65.000 đ/người/tháng lên 120.000 đ/người/tháng. Theo báo cáo của các tỉnh, thành phố, tính đến tháng 12 năm 2008, tổng số người cao tuổi được hưởng chế độ theo Nghị định 67/CP là 700.631 người, trong đó số người đã được giải quyết trợ cấp là 643.931 người, chiếm 91,9%. Những người cao tuổi từ 60 đến dưới 85 tuổi bị tàn tật, cô đơn đủ điều kiện để được hưởng chế độ theo Nghị định 67 là 121.736 người, trong đó đã giải quyết 110.911 người, chiếm 91,1%. Tính đến nay, có 63 tỉnh đã giải quyết mức 120.000 đ/người/tháng, trong đó có 18 tỉnh, thành phố đã hoàn thành việc giải quyết trợ cấp cho 100% số người cao tuổi theo Nghị định 67.

Cùng với phong trào “Xây nhà Đại đoàn kết”, “Nhà tình nghĩa”, “Nhà tình thương”, nhiều địa phương đã quan tâm đến việc sửa chữa nhà ở, xoá nhà tạm, nhà tranh tre nứa lá bảo đảm nơi ở cho người cao tuổi.

Theo báo cáo của 62/63 tỉnh, thành phố, tính đến ngày 15 tháng 12 năm 2008, tổng số nhà tạm hiện còn của người cao tuổi trong cả nước là 118.135 nhà, trong đó bằng nhiều nguồn vốn khác nhau, Hội người cao tuổi được sự phối hợp của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp đã xoá được 71.305 nhà, chiếm 60,4%. Nhiều địa phương đã tích cực vận động, quyên góp xoá nhà tạm, sửa chữa nhà cho người cao tuổi.

Hưởng ứng đợt vận động quyên góp “1 triệu bộ quần áo tặng người cao tuổi nghèo” nhiều địa phương đã phát động sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân, trong các cơ quan xí nghiệp, đã thu được kết quả rất khả quan, nhiều người cao tuổi nghèo đã có quần áo ấm áp trong mùa đông lạnh giá. Kết quả đợt vận động này đã tác động mạnh mẽ đến tình cảm của người cao tuổi nghèo về sự quan tâm của xã hội.

2.4. Các hoạt động chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi

Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân là hoạt động nhân đạo, là một trong những nhiệm vụ ưu tiên của Nhà nước ta.

Mong muốn được khoẻ mạnh và khi có bệnh được chữa khỏi bệnh là nhu cầu cơ bản và thường xuyên của mỗi người cao tuổi. Theo điều tra của ngành Y tế, 95% người cao tuổi có bệnh mãn tính và trung bình mỗi người cao tuổi thường có 2,67 bệnh; tỉ lệ người cao tuổi có sức khoẻ tốt chỉ chiếm 5,7%. Số người cao tuổi từ 85 tuổi trở lên được cấp thẻ Bảo hiểm Y tế là 458.320 người, chiếm 80%. Hiện có 17 tỉnh, thành phố đã cấp thẻ Bảo hiểm Y tế cho người cao tuổi thuộc đối tượng được hưởng chế độ theo Nghị định 67.

Sau khi có Pháp lệnh người cao tuổi, nhất là sau khi có Thông tư hướng dẫn của Bộ Y tế (số 02/2004/TT-BYT, ngày 20-01-2004), công tác khám, chữa bệnh cho người cao tuổi được thuận lợi hơn. Cả nước có 28 bệnh viện Trung ương và tỉnh đã thành lập Khoa Lão khoa với 1.049 cán bộ, y bác sỹ và 2.728 giường điều trị. Viện Lão khoa dưới sự lãnh đạo của Bộ Y tế, đã tăng cường triển khai các nghiên cứu, khảo sát thực trạng sức khoẻ bệnh tật; Viện Nghiên cứu người cao tuổi Việt Nam đã triển khai các nghiên cứu khoa học về thực trạng sức khoẻ người cao tuổi Việt Nam (2007, 2008); về đời sống vật chất, tinh thần có liên quan đến sức khoẻ của người cao tuổi nhằm dự báo tình hình bệnh tật, những biện pháp phòng tránh. Tuy nhiên, mạng lưới y tế chuyên khoa ở các vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa hiện còn thiếu và yếu.

Để đáp ứng yêu cầu khám sức khoẻ định kỳ theo Pháp lệnh người cao tuổi đã được các cấp Hội quan tâm, nhất là cơ sở, coi đây là một hoạt động không thể thiếu trong chương trình công tác hàng năm của mình.

Các cấp Hội cơ sở đã phối hợp với ngành y tế, Hội chữ thập đỏ, Hội đông y, vận động các bác sĩ, lương y đương chức và đã nghỉ hưu tham gia khám sức khoẻ, cấp thuốc cho người cao tuổi thuộc diện chính sách, người cao tuổi nghèo nhân các ngày 10/5, 27/7, 01/10. Số người cao tuổi được khám sức khoẻ hàng năm chiếm khoảng 30% đến 40% tổng số người cao tuổi, số tiền chi cho một người trong một lần khám trung bình từ 10 đến 15 ngàn đồng.

