Thuyết hệ thống tâm lý gia đình

Thuyết hệ thống tâm lý gia đình do Murray Bowen đề xướng từ thập niên 1950. Sau đây là những ý chính:

1. Đa thế hệ

Cá tính của con người và cách ứng xử của họ trong gia đình chịu ảnh hưởng từ nhiều thế hệ. Thí dụ những cá tính phục tùng, trấn áp, hay gây sự, lạnh lùng… có thể trở nên cố định hơn, hoặc đậm nét hơn qua các thế hệ (cha nào con nấy). Mặt khác, Bowen còn chỉ ra rằng các mối quan hệ với đại gia đình có thể cũng quan trọng cho sự phát triển cá tính của con người như các mối quan hệ với gia đình hạt nhân/nuclear family.

2. Sự tách rời của cá nhân

Đây là sự tách rời cả về vật chất lẫn tâm lý. Qua quá trình trưởng thành, cá nhân lành mạnh sẽ dần dần tách rời khỏi gia đình, ở riêng, có suy nghĩ, cảm xúc, và cuộc sống riêng. Sự phát triển lành mạnh này không làm hại đến mối quan hệ tốt đẹp với gia đình gốc.

3. Mối quan hệ ba chiều

Quan hệ gần gũi giữa hai người trong gia đình có thể trở nên căng thẳng (hai người, dù thương yêu nhau đến nấy, cũng không tránh khỏi những lúc mâu thuẫn, xung đột) vì vậy cần người thứ ba để được ổn định. Người thứ ba (có thể là nhiều người thứ ba khác nhau tùy theo nhu cầu của hai người kia) giữ vai trò trung gian hoà giải, cố vấn tâm lý, hay an ủi (nghe than thở). Thí dụ khi người mẹ có chuyện buồn phiền với người cha thì than thở với bà ngoại.

Quan hệ ba chiều là lành mạnh, tuy nhiên, trong một số trường hợp, nó có thể có ảnh hưởng tai hại đến sự tách rời (trưởng thành lên) của cá nhân. Thí dụ: người mẹ nạn nhân của bạo hành bởi người cha, luôn luôn dựa vào đứa con trai để tìm nguồn an ủi và chỗ nương tựa tinh thần. Tình trạng này sẽ biến đứa con thành người bảo vệ mẹ và hoà giải bố mẹ. Vai trò kéo dài này sẽ ảnh hưởng đến sự trưởng thành tự nhiên của đứa con nghĩa là tách rời khỏi suy nghĩ, cảm xúc, vấn đề, cuộc sống thường ngày của gia đình gốc và xây dựng suy nghĩ, cảm xúc, vấn đề, cuộc sống thường ngày của riêng mình.

4. Bồn Chồn Lo Lắng/Anxiety Trong Hệ Thống Tâm Lý Gia Đình

Bồn chồn lo lắng là một cảm xúc khó chịu nhưng lành mạnh có công dụng như một tín hiệu báo trước các mối đe doạ hay hiểm nguy (Marks, 1987). Triệu chứng của bồn chồn khó chịu là cảm giác căng thẳng và sự hoạt động vượt mức bình thường của hệ thống thần kinh trung ương. Tình huống gây ra cảm giác bồn chồn khó chịu có thể là các cơ hội phát triển (thí dụ sinh viên sắp đến kỳ thi ra trường, cô gái sắp đến ngày lên xe hoa…) hoặc là các mối đe doạ. Cảm giác này chỉ trở thành vấn nạn khi nó cản trở khả năng giải quyết sự việc của cá nhân. Có bốn loại gia đình thường xảy ra bồn chồn khó chịu:

1) Gia đình vợ chồng không hoà thuận: mỗi người trút cảm giác bồn chồn khó chịu của mình lên người kia và tìm cách điều động, kiểm soát người đó.

2) Gia đình một người trong hai vợ chồng có vấn đề tâm lý: người còn lại cố gắng thích ứng để duy trì hạnh phúc, và vì vậy có thể có cảm giác bồn chồn khó chịu.

3) Gia đình có một hay nhiều đứa con có vấn đề tâm lý: cha mẹ sẽ hướng cảm giác bồn chồn khó chịu của mình vào đứa trẻ, làm cho nó có những phản ứng đối phó tiêu cực.

4) Gia đình có những thành viên gắn bó với nhau một cách bất bình thường về tâm lý, làm cản trở quá trình tách rời khỏi gia đình một cách lành mạnh và cần thiết của cá nhân. Mối quan hệ gắn bó quá đáng này, mà Erikson gọi là “vướng mắc”/enmeshed, tạo ra căng thẳng, và để giảm căng thẳng những người liên quan sẽ có thể cố gắng tránh mặt nhau. Thí dụ trong nhiều gia đình Á châu cha mẹ thường tự hào họ hy sinh tất cả cho con cái, vui cái vui của con, buồn cái buồn của con, coi sự thành công hay thất bại của con cái là thành công hay thất bại của mình. Sự nhập chung/fusion này không lành mạnh, nó làm cản trở sự tách rời tự nhiên của đứa con, có thể tạo ra sự căng thẳng cho mọi người liên quan và đứa con có thể sẽ tìm cách tránh xa bố mẹ.

