Nhu cầu và vấn đề điều khiển hành vi

Nhu cầu với tư cách là một hiện tượng tâm lý của con người, nó chi phối một cách mãnh liệt đến đời sống tâm lý nói chung, đến hành vi của con người nói riêng.

Nhu cầu được nhiều ngành khoa học nghiên cứu và ứng dụng vào nhiều lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống: Trong quản lý, kinh doanh, giáo dục… Trong tâm lý học nhu cầu được nhiều công trình nghiên cứu đề cập tới. Ở đây tôi xin đề cập tới vấn đề nhu cầu trong mối quan hệ với việc điều khiển hành vi của con người.

Tại sao con người lại có hành động này chứ không phải là hành động khác trong một số hoàn cảnh? Hành động được hình thành như thế nào? Yếu tố gì quyết định đến hành vi của con người?

Bất cứ một hoạt động nào của con người cũng là nhằm thỏa mãn một nhu cầu nào đó của bản thân. Nhưng nhu cầu với tư cách là một điều kiện bên trong, là trạng thái thiếu thốn của cơ thể – trạng thái này tự nó không gây ra bất kỳ hoạt động nào có định hướng nhất định. Chức năng của nó chỉ giới hạn trong việc phát động những chức năng sinh lý tương ứng và kích thích chung đối với lĩnh vực vận dụng biểu hiện thành những cử động tìm tòi không có phương hướng. Chỉ khi nào gặp được vật (đối tượng ) đáp ứng thì khi đó nhu cầu mới trở thành có năng lực hướng dẫn và điều chỉnh hoạt động. Sự việc nhu cầu gặp được đối tượng là sự việc đặc biệt lúc đó như cầu được đối tượng hóa làm cho nhu cầu chứa đầy nội dung rút ra từ thế giới xung quanh. Chính lúc này nhu cầu có ý nghĩa hướng dẫn hành vi hoạt động của chủ thể:

Con người là chủ thể của hoạt động, của hành vi. Con người thực hiện: hành vi nhằm thỏa mãn nhu cầu được ý thức và hành vi này được thực hiện trên những khách thể nhất định. Muốn hướng con người vào một hành vi nào đó phải nghiên cứu hệ thống nhu cầu của người đó, giúp họ ý thức được nhu cầu, tạo điều kiện cho sự gặp gỡ giữa nhu cầu và đối tượng hay nói cách khác là phải tìm cách đối tượng hóa nhu cầu của chủ thể.

Nhu cầu của con người theo ông Nguyễn Khắc Viện có ba loại cơ bản: nhu cầu vật chất, nhu cầu xúc cảm và nhu cầu xã hội.

Các nhu cầu vật chất: có liên quan mật thiết đến hoạt động của cơ thể và đôi khi được mô tả như là các xung năng (drives) sơ cấp hoặc sinh lý. Chẳng hạn như xung năng tình dục, xu năng đói. Đó là các nhu cầu bẩm sinh. Các nhu cầu vật chất thông thường ở người là nhu cầu về thực phẩm, phương tiện sinh sống như nước, ô xy và nhu cầu bài tiết, quần áo và nơi che chở để bảo vệ và giữ cơ thể ấm áp. Nhu cầu được hoạt động, hoặc được kích thích cảm giác và vận động kể cả khoái cảm, tình dục, luyện tập thân thể và nghỉ ngơi.

Nhu cầu về cảm xúc: loại nhu cầu này cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo ra động lực cho hành vi và khi cảm xúc bị hẫng hụt thì dẫn đến hậu quả gây ra các nhiễu loạn trong hành vi (nên chú ý khi ta muốn đề đạt vấn đề gì muốn được chấp nhận thì phải lựa lúc, lựa lời để tăng hiệu quả). Các nhu cầu chung về cảm xúc là: Nhu cầu về tình thương yêu của con người, sự tán thành và kính trọng, nhu cầu được thừa nhận, nhu cầu về sự xứng đáng, nhu cầu được cần tới và được người khác mong muốn.