Công tác quản lý sức khoẻ, lập sổ theo dõi sức khoẻ theo quy định của Pháp lệnh đã được nhiều hội cơ sở phối hợp với trạm y tế thực hiện có kết quả bước đầu ( TP. Hải Phòng 100% người cao tuổi được theo dõi, quản lý sức khoẻ tại các trạm y tế và được khám sức khoẻ định kỳ mỗi năm 2 lần).

Việc khám chữa bệnh tại nhà cho người cao tuổi già yếu, bị bệnh mạn tính cũng đã triển khai thực hiện ở nhiều cơ sở.

Tuy nhiên, theo báo cáo của nhiều địa phương, số người cao tuổi dùng thẻ Bảo hiểm y tế để khám chữa bệnh mới chiếm khoảng 1/3 tổng số người có thẻ. Nguyên nhân chủ yếu là việc khám chữa bệnh chưa thuận tiện, nhiều người phải đi xa, số tiền tốn phí đi lại nhiều hơn tiền thuốc được cấp.

Cùng với các hoạt động chăm sóc Y tế, các hoạt động Thể dục thể thao đã được các cấp Hội và hội viên quan tâm. Nhiều người cao tuổi đã tự tìm cho mình các bài tập phù hợp, tích cực tham gia sinh hoạt ở các câu lạc bộ sức khoẻ.

Trung ương Hội người cao tuổi Việt Nam và Uỷ ban Thể dục thể thao (nay là Bộ Văn hoá, Thể Thao và Du Lịch) đã có chương trình phối hợp đẩy mạnh các hoạt động thể dục thể thao cho người cao tuổi, giai đoạn 2004-2008.

Tóm lại, trong những năm qua, các hoạt động chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi đã được triển khai thực hiện tương đối toàn diện và đã mang lại những kết quả bước đầu thiết thực góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho người cao tuổi, giúp  người cao tuổi sống khoẻ, sống vui, sống có ích.

Tuy nhiên, hoạt động chăm sóc sức khoẻ mới đáp ứng một phần nhu cầu của người cao tuổi. Số đông vẫn chưa được tiếp cận đầy đủ các dịch vụ chăm sóc y tế, Thể dục, thể thao, nhất là ở nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa. Việc tổ chức khám sức khoẻ, cấp thuốc miễn phí, hàng năm mỗi tỉnh đã chi hàng trăm triệu đồng, song số người cao tuổi được khám miễn phí mới chiếm 30%. Các chính sách đã có cũng chưa thực hiện thật nghiêm túc.

2.5. Các hoạt động chăm sóc đời sống tinh thần của người cao tuổi

Đời sống tinh thần là một nhu cầu cơ bản trong cuộc sống mỗi người. Với người cao tuổi nhu cầu này lại càng lớn, thậm chí hơn cả nhu cầu về vật chất.

2.5.1. Hoạt động tình nghĩa

Các tổ hội, chi hội đã chủ động duy trì thường xuyên và nâng cao chất lượng hoạt động tình nghĩa tuỳ theo hoàn cảnh kinh tế, phong tục, tập quán văn hoá của từng địa phương nhờ đó đã làm cho “tình làng, nghĩa xóm” thêm ấm áp, làm cho nội dung hoạt động của Hội cơ sở thêm phong phú và hấp dẫn. Từ thực tế hoạt động, nhiều Hội cơ sở đã xây dựng qui chế thăm hỏi nhau khi có hội viên đau, yếu, vật chất tuy không nhiều, song đã an ủi động viên, chia sẻ những buồn vui.

Để có kinh phí duy trì được thường xuyên, việc thăm hỏi hội viên Hội cơ sở đã có sáng kiến và nhiều biện pháp xây dựng bảo toàn quỹ hội. Mỗi hội viên khi vào Hội đều tự nguyện nộp 1 khoản tiền gọi là chân quỹ, khoản tiền chân quỹ tuỳ theo  hoàn  cảnh  kinh tế và mức sống của cộng đồng. Quỹ hội còn được sự giúp đỡ của các nhà hảo tâm, sự ủng hộ của con cháu.

Cấp uỷ Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể các cấp thường xuyên thăm hỏi tặng quà người cao tuổi. Chủ tịch nước có quà tặng các cụ thọ 100 tuổi.

Hằng năm tổ chức mừng thọ, chúc thọ vào dịp đầu xuân, ngày Quốc tế người cao tuổi 01/10, đã được chính quyền, Mặt trận Tổ quốc phối hợp với Hội cơ sở tổ chức trọng thể, mang đậm nét văn hoá truyền thống, tôn vinh các bậc cao niên, trưởng lão.

Việc chăm lo tang lễ người cao tuổi từ trần đã được các Hội cơ sở quan tâm, tổ chức chu đáo, xây dựng qui chế tang lễ, chế độ phúng viếng.

2.5.2. Chăm sóc Người cao tuổi tại gia đình

Chăm sóc đời sống người cao tuổi trước hết là xây dựng một cuộc sống hoà hợp giữa người cao tuổi với các thế hệ con cháu…trong gia đình với cộng đồng dân cư. Hầu hết cuộc sống ở gia đình, không chỉ đáp ứng về đời sống vật chất, mà ý nghĩa lớn lao là nơi đáp ứng nhu cầu về đời sống tình cảm, đời sống tâm linh của người cao tuổi.