Trong bốn loại gia đình trên, bầu không khí căng thẳng ảnh hưởng đến tất cả các thành viên và có thể truyền qua các thế hệ. Trong các gia đình bất hạnh này, những thành viên kém khả năng tách rời sẽ có triệu chứng bồn chồn khó chịu cao, sẽ có khuynh hướng tìm đến bạn bè, hay chồng, vợ cũng có triệu chứng bồn chồn khó chịu như mình, và thế là sự bồn chồn khó chịu được truyền sang và gia tăng qua các thế hệ.

5. Cha mẹ đổ lỗi cho con cái

Đây là một trong những hình thức “tự vệ tâm lý”/defense mechanism. Một trong hai vợ chồng có cảm xúc giận dữ với người kia nhưng lại đổ cảm xúc đó cho con cái vì như vậy an toàn hơn. Thí dụ người vợ giận chồng đi làm về trễ nhưng nói với người chồng “các con phải ăn cơm một mình chúng nó buồn”. Phương pháp tự vệ tâm lý này là cách truyền cảm xúc bồn chồn lo lắng qua các thế hệ. Những đứa con thường xuyên lâu dài bị cha mẹ đổ cho những cảm xúc, đặc tính tiêu cực sẽ có thể tin là chúng thực sự có những cảm xúc, những cá tính đó và có cách cư xử thích ứng. Trong thí dụ trên, có thể sự kiện bố đi làm về trễ không ảnh hưởng nhiều đến vui buồn của đứa trẻ (có khi các con còn vui khi bố vắng nhà nếu bố khó tính, hay la rầy), nhưng do ảnh hưởng của mẹ, đứa trẻ có thể dần dần sẽ có cảm xúc buồn. Một thí dụ khác: nếu đứa trẻ thường xuyên bị bố mẹ mắng là ngu dốt, đứa trẻ sẽ có khả năng mất dần ý chí phấn đấu học hỏi và trở thành ngu dốt thật sự.

(Trích từ Tập tài liêu: Công tác xã hội-Lý thuyết và thực hành, Trần Đình Tuấn)

Thuyết vai trò

Vai trò là những khuôn mẫu ứng xử khác nhau do xã hội áp đặt cho mỗi chức vị của con người trong xã hội đó. Thí dụ bố phải thương con, mẹ phải hiền, chồng phải biết chăm sóc vợ, vợ phải đảm đang, con cái phải nghe lời bố mẹ, trò phải chăm chỉ, thầy phải nghiêm túc… Có hai loại vai trò khác nhau: vai trò hiện và vai trò ẩn. Vai trò hiện là vai trò bên ngoài mọi người đều có thể thấy được. Vai trò ẩn là vai trò không biểu lộ ra bên ngoài mà có khi chính người đóng vai trò đó cũng không biết, thí dụ trong những gia đình không hạnh phúc, bố mẹ thường bất hoà nhiều khi đứa con nhỏ được huấn luyện để đóng vai người trung gian hoà giải mà chính nó và cha mẹ không biết. Vì một người có thể có nhiều vai trò khác nhau, những khuôn mẫu ứng xử do xã hội áp đặt có thể mâu thuẫn với nhau, tạo ra khó khăn. Thí dụ anh em phải đoàn kết thương yêu lẫn nhau nhưng người dân phải giúp xã hội ngăn chặn và trừng phạt tội ác. Câu chuyện về anh em nhà toán học giết người hàng loạt Unabomber Ted Kaczynski và nhân viên CTXH David Kaczynski là một trong muôn vàn minh hoạ về mâu thuẫn này: trong gần 20 năm, từ 1978 đến 1996 Ted Kaczynski làm kinh hoảng giới khoa học và lãnh đạo kỹ nghệ hàng không của nước Mỹ bằng những bom thư chế tạo tinh vi. Cơ quan an ninh Mỹ tổ chức cuộc săn tìm lớn nhất trong lịch sử nhưng không lần ra được hung thủ. Sau khi Ted Kaczynski công bố bản tuyên ngôn “Xã Hội Công Nghiệp và Tương lai Của Nó”/Industrial Society and It’s Future trên hai tờ báo uy tín vào bậc nhất của nước Mỹ là New York Times và Washington Post, David Kaczynski nhận ra văn phong của anh mình, sau một thời gian trăn trở, liên lạc với FBI, và kết thúc được sự nghiệp khủng bố của Ted Kaczynski.