Các nhu cầu xã hội: các nhu cầu xã hội và các cách thỏa mãn các nhu – cầu đó nảy sinh lừ nền văn hóa hoặc bối cảnh xã hội mà con người là một thành viên. Các nhu cầu xã hội đan xen với các nhu cầu vật chất và nhu cầu cảm xúc. Những nhu cầu xã hội chung là nhu cầu đồng nhất hóa hay nhu cầu được quy thuộc một nhóm, một hạng người nào đó: Nhu cầu giáo dục, nhu cầu theo tôn giáo, nhu cầu giải trí… Các nhu cầu xã hội cũng như các nhu cầu khác được đáp ứng trong tác động qua lại với những người gần gũi, các thành viên của cộng đồng, các nhóm xã hội cũng như gia đình.

Các nhu cầu đan xen nhau phụ thuộc lẫn nhau quan hệ qua lại với nhau tới mức trong thực tế chúng không thể tách rời được nhau, chúng như một dịch lỏng và luôn luôn thay đổi. Có cái khởi sự bằng nhu cầu được thoả mãn bằng cách cùng chia sẻ món thức ăn đã trở thành lễ nghi như là tượng trưng cho sự tôn trọng: Chẳng hạn việc đưa đồ giải khát mời khách biểu thị lòng mến khách của người phương Nam, việc mời trầu hay một món ăn nào đó biểu thị sự kính trọng của người phương Đông.. Một số món ăn nào đấy, một số cách nấu nướng nào đấy, một cách phục vụ nào đấy cả cách ngồi ăn, tập quán ăn uống được nhận biết cùng với nền văn hóa.

Chúng ta có thể chia nhu cầu con người dựa theo các tiêu chuẩn khác nhau

Căn cứ vào đối tượng có hai loại nhu cầu: Nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần.

Nhu cầu vật chất là nhu cầu cơ bản bảo đảm sự tồn tại của con người: Nhu cầu thức ăn thức uống, nhà cửa, quần áo… Nhu cầu vật chất được phát triển cùng sự tiến bộ của xã hội,

Nhu cầu tinh thần được nảy sinh trên cơ sở của nhu cầu vật chất và được nhu cầu vật chất nuôi dưỡng. Nhu cầu tinh thần làm cho nhu cầu vật chất biến dạng cao thường phức tạp thêm lên. Nhu cầu tinh thần cũng vô cùng đa dạng: Nhu cầu học tập, nhu cầu làm khoa học nghệ thuật, chính trị, nhu cầu công bằng xã hội…

Nhu cầu tính thần phát triển không ngừng. Việc tìm cách thỏa mãn các nhu cầu ngây càng cao làm cho xã hội phát triển.

Xét về mức độ ta có thể chia nhu cầu trên ba mức độ:

Thứ nhất: Lòng mong muốn, ở mức độ này con người còn giữ được ý thức sáng suốt, động cơ còn trong sáng, nhân cách còn trọn vẹn.

Thứ hai: Tham, đến mức độ cả tham ý thức bắt đầu lệch lạc và thiếu sáng suốt cho nên con người hoạt động rất tích cực và. mang tính ích kỷ.

Thứ ba: Đam mê, ở mức độ này nhân cách bị tha hóa hoàn toàn, mất hẳn ý thức, có nhiều hoạt động thiếu sáng suốt đến mức mất hẳn tính người, hoạt động điên cuồng, rồ dại và độc ác.

Nhu cầu của con người không phải là cái bất di bất dịch mà nó rất năng động, biến đổi thường xuyên song sự vận động và biến đổi của nhu cầu cũng tuân theo một số quy luật nhất định.