Tổ chức Hội luôn chú ý đẩy mạnh cuộc vận động “Ông bà, cha mẹ mẫu mực, con, cháu hiếu thảo” xây dựng “Gia đình văn hoá”. Cuộc vận động ngày càng thu hút đông đảo người cao tuổi tham gia, hàng năm bình xét có từ 75-90% gia đình được công nhận đủ tiêu chuẩn.

Người cao tuổi thường xuyên rèn luyện tu dưỡng, giữ cái tâm, cái đức trong sáng để làm gương cho con, cháu noi theo. Đồng thời luôn quan tâm khuyên bảo con cháu chăm chỉ học hành, giữ gìn đạo đức gia phong, sống liêm khiết, không làm những việc thất đức.

Bên cạnh những mặt được là cơ bản song hiện nay ở một số gia đình có nhiều thế hệ sống với nhau đang giảm dần. Qua điều tra cho thấy 31,1% ông bà, cha mẹ không sống chung với con, cháu; 6,3% người cao tuổi sống cô đơn. Do tác động của cơ chế thị trường có một số ít gia đình, gia phong bị phá vỡ, con cái đối xử tệ bạc với bố mẹ.

2.5..3. Chăm sóc đời sống tinh thần người cao tuổi

Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” và những việc làm cụ thể như công tác an ninh nhân dân, phòng chống tội phạm, công tác hoà giải, khuyến học, khuyến tài… Các hoạt động này vừa phát huy được tiềm năng của người cao tuổi góp phần xây dựng đời sống văn hoá, vừa chăm sóc đời sống tinh thần, tạo cho người cao tuổi có cuộc sống hoà hợp với cộng đồng, có tinh thần lạc quan, lấy việc giúp ích cho mọi người làm niềm vui, khắc phục tâm lý tự thấy mình là người thừa.

Gần đây, tại nhiều cơ sở phát triển “Câu lạc bộ ông bà cháu” tạo ra mối quan hệ hoà hợp giữa lớp người cao tuổi với các cháu thiếu nhi, phát huy được uy tín, kinh nghiệm của người cao tuổi, góp phần vào giáo dục các cháu chăm lo học tập, vui chơi của các cháu.

2.5.4. Các hoạt động nâng cao hiểu biết cho Người cao tuổi

Việc cung cấp thông tin đã được các phương tiện thông tin đại chúng, đài phát thanh truyền hình, các báo ở trung ương và địa phương, Tạp chí nghiên cứu người cao tuổi, Báo người cao tuổi và các cấp Hội quan tâm. Nhiều cơ sở Hội đã cố gắng cung cấp báo chí, lập tổ thông tin tổng hợp tin tức để phổ biến lại cho Hội viên trong các buổi sinh hoạt Hội.

Nhiều xã phường đã thành lập Trung tâm giáo dục cộng đồng. Nhiều người cao tuổi đã tham gia hoạt động, làm giám đốc trung tâm (Quảng Bình 126/159 xã phường có trung tâm giáo dục cộng đồng, trong đó gần 50% giám đốc Trung tâm là người cao tuổi), các Trung tâm tổ chức cho người cao tuổi học tập đường lối chính sách, pháp luật, khoa học kỹ thuật đáp ứng yêu cầu sản xuất và cuộc sống của người cao tuổi.

Tham quan du lịch là một nhu cầu mới trong cuộc sống của người cao tuổi. Tám năm qua, Thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức 66.886 người cao tuổi đi tham quan du lịch, Tỉnh Tiền Giang đã tổ chức 3.751 cuộc cho 121.504 người cao tuổi, Nghệ An đã tổ chức cho31.975 người cao tuổi đi tham quan du lịch (trên 10% người cao tuổi), Tỉnh Bình Phước có 2754 người cao tuổi đi tham quan. Tỉnh Hà Giang đã 9 lần tổ chức cho 460 người cao tuổi về tham quan Hà Nội. Hà Nội đã tổ chức cho 129.349 lượt người cao tuổi đi tham quam các di tích lịch sử, di tích cách mạng, các danh lam thắng cảnh trong nước… Các cuộc tham quan du lịch đã được tổ chức chu đáo, an toàn, đem lại nhiều điều bổ ích và hứng thú cho hội viên.

2.5.5. Hoạt động vui chơi, giải trí

Các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao; các câu lạc bộ nghệ thuật, thơ ca, thể dục, dưỡng sinh… đã được phát triển mạnh mẽ, rộng rãi, thu hút đông đảo người cao tuổi tham gia làm cho đời sống tinh thần của người cao tuổi ngày càng phong phú, vui vẻ, phấn khởi góp phần làm cho môi trường văn hoá trong khu dân cư vui tươi, lành mạnh. Theo báo cáo của 18 tỉnh thành đã có 9.065 câu lạc bộ các loại thu hút hàng triệu người tham gia  sinh hoạt  thường xuyên. Để cổ vũ động viên phong trào ở cơ sở, nhiều quận, huyện và tỉnh, thành phố việc tổ chức liên hoan tiếng hát người cao tuổi, Hội khoẻ người cao tuổi đã thành nếp thường xuyên.