Ứng dụng

Vì chỉ là các vai trò, người ta có thể thay đổi không tiếp tục đóng một vai nào đó không lành mạnh, hoặc tập đóng một vai mới tốt đẹp hơn cho cuộc sống. Thí dụ một người người vợ đau khổ vì bị chồng ngược đãi, con cái xem thường, nhà chồng khinh rẻ… có thể từ chối không đóng vai trò của cái thảm chùi chân để ai cũng chà đạp lên được. Vai trò của nhân viên CTXH ở đây là giúp khách hàng thấy được những vai trò khác nhau họ có thể đóng tùy theo hoàn cảnh cá nhân và tài nguyên có thể huy động được. Thí dụ: Marlyn N. là một phụ nữ Phi luật tân lấy chồng Việt ở San Jose, California. Anh H., chồng Marlyn là một người thông minh lanh lợi, thích ăn xài rộng rãi, nhưng không thích làm việc, anh sống chủ yếu nhờ vào tiền lương khiêm tốn của vợ. Trong 9 năm sống chung, 4 năm sau có thêm bố mẹ chồng ở Việt Nam qua đoàn tụ, Marlyn là người đi làm nuôi cả gia đình, gồm chồng, bố mẹ chồng và hai con trai còn nhỏ tuổi. Bố mẹ anh H. vì khai ít hơn tuổi thật 10 năm lúc làm giấy tờ đoàn tụ ở Việt Nam nên không được hưởng trợ cấp cho người già trên 65 tuổi. Ông bà vay được mỗi tháng khoảng 500 mỹ kim của quỹ trợ giúp người nghèo Hạt Santa Clara (quỹ General Assistance), và kiếm thêm được một số tiền hàng tháng bằng nghề lượm lon thiếc và vỏ chai. Mặc dù có lợi tức riêng, ông bà không hề đóng góp vào ngân sách gia đình mà chỉ để dành tiền để gửi về Việt Nam giúp các con cháu. Ông bà rất ghét Marlyn, ông thường gọi Marlyn bằng “con quỷ”, và ông bà đều tiếc vì con trai ông bà có thể về Việt Nam “lấy ai cũng được”. Đầu năm 2007, Marlyn dẫn hai con bỏ đi. Ông bà tự dưng mất hai đứa cháu nội, thỉnh thoảng hai cháu được mẹ chở về thăm thì ông bà mừng rỡ, săn đón con dâu, “giá nó trở về thì quý hóa quá”. Nhưng Marlyn không trở về, chị đã gặp một người khác làm cùng cơ quan và đã quyết định làm lại cuộc đời với người đàn ông đó.

(Trích từ Tập tài liêu: Công tác xã hội-Lý thuyết và thực hành, Trần Đình Tuấn)

Thuyết phân tâm: Các mối quan hệ biểu tượng

Trong khi tâm lý học về cái Tôi chú trọng sự hình thành của tâm lý con người vào những động lực, những khát vọng tự nhiên chìm sâu trong tiềm thức, và ảnh hưởng của việc phấn đấu với những mâu thuẫn trong quá trình trưởng thành, thuyết Các Mối Quan Hệ Biểu Tượng chú trọng vào chất lượng mối quan hệ của cá nhân với bản thân và mọi người, tức là khả năng của con người thiết lập được mối quan hệ tốt đẹp, vui vẻ, hạnh phúc và hữu ích với những người chung quanh và với bản thân, từ đó có được cảm xúc an lạc trong mọi môi trường, mọi hoàn cảnh, dù một mình hay với người khác.

1. Những khái niệm chính

Quan hệ biểu tượng

Thái độ, suy nghĩ của một cá nhân về người khác và về mình. Thái độ và suy nghĩ này là kết quả của mối quan hệ tốt hay xấu với người chăm sóc khi cá nhân còn là một đứa bé. Từ ngữ biểu tượng/object có thể chỉ một người thật hoặc phiên bản về người thật đó trong tâm trí của cá nhân, phiên bản đó có thể trung thực, phản ánh toàn bộ người thật, gọi là biểu tượng toàn phần/ whole object; hoặc không trung thực, chỉ phản ánh một số cá tính của người thực, gọi là biểu tượng bán phần/part object. Biểu tượng tự thân là biểu tượng về chính bản thân của cá nhân. Biểu tượng tự thân trung thực/true self bao gồm tất cả cá tính tốt cũng như xấu có thật của bản thân. Biểu tượng tự thân giả tạo/false self chỉ bao gồm một số cá tính của bản thân. Khả năng nhập nội/ internalization được biểu tượng toàn phần hay trung thực là chỉ dấu của sự trưởng thành về tâm lý, khi còn non nớt, cá nhân chỉ có thể nhập nội được những cá tính nào của biểu tượng làm cho cá nhân có cảm giác an toàn. Thí dụ chỉ duy trì những cá tính cao đẹp của Mẹ, vì không thể chấp nhận những tính xấu có thật của Mẹ. Thí dụ khác: chỉ duy trì những ưu điểm của bản thân (kiêu căng), hoặc những khuyết điểm của bản thân (tự ti).