Quá trình thỏa mãn nhu cầu của con người thông thường trải qua ba giai đoạn hay ba trạng thái: Lúc chưa được thỏa mãn thì háo hức, mong ước do đó thúc đẩy con người hoạt động tìm tòi để lấy cân bằng. Muốn điều khiển hành vi của con người nên đánh vào những nhu cầu đang ở giai đoạn này. Khi đang chiếm lĩnh đối tượng để thỏa mãn nhu cầu thì con người có trạng thái khoan khoái dễ chịu, ngây ngất sung sướng. Khi đã lấy được cân bằng, nhu cầu đã được thỏa mãn cực độ bão hòa thì có tâm trạng chán chường. Lúc này đối tượng mất hết ý nghĩa. Nếu đánh vào những nhu cầu ở giai đoạn này thì không có ý nghĩa gì. Nhưng nếu có đối tượng mới sẽ kích thích nhu cầu mới và nhu cầu mới sẽ nổi lên, hoạt động mới sẽ xuất hiện. Vì vậy nhu cầu con người là bất tận.

Nhu cầu với tư cách là trạng thái có thể có nhiều đối tượng để thỏa mãn cũng như nhiều con đường để thỏa mãn song chủ thể sẽ chọn đối tượng nào có thể đem lại lợi ích nhất và tạo nên khoái cảm nhiều nhất cho chủ thể. Đây là một điểm rất đáng chú ý trong vấn đề điều khiển hành vi con người.

Hầu hết mỗi người có một hệ thống nhu cầu. Khi nhu cầu này được thỏa mãn thì nhu cầu khác trở nên bức thiết và cấp bách hơn (trước đó có thể là thứ yếu). Con người không bao giờ thỏa mãn được cùng một lúc mọi nhu cầu. Khi những điều mong ước trước đây đã được giải quyết thì những điều mong lược mới sẽ phát sinh. Nhu cầu mong ước của con người là vô tận. Muốn điều khiển hành vi của con người cần xác định thời điểm đó nhu cầu nào đang nổi lên, đang trở nên cấp bách nhất đối với con người đó để có những tác động thích hợp.

Mọi nhu cầu đều được cụ thể hóa thành xu hướng: Xu hướng là khuynh hướng, là hệ thống nhu cầu được phản ánh vào hứng thú, ước mơ, lý tưởng. Hệ thống nhu cầu này nó quy định xu hướng của con người. Xu hướng thường được biểu hiện ra ở các mặt như hứng thú, ước mơ, lý tưởng.

Hứng thú là sự xuất hiện cảm xúc trong nhu cầu, là sự chú ý đặc biệt của con người đến một hay vài đối tượng nào đó, là sự khát khao muốn tiếp cận để đi sâu tìm hiểu. Hứng thú rất phong phú đa dạng và nó đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động của con người. Trước tiên nó tạo ra khát vọng tìm hiểu đối tượng từ đó mà điều chỉnh hành vi cử chỉ, ý nghĩa tình cảm của con người theo một hướng xác định. Như thế thông qua hứng thú ta biết được những nhu cầu nào đang nổi lên đang cấp thiết gắn với chủ thể. Và thông qua việc tác động vào những nhu cầu đó tạo nên hứng thú. Ở con người điều khiển hành vi cần con người.

Ước mơ: ước mơ là những nhu cầu đã được con người ý thức và cụ thể hóa theo một khuynh hướng nhất định. Đó là những mong ước được phản ánh thành những hình ảnh khá sinh động, tạo thành động cơ thúc đẩy con người hoạt động mãnh liệt. ước mơ rất phong phú đa dạng: ước mơ nhỏ bé như ước mơ có cái áo đẹp, ước mơ có nhà cao cửa rộng. Ước mơ cao đẹp như ước mơ thành nhà bác học, phi công…

Lý tưởng là hình ảnh của hiện thực và là hệ thống biểu tượng về một cái gì đó mà con người và xã hội cần vươn tới.

Mọi hành vi, cử chỉ, ý nghĩ của con người bị điều chỉnh bởi lý tưởng. Lý tưởng được hình thành và phát triển trên cơ sở của niềm tin. Niềm tin là hệ thống nhận thức rõ các nhu cầu của con người tạo thành nhân sinh quan, thế giới quan.