Các hoạt động văn hoá – thể dục thể thao ở cơ sở hiện nay chủ yếu do người cao tuổi tự tổ chức, tự lo kinh phí, tự tìm mượn địa điểm, ít được các cơ quan chuyên môn quan tâm giúp đỡ . Vì vậy, hoạt động văn hoá, thể dục, thể thao của người cao tuổi vẵn đang gặp nhiều khó khăn về kinh phí và sân bãi.

2.6.  Hoạt động phát huy vai trò  người cao tuổi

Người cao tuổi là một kho tàng kiến thức, kinh nghiệm sống. Vì thế, Hội người cao tuổi các cấp đã phát huy tốt vai trò người cao tuổi và bản thân người cao tuổi, thể hiện nhu cầu “Được thấy mình là người có ích cho gia đình và xã hội”, thực hiện đúng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh với người cao tuổi “Lão giả không an chi, lão lai không tài tận”.

2.6.1. Phát huy trong hoạt động kinh tế

Người cao tuổi thi đua làm kinh tế giỏi là thể hiện ý chí, nguyện vọng thiết tha của mình, không cam chịu đói nghèo, vươn lên làm giàu cho mình, cho con cháu, cho cộng đồng, góp phần vào công cuộc đổi mới của đất nước. Người cao tuổi làm kinh tế không phải chỉ làm giàu cho mình mà còn tạo điều kiện để giúp đỡ người nghèo, giải quyết việc làm và làm giàu cho xã hội.

Trong 8 năm thực hiện Pháp lệnh người cao tuổi, Ban Chấp hành Trung ương Hội khoá II và khoá III đã 02 lần tổ chức Hội nghị toàn quốc người cao tuổi làm kinh tế giỏi. Tại Hội nghị lần thứ nhất (2003), Trung ương Hội đã biểu dương 300 cụ và Hội nghị lần thứ hai (2008), 228 cụ đại diện cho hàng vạn người cao tuổi trong cả nước được các cấp Hội tôn vinh danh hiệu người cao tuổi làm kinh tế giỏi. Thành phố Hồ Chí Minh có 3.117 người cao tuổi, Tây Ninh có 2.455 người cao tuổi làm kinh tế giỏi cấp tỉnh.

Cùng với việc chăm lo của Đảng, Nhà nước, các cấp Hội người cao tuổi cơ sở rất quan tâm đến việc xoá đói giảm nghèo trong người cao tuổi.

Phong trào xoá đói giảm nghèo đã được nhiều tỉnh triển khai có hiệu qủa như: Ở Phú Yên có 7.390 người cao tuổi, giúp được 6.014 người cao tuổi thoát được nghèo; Ở Bình Dương 4.219/6.729 người cao tuổi đã thoát nghèo nhờ vay vốn với lãi suất thấp để sản xuất, chăn nuôi. Tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu có 20.144 người, chiếm 34,24% so với tổng số người cao tuổi trực tiếp tham gia sản xuất kinh doanh và làm chủ trang trại. Thành phố Đà Nẵng có 18.200 người cao tuổi làm kinh tế, trong đó có 375 người cao tuổi làm chủ trang trại, doanh nghiệp, 472 cụ được phong tặng danh hiệu làm kinh tế giỏi. Tỉnh Quảng Ninh có 6 doanh nghiệp, 1.536 trang trại do người cao tuổi làm chủ. Tỉnh Tiền Giang có 1.845 NCT làm kinh tế Giỏi.

Đây là sự thể hiện truyền thống yêu nước “Chống giặc đói” mà Bác Hồ đã phát động từ những ngày đầu thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà nay là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2.6.2. Phát huy trong hoạt động khoa học, khuyến học, khuyến tài, y tế,  giáo dục

Hội người cao tuổi đã góp phần quan trọng trong việc khuyên dạy con cháu, dòng họ và mọi người áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất, kinh doanh, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, nâng cao chất lượng cuộc sống, đẩy mạnh công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập từ cơ sở, phát triển các hình thức hoạt động giáo dục, y tế ở địa phương.

Theo đánh giá của Hội người cao tuổi tại các địa bàn nghiên cứu “nhiều cán bộ trong ngành giáo dục, đào tạo, khoa học công nghệ, y tế đã nghỉ hưu và người cao tuổi ở nông thôn đã tích cực tham gia[2]. Nhiều tỉnh có trên 60% người cao tuổi tham gia khuyến học, khuyến tài như Thái Bình, Thanh Hoá, Phú Thọ, Quảng Trị, Trà Vinh, Cần Thơ. Nhiều Chủ tịch Hội khuyến học tỉnh, huyện và hàng vạn Chủ tịch Hội khuyến học ở cơ sở. 100% cán bộ chủ chốt của Hội khuyến học tỉnh Quảng Ninh là người cao tuổi. Đây là những hoạt động rất thiết thực, là thế mạnh mà Hội người cao tuổi và người cao tuổi luôn phát huy tốt.

Hưởng ứng chủ trương xã hội hoá giáo dục, người cao tuổi đã góp công sức để mở các trường dân lập, bán công, tư thục, từ mầm non đến đại học. Phần lớn các trường ngoài công lập là do người cao tuổi đứng ra thành lập và làm hiệu trưởng hoặc Chủ tịch hội đồng quản trị.