Gắn bó/attachment:

Là khuynh hướng tự nhiên của con người gắn bó với người khác để được thỏa mãn những nhu cầu của mình và phát triển lên. Đây là khái niệm quan trọng nhất trong thuyết phân tâm về các mối quan hệ biểu tượng, phân biệt với tâm lý học về cái tôi vốn chú ý nhiều hơn đến sự thúc đẩy của dục vọng bẩm sinh trong quá trình trưởng thành về tâm lý của con người.

Nhập nội/introjection/internalization:

Là một trong những cơ chế tự vệ trong tâm lý học về cái Tôi, theo đó cá nhân tiếp nhận những cá tính của người khác để được có cảm giác an toàn. Thí dụ đứa trẻ sợ ông bố nóng nảy dữ tợn hay đánh đập, nó có thể cũng trở nên nóng nảy, dữ tợn với người khác để giống bố và được có cảm giác gần gũi, an toàn bên cạnh bố. Nhập nội cũng có nghĩa cá nhân có khả năng mang hình ảnh của người thương yêu chăm sóc và có cảm giác gần gũi mặc dù người đó không ở bên cạnh.

Đối tượng nhập nội/representation:

Hình ảnh của người thân mà cá nhân nhập nội. Đối tượng nhập nội gắn liền với những cảm xúc tích cực hoặc tiêu cực mạnh mẽ và ảnh hưởng đến khả năng liên hệ với những người chung quanh. Thí dụ một người có đối tượng nhập nội là một nhân vật ở vai trò cha chú, có những cảm xúc tích cực với đối tượng đó, sẽ có cảm xúc tức giận và bị xua đuổi khi không được những nhân vật cha chú tiếp nhận một cách tích cực.

Biểu tượng ổn định/object constancy:

Trạng thái tâm lý trưởng thành, duy trì được biểu tượng toàn phần, trung thực (cả tốt lẫn xấu) của người thân dù ở gần hay ở xa người thân đó. Biểu tượng ổn định làm cho cá nhân có thể sống an lành dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, một mình nhưng không cô đơn, giữa đám đông xa lạ nhưng không lạc lõng. Lúc nào cũng có được cảm giác có thể gần gũi người thân khi cần.

Trong các mối quan hệ biểu tượng, quan hệ với Mẹ, khi cá nhân còn là đứa bé, là quan trọng nhất (David Winnicott, 1975): đứa trẻ sơ sinh không phân biệt được nó và thế giới chung quanh, đối với nó, thế giới chung quanh chỉ hiện hữu để thỏa mãn những nhu cầu của nó. Nếu đứa bé có được một hoàn cảnh thương yêu, chăm sóc/facilitative environment và một người Mẹ đủ tốt, tạo ra được môi trường tự do an toàn/holding environment trong đó đứa bé được thả lỏng để khám phá thế giới và học hỏi từ những lỗi lầm của nó, nó sẽ xây dựng được một mối quan hệ biểu tượng trung thực với Mẹ, từ đó trưởng thành, bớt dần lệ thuộc vào Mẹ, và xây dựng được những mối quan hệ riêng của nó một cách tốt đẹp. Nhận xét đáng chú ý ở đây là Winnicott chỉ đề cập một người Mẹ “đủ tốt”/a good enough mother tức là người Mẹ chỉ lo chăm sóc đứa con trong một thời gian hạn định, và đến một giai đoạn nào đó, khi đứa con đã đủ lông đủ cánh, sẽ dành thì giờ chăm sóc chính mình và những mối quan hệ của bản thân. Khái niệm người Mẹ “đủ tốt” này giống với vai trò người Mẹ tốt trong thuyết Cấu Trúc Gia Đình (Salvador Minuchin và các tác giả khác), không quá lo lắng chăm sóc con cái đến độ lấy cuộc đời của con làm cuộc đời của mình, lấy hạnh phúc của con, tương lai của con làm hạnh phúc và tương lai của mình, làm cho đứa con, và cả người mẹ, đều bị nghẹt thở trong một mối quan hệ chằng chịt/enmeshed. Đây là một trong những mâu thuẫn về giá trị giữa văn hóa Khổng Mạnh và văn hóa phương Tây mà nhân viên CTXH cần cảnh giác để có thể làm việc hiệu quả trong bối cảnh gia đình Việt Nam.