Khi nghiên cứu hệ thống nhu cầu ở mọt người hoặc một nhóm, một tầng lớp cần phải nghiên cứu điều kiện xã hội, điều kiện kinh tế, phong tục tập quán, đặc điểm tâm lý… của họ. Chính những điểm đó quy định hệ thống nhu cầu của con người. Thường thì con người thực hiện một hành vi nào đó là để thoả mãn một hệ thống nhu cầu. Trong hệ thống nhu cầu đó có những nhu cầu cấp thiết hơn nó thúc đẩy mạnh mẽ con người tới hành vi và ta gọi những nhu cầu đó là nhu cầu nổi trội.

Nhu cầu nổi trội hiện diện ngay trong hứng thú, ước mơ và lý tưởng nhưng vẫn có lúc nó tiềm ẩn và nếu được đánh thức thì nó lại tạo nên những hứng thú ước mơ và thôi thúc con người hành động. Nhu cầu nổi trội, nó nổi lên trên cái nền là hệ thống các nhu cầu khác xin chú ý là nhu cầu nổi trội đóng vai trò động. Không có nhu cầu nào luôn luôn là nhu cầu nổi trội cả. Trong cùng một hệ thống nhu cầu sống ở hoàn cảnh này nhu cầu này là nhu cầu nổi trội, ở hoàn cảnh khác nó lại trở nên thứ yếu và nhường chỗ cho nhu cầu khác. Trong một loạt khách thể tương đồng thì chủ thể hay chọn một khách thể nào đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu nổi trội (tất nhiên khách thể đó phải đáp ứng cả hệ thống nhu cầu). Muốn tác động vào con người để điều khiển hành vi của họ trong một hoàn cảnh nào đó phải xác định hệ thống nhu cầu họ có thể có trong hoàn cảnhđó và điều quan trọng nhất là xác định nhu cầu nổi trội để kế hoạch tác động thích hợp.

Qua phân tích trên ta thấy việc nghiên cứu nhu cầu ở con người với tư cách là một hiện tượng lâm lý có một ý nghĩa rất lớn lao đối với việc điều khiển hành vi của con người nên trong công tác tuyên truyền quảng cáo, trong công tác quản lý cần phải có những kiến thức về nhu cầu của con người phải biết phương pháp xác định và nắm bắt nhu cầu của con người, phải biết được ý nghĩa của từng nhu cầu đối với từng con người cụ thể trong những hoàn cảnh xác định.

Nguồn: chungta.com

Advertisements

Những nguyên tắc cơ bản của công tác xã hội

Những nguyên tắc của công tác xã hội là các yếu tố cấu trúc quan trọng nhất của các hình thái lý luận khoa học lôgic và là những quy định chủ yếu của các hình thái lý luận khoa học lôgic và là những quy định chủ yếu của hoạt động theo kinh nghiệm.

Chính thông qua việc áp dụng nguyên tắc mà thực hiện việc so sánh trực tiếp các vấn đề lý thuyết được thể hiện trong những phạm trù và quy luật với thực tiễn của công tác xã hội. Đã chia ra những nhóm nguyên tắc lý luận về công tác xã hội sau đây:

Những nguyên tắc triết học nói chung nằm trong cơ sở của tất cả các khoa học xã hội, khoa học về con người và các cơ chế tác động tương hỗ của chúng. Đó là: nguyên tắc quyết định, nguyên tắc phản ánh, nguyên tắc phát triển, nguyên tắc thống nhất nhận thức và hoạt động, nguyên tắc lịch sử, nguyên tắc quan hệ tương hỗ liên tục giữa cá nhân và môi trường xã hội.

Những nguyên tắc chính trị- xã hội, hoạt động- tổ chức, tâm lý- giáo dục.v.v. là những nguyên tắc hạn hẹp hơn cả về nội dung, nhưng cũng bao trùm các mặt khác nhau của công tác xã hội. Tính phức tạp và đa dạng của nhiều yếu tố tác động lẫn nhau, biểu hiện của các mối liên hệ điều chỉnh, phối hợp, phụ trợ khác nhau và các quan hệ được phản ánh trong sự hoà nhập lẫn nhau của các yếu tố của hệ thống nguyên tắc điều hoà sự hoạt động giúp đỡ về mặt xã hội cho nhân dân.