Hàng vạn cán bộ y tế là NCT tình nguyện tham gia hoạt động chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân bằng nhiều hình thức góp phần thực hiện chủ trương xã hội hoá y tế.

2.6.3. Hội NCT trong cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư

Hội người cao tuổi ở cơ sở đã tổ chức động viên hội viên và người cao tuổi tham gia có hiệu quả cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”. Tuyên truyền vị trí, vai trò tác động của văn hoá mới trong đời sống gia đình và xã hội, đăng ký phấn đấu xây dựng gia đình văn hoá, tham gia xây dựng và thực hiện qui ước, hương ước; thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội, các hoạt động văn hoá, thể dục thể thao. Nhiều hình thức câu lạc bộ thơ, cờ tướng, cầu lông, đi bộ…đã thu hút đông đảo người cao tuổi tham gia. Tỉnh Quảng Ngãi có 80% gia đình hội viên người cao tuổi đạt gia đình văn hoá, hơn 80% số người cao tuổi đạt tiêu chí 18 chữ vàng “ Tuổi cao-gương sáng”.

Người cao tuổi với tiềm năng và kinh nghiệm sống của mình góp phần xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Hội người cao tuổi và người cao tuổi thực sự có công trong việc giữ gìn, phát triển văn hoá, nghệ thuật truyền thống dân tộc. Nhiều người cao tuổi đã được tặng danh hiệu  “Bàn tay vàng” “Nghệ nhân” của các ngành nghề truyền thống (Đồ gỗ, đồ mỹ nghệ…)

Tổ chức Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và tổ chức Hội người cao tuổi các cấp đã quan tâm động viên người cao tuổi tham gia tích cực vào cuộc vận động”Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư ” bằng những việc làm cụ thể như công tác an ninh nhân dân, phòng chống tội phạm, hoà giải, khuyến học, khuyến tài… Các hoạt động này vừa phát huy được tiềm năng của người cao tuổi góp phần xây dựng đời sống văn hoá, vừa là chăm sóc đời sống tinh thần, tạo cho người cao tuổi  có cuộc sống hoà hợp với cộng đồng, có tinh thần lạc quan, lấy việc giúp ích cho mọi người làm niềm vui, khắc phục tâm lý thấy mình là người thừa.

2.6.4. Hoạt động của  người cao tuổi tham gia xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở

Từ khi ra đời đến nay, Hội người cao tuổi các cấp luôn coi đây là một trong những công tác trọng tâm trong nhiệm vụ phát huy vai trò của người cao tuổi. Một trong những chương trình hành động của phong trào thi đua “Tuổi cao- Gương sáng” của Hội người cao tuổi Việt Nam là:“Nêu gương sáng thực hiện cuộc vận động xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, khắc phục tệ quan liêu tham nhũng lãng phí…góp phần ổn định chính trị, xã hội”.

Trong năm 2004, Hội nghị biểu dương người cao tuổi tiêu biểu trong sự nghiệp ổn định chính trị xã hội ở cơ sở đã diễn ra ở hầu hết các tỉnh, thành phố, các quận, huyện, thị và nhất là ở xã, phường, thị trấn. Các Hội nghị này đã tổng kết các hoạt động cụ thể, biểu dương và nhân các điển hình tiên tiến của người cao tuổi trong lĩnh vực này. Đặc biệt, ở các khu vực Tây Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long, Trung du và miền núi phía Bắc, đã thảo luận về trách nhiệm của NCT góp phần vào việc xử lí các điểm nóng đang diễn ra tại địa phương như vấn đề “Nhà nước Đê Ga”, “Tin Lành Đê Ga”, “Khơ Me Cơ Rôm”, “Vàng Chứ” “Thìn Hùng”…và cuối tháng 9 năm 2008, Trung ương Hội người cao tuổi Việt Nam tổ chức Hội nghị biểu dương người cao tuổi làm kinh tế giỏi lần thứ 2 năm 2008.

Hội nghị đã nêu lên một nhận định có tính tổng kết: “ Góp phần vào sự nghiệp ổn định chính trị – xã hội là tiềm năng, thế mạnh và phát huy lợi thế của lớp người cao tuổi ; là sự đóng góp quan trọng thiết thực, trực tiếp, cụ thể thường nhật vào sự ổn định, củng cố, xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở”. Người cao tuổi có vai trò quan trọng trong sự nghiệp ổn định chính trị – xã hội, trong đó có việc góp phần không nhỏ vào những công việc cụ thể của công tác xây dựng Đảng, Chính quyền, phòng chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí và hoà giải ở cơ sở. Bên cạnh đó, Hội người cao tuổi còn có vai trò quan trọng trong việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân.

Là một lực lượng chính trị xã hội ngày càng đông đảo ở nước ta, người cao tuổi có những đóng góp quan trọng vào việc thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương, là nguồn lực nội sinh quý giá tạo nên sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần thúc đẩy sự nghiệp đổi mới đất nước và giữ vững ổn định chính trị – xã hội. Đây cũng là nguyện vọng chính đáng, phù hợp với tuổi tác, trí lực để người cao tuổi “sống khoẻ, sống vui, sống có ích” và tạo ra môi trường lành mạnh để người cao tuổi tiếp tục đóng góp, hoà nhập với xã hội.