2. Ứng dụng của tâm lý học về các mối quan hệ biểu tượng

Thất bại trong việc tạo lập được những biểu tượng trung thực và toàn diện đối với những người thân yêu trong giai đoạn đầu đời là nguyên nhân của thất bại, đau khổ trong các mối quan hệ ở tuổi trưởng thành. Để giúp khách hàng vượt qua được vấn nạn này, nhân viên CTXH dùng mối quan hệ chuyên nghiệp của mình với khách hàng làm phương tiện huấn luyện để khách hàng hiểu được nguyên nhân khổ đau của họ. Trong quá trình giúp đỡ, nhân viên CTXH hướng dẫn khách hàng xây dựng được một biểu tượng trung thực về bản thân nhân viên CTXH (nghĩa là có lúc khen ngợi một cách trung thực những ưu điểm, có lúc thẳng thắn vạch ra những khuyết điểm của khách hàng), từ đó giúp khách hàng chỉnh sửa được các mối quan hệ biểu tượng đầu đời và tránh lập lại lỗi lầm cũ trong các mối quan hệ hiện tại hoặc tương lai.

Thuyết phân tâm: Tâm lý học về cái tôi

Do Freud đề xuất, thuyết phân tâm mô tả cấu trúc tâm lý của con người bao gồm “ông Ác”/Id, “ông Thiện”/Super Ego, và “ông Nguyễn văn X”/Ego, tức là cái Tôi biểu hiện ra bên ngoài mà mọi người đều thấy. “Ông Ác” là phần vị kỷ, ấu trĩ, ham muốn thỏa mãn những nhu cầu vật chất của con người. “Ông Thiện” là phần lý tưởng, được hình thành qua những tiêu chuẩn về giá trị do xã hội giáo dục và cha mẹ uốn nắn. “Ông Nguyễn Văn X.” là kết quả cuộc đấu tranh không ngừng giữa hai ông Thiện và Ác. Khi  “ông Thiện” thắng thì “ông Nguyễn Văn X.” là người tốt, khi “ông Ác” thắng thì “ông Nguyễn Văn X.” là người xấu. Có nhiều động lực thúc đẩy sự tranh đấu không ngừng giữa ba thành phần kể trên, trong đó mạnh nhất là những khát vọng về tình dục bị dồn nén vào vô thức.

Trong ba thành phần cấu tạo nên bản chất con người, thành phần “Nguyễn Văn X.” tức cái Tôi là thành phần quan trọng nhất. Cái Tôi không ngừng đối phó với những lực nội tại cũng như ngoại lai và trưởng thành lên theo thời gian. Tâm lý học về cái Tôi ra đời do đóng góp của nhiều tâm lý gia, trong đó có những tên tuổi nổi bật như Sigmund Freud, Anna Freud, Robert White (1960), và Erik Erikson (1963, 1982).

White cho rằng cái Tôi bắt đầu tìm cách làm chủ môi trường rất sớm. Cái Tôi của đứa bé nhanh chóng học được cách tránh sự thất bại hay trừng phạt bằng cách nhận ra những dấu hiệu báo trước của hai kinh nghiệm tiêu cực này. Khả năng tránh thất bại và trừng phạt ở tuổi ấu thơ tạo nên năng lực của đứa bé, và năng lực này là động cơ quan trọng giúp con người phát triển trong đời sống.

Erikson chỉ ra ảnh hưởng quan trọng của yếu tố văn hóa xã hội trong sự hình thành của cái Tôi. Theo Erickson, sự trưởng thành của con người chia ra 8 giai đoạn; mỗi giai đoạn có một giá trị riêng, và khi vượt qua từng giai đoạn, con người phải trải qua những khủng hoảng và mâu thuẫn do hai lực: lực đẩy do điều kiện sinh lý của bản thân và lực kéo của môi trường văn hóa xã hội của giai đoạn đó, và tùy theo mức độ thành công hay thất bại, sẽ đạt được nhiều hay ít giá trị của giai đoạn đó. Mức độ giá trị đạt được này có ảnh hưởng rất lớn đến cái Tôi của con người trưởng thành. Tám giai đoạn đó là:

1. Sơ sinh/infant: gía trị: HY VỌNG. Mâu thuẫn: Tin tưởng/Trust và Nghi Ngờ/Mistrust. Trong giai đoạn này mức độ đứa bé sơ sinh tin cậy người chăm sóc nó nhiều hay ít sẽ tạo cho nó niềm tin hay nghi ngờ cuộc đời.

2. Tập đi/toddler: giá trị: Ý CHÍ. Mâu thuẫn: Tự Chủ/Autonomy và Xấu Hổ, Rụt rè/Shame, Doubt. Đứa bé bắt đầu thám hiểm thế giới chung quanh. Nó sẽ không phát triển một cách lành mạnh nếu được bố mẹ bảo vệ quá kỹ hay bị bỏ bê hoàn toàn.