Những nguyên tắc chính trị xã hội thể hiện những yêu cầu được hình thành bởi sự tuỳ thuộc của nội dung và xu hướng của công tác xã hội vào chính sách xã hội của nhà nước. Sự phụ thuộc này xác định các quan điểm lựa chọn ưu tiên trong việc bảo vệ xã hội cho nhân dân, phối hợp lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể trong công tác xã hội. Những nguyên tắc chủ yếu của nhóm này là: sự thống nhất giữa quan điểm nhà nước trong việc phối hợp với những đặc điểm của địa phương trong công tác xã hội, tính dân chủ trong nội dung và phương pháp của công tác xã hội, tính đến những điều kiện cụ thể của hoạt động sống hoặc của một nhóm trong xã hội khi lựa chọn nội dung, hình thức và phương pháp công tác xã hội, tính quy luật và tính đúng đắn trong hoạt động của người cán bộ xã hội.

Trong số các nguyên tắc tổ chức cần đặc biệt lưu ý các nguyên tắc: uy tín về mặt xã hội- công nghệ của cán bộ, nguyên tắc kiểm tra và theo dõi việc thực hiện, nguyên tắc xác định chức năng, nguyên tắc thống nhất quyền hạn và trách nhiệm, uỷ quyền và nhiệm vụ.

Các nguyên tắc tâm lý- giáo dục chiếm một vị trí to lớn trong cấu trúc các hình thái lý luận khoa học lôgic. Chúng thể hiện yêu cấu lựa chọn phương tiện gây tác động tâm lý- giáo dục tới thân chủ của những ngành phục vụ xã hội , sự cần thiết phải tính đến đặc điểm của cá nhân trong việc thực hiện bất kỳ các thủ tục công nghệ- xã hội . Những nguyên tắc chủ yếu của nhóm này là: phân tích tổng hợp việc đánh giá các điều kiện hoạt động sống của thân chủ và lựa chọn các hình thức- phương pháp làm việc với họ, giải pháp cá nhân, mục tiêu và địa chỉ của công tác xã hội.

Cuối cùng, các nguyên tắc đặc biệt của công tác xã hội xác định những quy định chủ yếu của hoạt động trong lĩnh vực phục vụ xã hội cho nhân dân.

Nguyên tắc tổng hợp đòi hỏi phải loại trừ phân biệt đối xử trong việc giúp đỡ về mặt xã hội với bất kỳ đặc điểm tư tưởng, chính trị, tôn giáo, dân tộc, chủng tộc và lứa tuổi nào. Việc giúp đỡ cần được tiến hành cho từng thân chủ với một lý do thống nhất là: theo nhu cầu cần sự giúp đỡ của họ.

Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi xã hội nêu rõ, không thể giúp đỡ cho thân chủ nếu họ yêu cầu khước từ quyền hạn hay một phần quyền hạn của họ trong xã hội. Thí dụ; theo luật pháp hiện hành, không được gắn sự giúp đỡ cho một gia đình đông con với yêu cầu gia đình đó hạn chế việc sinh đẻ.

Nguyên tắc phản ứng xã hội gợi ý việc nhận thức về sự cần thiết thông qua các biện pháp đối với các vấn đề xã hội đã được phát hiện, tác động theo tình hình cụ thể của tình huống xã hội của cá nhân thân chủ, mà không hạn chế trong các biện pháp quy định nhằm vào thân chủ loại trung bình của các dịch vụ xã hội.

Nguyên tắc theo xu hướng phòng ngừa đề ra những nỗ lực nhằm đề phòng sự xuất hiện các vấn đề xã hội và những khó khăn trong đời sống của thân chủ, hoặc đề phòng các vấn đề đã xuất hiện khỏi bị kéo dài. Thực tiễn cho thấy, việc phòng ngừa tai nạn xã hội luôn dễ hơn là bỏ công sức ra để loại trừ những hậu quả phức tạp của chúng. Thí dụ: việc duy trì các mối liên hệ giữa gia đình và nhà trường của các trẻ em đang trong tình trạng không thích nghi- đối với chính bản thân các em và đối với người thân, với xã hội nói chung thuận lợi và thực dụng hơn hẳn so với việc đấu tranh chống các trẻ em lang thang và phạm tội.