Người cao tuổi có thế mạnh trong công tác hoà giải, lời nói của người cao tuổi có sức nặng, dễ đi vào lòng người, vì người cao tuổi có cách ứng xử phù hợp. Người cao tuổi có vị thế xã hội. “Việc làng, việc nước đều có vai trò người cao tuổi tham gia”.

Lớp người cao tuổi Việt Nam luôn coi việc xây dựng và bảo vệ Đảng, Chính quyền, bảo vệ chế độ chính trị là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng hàng đầu. Chương trình hành động Đại hội III Hội người cao tuổi Việt Nam ghi rõ: “Tham gia xây dựng Đảng, Chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, thực hiện vai trò tư vấn giám sát, phản biện xã hội và chức năng tham mưu cho Đảng, Nhà nước về chủ trương, chính sách, chương trình hành động liên quan đến người cao tuổi, xây dựng khối đoàn kết toàn dân tộc”.

Hội người cao tuổi ở cơ sở, đã chủ động phối hợp với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức đoàn thể cùng cấp tuyên truyền vận động các tầng lớp nhân dân góp phần tích cực vào công cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tham gia xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, giám sát hoạt động của các cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử, phản ánh tâm tư nguyện vọng của cử tri.

Nhiều nơi, tổ chức Hội đã xây dựng được quy chế phối hợp hoạt động giữa Hội NCT với các đoàn thể và các tổ chức hữu quan. Trong những ngày còn lại của cuộc đời mình, người cao tuổi sẵn sàng tham gia những công tác xã hội trong đó có công tác xây dựng Đảng, xây dựng Chính quyền. Nhiều người cao tuổi, khi bắt đầu nghỉ hưu, cũng là lúc bắt tay vào công việc mới do cấp uỷ Đảng, chính quyền giao cho; rồi cứ liên tục không ngừng, không nghỉ, lăn lộn với phong trào, say mê với công việc xã hội bằng cả tấm lòng mình.

Hội người cao tuổi đã phối hợp với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể tuyên truyền phát động hội viên, đoàn viên, giáo dục con cháu, vận động bà con thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ở cơ sở như: Chính sách hậu phương quân đội, luật nghĩa vụ quân sự, bảo đảm quốc phòng an ninh và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội ở cơ sở, chăm lo xây dựng khối đoàn kết toàn dân, giúp nhau xây dựng cuộc sống bình an trong các khu dân cư. Không có tổ hoà giải nào là không có người cao tuổi. Người cao tuổi chiếm đa số và thường giữ cương vị tổ trưởng trong các tổ hoà giải ở khu dân cư.

Ở tỉnh Phú Thọ: “người cao tuổi tham gia xây dựng được 6.750 hương ước, quy ước làng bản, 1.099 hội viên tham gia các tổ hoà giải và hoà giải thành 2.696 vụ việc, tích cực tham gia các tổ dân phố tự quản”. Điều này có thể thấy ở thị xã Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình, “người cao tuổi đã hoà giải thành công hàng trăm vụ xích mích, mâu thuẫn trong gia đình, thôn xóm, đường phố”. Ở xã Thanh Hà, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam “ Hội viên người cao tuổi đã vận động và tham gia xây dựng được 7 hương ước làng về phòng chống các tệ nạn xã hội, về công tác tôn giáo, về bảo vệ môi trường…”Ở tỉnh Tiền Giang có 1.178 người cao tuổi tham gia và đã hoà giải thành công 994 vụ.

Người cao tuổi đã nhận là làm và làm tốt nhiệm vụ trên cương vị được giao như Bí thư chi bộ, Đảng bộ; trưởng thôn bản, Chủ tịch, Phó Chủ tịch các đoàn thể (Cựu chiến binh). Tỉnh Ninh Thuận có 3.570 NCT, Thanh Hoá 1.277 người cao tuổi tham gia các chức danh  trên.

Bằng uy tín của mình, Hội người cao tuổi đã làm tốt công tác chống tội phạm, chống tham nhũng lãng phí. Ở Cao Bằng, Lạng Sơn, tại các thôn bản giáp biên giới, Hội người cao tuổi đã cùng lực lượng công an bộ đội biên phòng trực diện đấu tranh với các hoạt động  xâm canh, xâm cư…

Nhiều Hội người cao tuổi cơ sở đã thực sự là bộ phận quan trọng của hệ thống chính trị ở xã, phường, thị trấn; là chỗ dựa tin cậy của Đảng, Chính quyền, là thành viên tích cực của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân.