3. Mẫu giáo/kindergarten: giá trị: CÓ CHỦ ĐÍCH. Mâu thuẫn: Chủ Động/Initiative và Hối Hận/Guilt. Đứa trẻ có được khuyến khích tự làm lấy những việc nó thích làm mặc dù chưa hoàn toàn thành thạo hay không?  Hay mỗi khi nó tự ý làm lấy việc gì đó thì bị la mắng vì nó còn vụng về?

4. Từ 6 tuổi đến trước dậy thì: giá trị: NĂNG LỰC. Mâu thuẫn: Năng Nổ/Industry và Mặc Cảm Tự Ty/Inferiority. Đứa trẻ tự so sánh nó với các bạn trong lớp. Trong giai đoạn này thày cô giáo giữ một vai trò quan trọng trong việc giúp đứa trẻ không bị mặc cảm tự ty.

5. Thiếu niên: giá trị: TRUNG THỰC. Mâu thuẫn: Biết Mình/Indentity và Mơ Hồ về Căn Tính Của Mình/Indentity Diffusion. Đứa trẻ mơ hồ về vai trò của nó, không biết sẽ đi về đâu. Nếu bố mẹ để cho đứa trẻ tự do tìm hiểu thế giới chung quanh, nó sẽ phát triển đượccá tính của nó và biết nó là ai. Trái lại, nếu bố mẹ ép buộc đứa trẻ theo khuôn mẫu do mình đặt ra, nó sẽ không có được ưu điểm này.

6. Thanh niên: giá trị: YÊU THƯƠNG (người yêu, công việc, gia đình). Mâu thuẫn: Gần Gũi/Intimacy và Cô Độc/Isolation. Trong giai đoạn này, người thanh niên phải đối diện những vấn đề lớn như tìm bạn khác phái, công ăn việc làm, dừng chân lập nghiệp ở một nơi hay tiếp tục thăm dò các khía cạnh của cuộc đời…

7. Trung niên: giá trị: CHĂM SÓC. Mâu thuẫn: Năng Động/Generativity và Trì trệ/Self-Absorption. Trong giai đoạn này con người trải qua khủng hoảng giữa cuộc đời/ mid-life crisis và hồ nghi về những giá trị căn bản theo đuổi bấy lâu.

8. Lão niên: giá trị: TRÍ TUỆ. Mâu thuẫn: Chính Trực/Integrity và Tuyệt Vọng/Despair. Con người đến gần cái chết, có người sợ hãi, cay đắng, lo buồn, có người hài lòng với cuộc sống đã qua và bình an đón nhận số phận chung của mọi sinh vật trên đời.

1. Cơ chế tự vệ/defense mechanism

Đây là một khám phá quan trọng của tâm lý học về cái tôi. Trong cái tôi luôn luôn có những mâu thuẫn và đấu tranh nội bộ. Những đấu tranh này diễn ra trong vô thức, do cơ chế tự vệ điều động. Cơ chế tự vệ là phản ứng có tính cách tự động ngoài ý thức của con người để giúp giảm thiểu những mối đe doạ hay đẩy chúng ra khỏi ý thức và nhờ vậy tránh được những cảm xúc tiêu cực như bồn chồn, lo âu, hồi hộp, sợ sệt hay buồn chán… Dưới đây là một số cơ chế tự vệ thông thường:

Chối bỏ/Denial: từ chối chấp nhận một thực trạng vì nó tai hại cho sự an toàn của cái Tôi. Thí dụ: trong chiến tranh nhiều người vợ bác bỏ mọi bằng chứng cụ thể, xác đáng, và tin rằng người chồng chỉ mất tích chứ không chết. Cơ chế tự vệ này giúp người vợ tránh được cơn sốc ban đầu, và cung cấp thời gian cần thiết để người vợ từ tiếp nhận thực tế về sự ra đi vĩnh viễn của người chồng.

Giận cá chém thớt/Displacement: chuyển cảm xúc tiêu cực từ người này sang người khác để được an toàn. Thí dụ: người chồng tức giận vợ nhưng lại kiếm chuyện la rầy con cái vì la rầy con cái thì an toàn hơn la rầy vợ.

Chuộc tội/Undoing: đền bù một hành vi hoặc ham muốn xấu bằng một hành động tốt. Thí dụ buổi sáng ở sở có ý tưởng ham muốn bậy bạ với cô nữ đồng nghiệp, buổi chiều về nhà dịu dàng tử tế với vợ và phụ vợ nấu cơm.

Giả bệnh/Somatization: biến đổi những khó chịu hay mối đe doạ thành bệnh tật. Thí dụ: người chồng nhức đầu đau bụng quạu cọ quanh năm (có cảm giác đau đớn thật sự), không bác sĩ nào chữa khỏi, nhưng trong suốt thời gian một tháng bà vợ về quê thăm cha mẹ thì tự nhiên bao nhiêu bệnh tật ông ấy đều tiêu tan.