Nguyên tắc thân chủ là trung tâm có nghĩa là thừa nhận việc ưu tiên các quyền hạn của thân chủ trong mọi trường hợp, trừ những người chống đối lại quyền hạn và quyền lợi của những người khác. Truyền thống xã hội cực quyền đã buộc chúng ta trong nhiều trường hợp đưa lợi ích quốc gia và xã hội lên hàng đầu. Thí dụ: khi phân tích sự phân tán gia đình trong xã hội đã có ý kiến cho rằng, việc giảm tỷ lệ sinh đẻ ảnh hưởng xấu đến nguồn lao động mà xã hội có được trong các thế hệ tiếp sau, trong đối tượng những người được động viên vào các lực lượng vũ trang mà sau 10 năm sẽ hoàn toàn không đủ cho nhu cầu của nhà nước. Cần nhớ rằng, rõ ràng mọi ưu tiên đó không thể ở hàng đầu đối với người cán bộ xã hội: mục tiêu quan trọng nhất trong hoạt động của họ là bảo đảm khả năng của thân chủ đối với hoạt động xã hội, tạo ra những điều kiện thuận lợi về sức khoẻ và phát triển cá nhân. Những nhu cầu của nhà nước và xã hội được thoả mãn chỉ bằng cách gián tiếp trong kết quả hoạt động của họ.

Trong khuôn khổ của nguyên tắc này có thể xem xét tính chủ quyền và độc lập của thân chủ- người có quyền tiếp nhận hoặc không tiếp nhận sự giúp đỡ của các cán bộ xã hội, người có quyền lựa chọn một hình thức giúp đỡ nào đó hoặc một kịch bản giải quyết những vấn đề sống còn của mình, cần tiếp nhận một thông tin đầy đủ về công việc đối với họ, kể cả có quyền ngăn cách cuộc sống cá nhân của mình với sự can thiệp của người khác ở mức độ không gây thiệt hại cho quyền hạn và quyền lợi của những người khác.

Nguyên tắc dựa vào sức mình nhấn mạnh vai trò chủ thể của thân chủ, vị trí tích cực của họ trong việc giải quyết những vấn đề của bản thân họ. Không thể có một kẻ nào đó lại có thể thay cho chính con người giải quyết các khó khăn trong đời sống của con người, loại trừ được xung đột, cải thiện được quan hệ với những người thân cận. Người cán bộ xã hội cần tham vấn cho thân chủ lựa chọn những chiến lược thoát khỏi những khủng hoảng, giúp đỡ về mặt tâm lý cho họ, kích thích tính tự giúp đỡ bản thân, tạo điều kiện tập hợp những người có các vấn đề giống nhau lại để cùng khắc phục khó khăn. Rõ ràng, trong trường hợp này nói về những thân chủ có đủ năng lực hành vi theo quan điểm người trí lực, tinh thần và thể chất. Những người có khả năng bị hạn chế, các trẻ em, người già không có tiềm năng tự giúp đỡ, đều có quyền tiếp nhận sự giúp đỡ, và trong đó họ không biểu hiện tính tích cực của bản thân.

Nguyên tắc tăng tính tột độ các nguồn lực xã hội xuất phát từ điểm, mỗi hệ thống xã hội đều không tránh khỏi việc dành tối thiểu các phương tiện giúp đỡ về mặt xã hội cho nhân dân mình. Đúng vậy, giá trị hiện thực của những phương tiện này trước hết phụ thuộc vào các khả năng kinh tế -xã hội của nhà nước và vào những khái niệm xã hội “đối với cá nhân điều tối thiểu cần thiết là gì?” Vì thế- các nguồn lực xã hội của Đức, hoặc Thuỵ điển với nền kinh tế bền vững và mức sống cao có truyền thống – đều khác với mức bảo đảm sự giúp đỡ về mặt xã hội ở nước Nga có những khó khăn trong nền kinh tế và những thói quen chịu khổ của nhân dân. Tuy nhiên, tác động của nguyên tắc này được biểu hiện ở mọi nơi: các cán bộ xã hội cần dành nhiều sức lực nhằm lôi cuốn thêm những khả năng giúp đỡ cho thân chủ, ngoài sự bảo đảm tối thiểu bằng cách kêu gọi các cơ quan phi chính phủ, cơ quan tình nguyện, cơ quan từ thiện, các tổ chức tự giúp đỡ lẫn nhau của thân chủ, sử dụng các biện pháp khác không bị cấm đoán.