Đánh giá về vấn đề này, tại cuộc gặp mặt thân mật với các đại biểu toàn quốc trên lĩnh vực khoa học – giáo dục – y tế do Trung ương Hội người cao tuổi Việt Nam tổ chức tháng 8 năm 2005, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã nói: “Ngoài việc người cao tuổi tham gia các hoạt động kinh tế, văn hoá, khoa học kĩ thuật, công nghệ… tôi cũng rất vui mừng là đông đảo người cao tuổi còn tích cực tham gia công tác Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân ở cơ sở; có thể nói đó là yếu tố quan trọng góp phần giữ vững sự ổn định chính trị -xã hội, giáo dục thế hệ trẻ duy trì những truyền thống tốt đẹp của dân tộc…”

III. NHỮNG HẠN CHẾ CỦA PHÁP LỆNH NGƯỜI CAO TUỔI

Thứ nhất, Pháp lệnh người cao tuổi ra đời năm 2000; đến 2002 mới có Nghị định 30/CP của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh.  Pháp lệnh chưa được thể chế đồng bộ, còn mang nặng tính tuyên bố, chưa có các chế tài ràng buộc. Bởi vậy, cho đến nay, một số bộ, ngành có liên quan vẫn chưa có thông tư hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh người cao tuổi, nên việc triển khai thực hiện các hoạt động chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi gặp nhiều khó khăn.

Thứ hai, nhận thức của một số cấp uỷ, chính quyền, các ban, ngành, các tổ chức xã hội về Pháp lệnh người cao tuổi còn chưa đầy đủ; Công tác tuyên truyền giáo dục trong các tầng lớp nhân dân chưa sâu rộng và việc tổ chức thực hiện ở nhiều địa phương chưa tốt, thiếu kiểm tra đôn đốc kịp thời. Trong quá trình thực hiện Pháp lệnh, do kinh tế khó khăn nên nhiều địa phương chưa thực hiện nghiêm túc các chế độ chính sách của Nhà nước đối với người cao tuổi từ mức hưởng 45.000 đ/người/tháng lên 65.000 đ/người/tháng đối với người cao tuổi từ 90 tuổi trở lên và nay là 120.000 đ/người/tháng đối với người cao tuổi từ 85 tuổi trở lên theo Nghị định 67/CP của Chính phủ. Trách nhiệm gia đình chưa phối hợp tốt với xã hội để chăm sóc ông bà, cha mẹ mình. Chưa nghiên cứu sâu sắc tình hình, đặc điểm người cao tuổi vùng dân tộc thiểu số, miền núi, vùng sâu, vùng xa, nên Pháp lệnh người cao tuổi chưa xây dựng được chính sách chăm sóc người cao tuổi phù hợp, sát với điều kiện cụ thể.

Thứ ba, việc xây dựng Quỹ toàn dân chăm sóc người cao tuổi, Quỹ phụng dưỡng ông bà cha mẹ ở các gia đình phát triển chưa đều khắp, chưa tương xứng với khả năng của Hội viên, của gia đình và của các tổ chức kinh tế, xã hội.

Thứ tư, kinh phí hỗ trợ của nhà nước cho các hoạt động chăm sóc người cao tuổi còn hạn hẹp, nhất là ở cơ sở, nên vệc chăm sóc đời sống người cao tuổi về vật chất, tinh thần chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra. Do phân cấp cho Uỷ ban nhân dân tỉnh chịu trách nhiệm trong việc lập kế hoạch tài chính và dự toán ngân sách hỗ trợ các hoạt động thiết thực của người cao tuổi thuộc địa phương quản lý, nên những địa phương nào có điều kiện kinh tế thì hỗ trợ nhiều, còn những nơi khác thì được bao nhiêu hay bấy nhiêu.

Thứ năm, Hội người cao tuổi có vai trò làm nòng cốt trong phong trào toàn dân chăm sóc người cao tuổi, nhưng Ban Đại diện của Hội ở cấp tỉnh, cấp huyện chưa phải là cấp hoàn chỉnh, đội ngũ cán bộ của Hội ở  các địa  phương đều còn thiếu và không ổn định, nên các cấp Hội chưa đủ sức làm tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền tổ chức các hoạt động chăm sóc người cao tuổi có hiệu quả. Hệ thống tổ chức của Hội chưa hoàn chỉnh nên kết quả hoạt động chăm sóc người cao tuổi còn nhiều hạn chế. Việc thành lập Ban công tác người cao tuổi các cấp, để giúp chính quyền các cấp thực thi tốt hơn công tác chăm sóc người cao tuổi  chưa được tiến hành.

Thứ sáu, việc phát huy người cao tuổi đặc biệt là người cao tuổi trong việc tham gia xoá đói giảm nghèo, xây dựng đảng, chính quyền, xây dựng xã hội học tập, xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư, xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; tham gia giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội ở cơ sở; tham gia hoà giải, giải quyết mâu thuẫn ở cộng đồng dân cư…chưa được các cấp chính quyền, đoàn thể quan tâm, phát huy và tạo điều kiện để thực hiện, do đó còn nhiều hạn chế. Đây là sự lãng phí lớn về nguồn lực, tri tuệ va kinh nghiệm mà lớp trẻ không phải một sớm một chiều có thể bù đắp được.