Đóng kịch đạo đức/Sublimation: chuyển một ham muốn tự nhiên mạnh mẽ không được xã hội tán đồng thành hành vi phù hợp với giá trị do xã hội đặt ra. Thí dụ: nếu những tin đồn và cáo buộc của cảnh sát là đúng, nghị sĩ Larry Craig của thượng viện Mỹ (đảng Cộng Hoà, bang Ohio) là một thí dụ về đóng kịch đạo đức: ông là một thượng nghị sĩ rất thế lực, mặc dù có nhiều tin đồn ông là người đồng tính, ông nhiều lần khẳng định ngược lại và nổi tiếng là một trong những nhà lập pháp kiên quyết chống hôn nhân giữa những người đồng tính. Tháng 6 năm 2007 ông bị bắt giữ ở nhà vệ sinh phi trường quốc tế Minneapolis-St. Paul vì hành vi thăm dò đồng tính luyến ái với một nam cảnh sát chìm.

Nhập nội/Introjection: Chấp nhận điều tiêu cực người khác gán cho mình mặc dù mình không có điều tiêu cực đó để tránh va chạm. Thí dụ: người bố luôn luôn mắng chửi đứa con là “đồ ngu”, đứa con chấp nhận điều đó (vì không thể cãi lại bố) và càng ngày càng học kém vì mất tự tin và ý chí học hỏi.

Nhập ngoại/Projection: Đem những điều tiêu cực của mình (mà cái tôi của mình cố ý bỏ qua không biết đến) gán cho người khác. Thí dụ: ông A thường hay chê bai nhiều người là keo kiệt bủn xỉn, nhưng thực sự bản thân ông cố tình không biết ông mới chính là người không bao giờ giúp đỡ ai dù chỉ một đồng.

2. Phê bình thuyết phân tâm và tâm lý học về cái tôi

Trong khoảng 40 năm, từ những năm 20 đến cuối thập niên 60, thuyết phân tâm và tâm lý học về cái tôi đã làm say mê nhân loại, người ta coi chúng như những công cụ nhiệm màu để giúp con người hiểu được và thoát khỏi những khổ đau, bất hạnh về tâm lý. Trong thời gian này CTXH cũng bị cuốn hút vào cơn lốc phân tâm, phát triển mạnh theo hướng CTXH tâm thần cá nhân/ psychiatric case work và xa rời CTXH cộng đồng.

Qua thời gian, người ta phát hiện những khuyết điểm sau của thuyết phân tâm và tâm lý học về cái Tôi: chú trọng vào quan điểm bệnh lý cá nhân, không để ý đến yếu tố môi trường; quan hệ giữa nhân viên CTXH và khách hàng là quan hệ giữa bệnh nhân (hoàn toàn thụ động) và người chữa bệnh (hoàn toàn chủ động); chỉ thích hợp với người giàu và học thức, có khả năng diễn đạt tư tưởng một cách lưu loát, người nghèo và ít học, ít nói, không tận dụng được phương pháp này. Người ta nói đùa là chỉ những người YAVIS (Young-trẻ, Attractive-đẹp, Verbal-nói năng lưu loát, Intelligent-thông minh, Successful-thành công) mới là khách hàng lý tưởng của phương pháp phân tâm; nhưng đã trẻ, đẹp, hoạt bát, thông minh, và thành công thì tại sao lại cần phải đi gặp nhà phân tâm làm cái gì??  Vì những khuyết điểm đó, cơn lốc phân tâm suy yếu dần và đến thập niên 70 thì hoàn toàn tan loãng vào những phương pháp tâm lý trị liệu mới.

(Trích từ Tập tài liêu: Công tác xã hội-Lý thuyết và thực hành, Trần Đình Tuấn)

Tổng quan chính sách của đảng, nhà nước về người cao tuổi

I. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về người cao tuổi

Trong lời hiệu triệu đoàn kết tất cả các bậc phụ lão, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Trách nhiệm của các vị phụ lão chúng ta đối với nhiệm vụ đất nước thật là trọng đại. Đất nước hưng thịnh do phụ lão gây dựng. Đất nước tồn tại do phụ lão giúp sức. Nước bị mất, phụ lão cứu, nước suy sụp do phụ lão phù trì. Nước nhà hưng, suy, tồn, vong phụ lão đều gánh trách nhiệm rất nặng nề …Nước nhà lo, các cụ cùng phải lo. Nước nhà vui các cụ đều cùng được vui ”.

Người lại nói: “Chúng ta là bậc phụ lão, cần phải tinh thành đoàn kết trước để làm gương cho con cháu ta. Vậy tôi mong các vị phụ lão ở Hà thành ra xung phong tổ chức “Phụ lão cứu quốc Hội” để cho các phụ lão cả nước bắt chước và để hun sức gìn giữ nền độc lập nước nhà”.