Nguyên tắc giữ bí mật có liên quan đến điểm: trong quá trình hoạt động người cán bộ xã hội cần có thông tin về thân chủ, mà thông tin này khi được công bố có thể gây hại cho họ hoặc người thân của họ, làm mất tín nhiệm và bôi nhọ họ. Đó là những thông báo về bệnh tật, về các thói quen xấu, các bệnh tâm thần, các xung đột trong gia đình, về tội lỗi trong quá khứ và hiện nay. Thông tin này chỉ có thể được sử dụng vì mục đích nghề nghiệp, không cần phải công bố, trừ những trường hợp do luật định và có liên quan đến khả năng bạo lực, gây tổn thương cho người khác, trước hết là cho trẻ em.

Nguyên tắc nhẫn nại được hình thành do công tác xã hội được tiến hành với các đối tượng rất khác nhau, trong đó có thể có những người không gây tình cảm với chuyên gia. Những đặc điểm chính trị, tôn giáo và dân tộc của các cá nhân cần được sự giúp đỡ, hành vi của họ và chính bề ngoài của họ có thể khôgn quen đối với những người làm công tác xã hội. Những yếu tố nhất định của tính hải ngoại (xenophobia), nghĩa là không ác cảm và không sợ hãi trước những biểu hiện của các truyền thống ngoại lai đang phổ biến ở nước Nga. Các cán bộ xã hội không thoát khỏi ảo tưởng coi quan điểm của mình, hành vi của mình, khái niệm về cái tốt cái xấu đều là đáng tin cậy và là chuẩn mực. Trong khi đó sự đa dạng của các kiểu người, các truyền thống văn hoá -dân tộc, các tập quán đạo đức là sự đảm bảo khả năng sống để phát triển toàn bộ nhân loại. Không ai được phê phán hoạt động của người khác cho đến khi hoạt động đó chưa nguy hiểm và gây tổn thất cho người xung quanh. Người cán bộ xã hội không thể sàng lọc thân chủ thành “ loại tốt” và “loại xấu”, “tiện lợi” hoặc “không tiện lợi”. Người nào cần sự giúp đỡ thì phải nhận được sự giúp đỡ. Tính nhẫn nại nghề nghiệp của người chuyên gia về công tác xã hội có ý nghĩa là thừa nhận các quy luật đa dạng của thân chủ, và khoan dung đối với sự biểu hiện của tính đa dạng đó.

Sự hiểu biết về thực tiễn xã hội xung quanh ta là một phương tiện quan trọng nhất gây tác động thực tế tới thực tiễn đó. Những kết quả thu được từ các quy luật và nguyên tắc, được ghi nhận trong các phương pháp, các thuật toán công nghệ và các phương thức- là những thành tố đáng kể của hệ thống yếu tố lý luận khoa học. Chúng cho ta chìa khoá để giải quyết các tình huống của vấn đề và các nhiệm vụ trên thực tế. Hệ thống các phạm trù, quy luật và nguyên tắc của công tác xã hội kết hợp bên trong tính phi mâu thuẫn lôgic, tính xác minh và xu hướng thực tiễn.

(Đây là một phần của chương III trong cuốn sách “Công tác xã hội” bằng tiếng Nga do nhà xuất bản Matxcova phát hành năm 1999. Mạng Thông tin Công tác xã hội sưu tầm và xin trân trọng giới thiệu)