Sở dĩ còn có những hạn chế trên là do chưa có chiến lược quốc gia về già hoá dân số; chưa thiết lập được những dịch vụ đối với người cao tuổi; chưa ban hành đủ các văn bản quy phạm pháp luật để tạo ra các môi trường thân thiện đối với người cao tuổi như nhà ở, giao thông, dịch vụ văn hoá, chăm sóc sức khoẻ….Luật Ngân sách quy định trong mục: “Ngân sách đảm bảo xã hội”, không có tiểu mục chi cho công tác người cao tuổi nên việc tổ chức, triển khai công tác này ít được các cấp quan tâm. Công tác xã hội hoá chăm sóc người cao tuổi đã hình thành nhiều mô hình nhưng chưa có cơ chế, chính sách để phát huy và nhân rộng. Công tác thống kê về người cao tuổi, chính sách đào tạo nguồn lực cho việc chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi làm chưa tốt. Nhà nước chưa có chế tài để xử lý các tổ chức, cá nhân vi phạm trong việc thực hiện pháp luật về người cao tuổi. Một bộ phận dân cư chưa có nhận thức thật đúng về người cao tuổi, coi người cao tuổi là đối tượng yếu thế, nên chưa đáp ứng được yêu cầu tối thiểu về đời sống của họ. Nhận thức của một bộ phận cán bộ về các chính sách đãi ngộ đối với người cao tuổi còn rất hạn chế; ở cấp cơ sở sự đãi ngộ chưa thật công bằng giữa cán bộ của Hội người cao tuổi với các Hội chính trị – xã hội khác.

IV.  Một số kiến nghị

Để khắc phục được những hạn chế của Pháp lệnh người cao tuổi:

1. Cần xây dựng và ban hành Luật người cao tuổi thay thế Pháp lệnh người cao tuổi.

2. Luật người cao tuổi phải:

+ Thể chế hoá được đ­ường lối, chính sách của Đảng và Nhà nư­ớc Việt Nam về người cao tuổi một cách hệ thống, và toàn diện.

+ Xây dựng được cơ sở pháp lý đảm bảo cho các hoạt động của người cao tuổi, khuyến khích sự quan tâm rộng rãi của các tổ chức, cá nhân nhằm xã hội hóa công tác chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi.

+ Thể hiện đư­ợc sự cam kết của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong việc thực hiện tuyên bố về chương trình hành động Quốc tế Mađrit mà Việt Nam đã kí kết.

+ Có chế tài để đảm bảo thực thi các điều luật đã nêu khi luật được Quốc hội thông qua.

+ Đáp ứng đư­ợc nhiều đối tư­ợng thụ hư­ởng.

+ Thoả mãn đư­ợc nhu cầu trư­ớc mắt, đồng thời có giá trị cho sự phát triển lâu dài.

3. Khi Luật ng­ười cao tuổi được Quốc hội thông qua:

+ Hội ng­ười cao tuổi Việt Nam kiến nghị với các bộ, ngành có liên quan sớm xây dựng thông tư hướng dẫn thực hiện Luật ng­ười cao tuổi một cách đồng bộ; đồng thời sớm nghiên cứu ban hành, bổ sung, sửa đổi những chính sách cụ thể đối với người cao tuổi cho phù hợp với thực tế

+ Từ tình hình thực tế và kết quả hoạt động của Hội ng­ười cao tuổi trong những năm qua, xin đề nghị Đảng và Nhà nước xác định Hội Người cao tuổi Việt Nam là tổ chức chính trị – xã hội và giải quyết các chính sách cho Hội như các đoàn thể chính trị-xã hội khác.

+ Hệ thống tổ chức của Hội cần hoàn chỉnh ở 4 cấp: Trung ương; cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã.

+ Đưa vào Luật người cao tuổi về cấp kinh phí hàng năm cho các hoạt động của các cấp Hội ng­ười cao tuổi.

+ Ở mỗi tỉnh, thành phố được Nhà nước hỗ trợ kinh phí – xây dựng điểm một trung tâm chăm sóc ng­ười cao tuổi cô đơn, không nơi nương tựa. Ở mỗi huyện, xã, thực hiện phương châm nhân dân và Nhà nước cùng làm, xây dựng các cơ sở chăm sóc, nghỉ ngơi vui chơi, giải trí cho ng­ười cao tuổi.

+ Nhà nước có chế tài để xây dựng Quỹ toàn dân chăm sóc ng­ười cao tuổi. Công dân từ 18 tuổi trở lên, có nghĩa vụ đóng góp vào quỹ này.

Chăm sóc ng­ười cao tuổi là nghĩa vụ chủ yếu của gia đình, của xã hội và của công dân, là trách nhiệm của Nhà nước, đã được quy định cụ thể trong Luật ng­ười cao tuổi. Vấn đề quan trọng hiện nay là tổ chức thực hiện, do vậy đòi hỏi các cấp Hội phát huy vai trò nòng cốt của mình cùng Nhà nước và xã hội thực hiện tốt việc chăm sóc và phát huy vai trò ng­ười cao tuổi là mong ước của 9 triệu ng­ười cao tuổi./.

(Nguồn: Hội người cao tuổi Việt Nam)


[1] Điều tra biến động dân số KHHGĐ năm 2001-2003. Tổng cục Thống kê, tr 13,14.

[2] Ý kiến của lãnh đạo Hội NCT tại các địa bàn được nghiên cứu ở hai tỉnh: Quảng Ngãi và Quảng Ninh, năm 2007 và 2008.