Ngay sau cách mạng tháng Tám, Bác Hồ đã rất quan tâm đến sức khoẻ nhân dân. Trong “Thư­ gửi các vị phụ lão” ngày 21/9/1945, Bác đã chống quan niệm cổ x­ưa “lão lai tài tận, lão giả an chi” và trong bài “ Sức khoẻ và thể dục, ngày 27/3/1946, Bác viết: “…Việc gì cũng cần có sức khoẻ mới làm thành công… Vì vậy nên tập thể dục, bồi bổ sức khoẻ là bổn phận của mọi ngư­ời dân yêu nư­ớc. Việc đó không tốn kém, khó khăn gì. Gái trai già trẻ ai cũng nên làm và ai cũng làm đ­ược… Dân cư­ờng thì nư­ớc thịnh…”.

Trong bài “Tuổi tác càng cao lòng yêu nước càng lớn” Bác Hồ đã viết: Truyền thống “Điện Diên Hồng” là truyền thống yêu nước vẻ vang chung của dân ta và riêng của các cụ phụ lão ta.

Mỗi khi có việc quan hệ lớn đến nước nhà nòi giống, thì các cụ không quản tuổi cao sức yếu, luôn hăng hái đứng ra gánh vác phần mình và đôn đốc con em làm tròn nhiệm vụ.

Trong thời kì kháng chiến, chúng ta có những đội du kích “bạch đầu quân”. Sự chiến đấu anh dũng và hy sinh oanh liệt của “những đội viên tóc bạc răng long” đã làm cho lũ giặc kinh hồn và khuyến khích chiến sĩ ta càng thêm dũng cảm. Các cụ đã góp phần không nhỏ vào cuộc thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta.

Ngày nay, trong công cuộc xây dung chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc làm nền tảng vững mạnh cho sự nghiệp đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, các cụ cũng tham gia rất hăng hái.

Càng già, càng dẻo lại càng dai,

Tinh thần gương mẫu chẳng nhường ai.

Đôn đốc con em làm nhiệm vụ

Vuốt râu mừng xã hội tương lai[1].

Như vậy, ngay những ngày đầu thành lập nước, cách mạng còn đang trong trứng nước, thù trong, giặc ngoài đe doạ cũng như trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân và xây dựng chủ nghĩa xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao vị trí, vai trò, tiềm năng của người cao tuổi và đồng thời quan tâm, tập hợp, xây dựng tổ chức của Hội người cao tuổi là “Hội Phụ lão cứu quốc” tiền thân của Hội người cao tuổi ngày nay.

II. Những chủ trương của Đảng

Sau khi Hội người cao tuổi Việt Nam được thành lập (10/5/1995), Ban Bí thư TW đã ban hành Chỉ thị 59/CT-TW “Về chăm sóc người cao tuổi”, quy định: “ Việc chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần của người cao tuổi là trách nhiệm của Đảng, nhà nước và toàn xã hội. Hội người cao tuổi Việt Nam mới được thành lập, cần được nhanh chóng ổn định về tổ chức và mở rộng hoạt động ở cơ sở. Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc, các ban đảng, các đoàn thể nhân dân cần giúp đỡ Hội hoạt động có hiệu quả thiết thực, phối hợp với Hội trong việc vận động gia đình và xã hội chăm sóc, bồi dưỡng, phát huy người cao tuổi phục vụ công cuộc đổi mới. Đảng đoàn Quốc hội, Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các ban của Đảng, các ban cán sự đảng Chính phủ, Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế, Bộ Tư pháp phối hợp với Hội nghiên cứu, soát xét các chính sách luật pháp hiện hành, đề xuất những văn bản pháp quy của nhà nước nhằm bảo vệ, chăm sóc và phát huy người cao tuổi. Nhà nước cần dành ngân sách để giải quyết các vấn đề xã hội, trong đó có vấn đề chăm sóc người cao tuổi. Trước hết cần quan tâm chăm sóc những người cao tuổi có công, cô đơn không nơi nương tựa, tàn tật và bất hạnh, nhanh chóng xoá bỏ tình trạng người già lang thang trên đường phố, ngõ xóm. Đề nghị Chính phủ hỗ trợ Hội người cao tuổi Việt Nam về kinh phí và điều kiện hoạt động”.

Báo cáo chính trị tại Đại hội IX của Đảng đã nêu: “Đối với các lão thành cách mạng, những người có công với nước, các cán bộ nghỉ hưu, những người cao tuổi thực hiện chính sách đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc sức khoẻ, nâng cao đời sống tinh thần và vật chất trong điều kiện mới; đáp ứng nhu cầu thông tin, phát huy khả năng tham gia đời sống chính trị của đất nước và các hoạt động xã hội; nêu gương tốt, giáo dục lí tưởng và truyền thống cách mạng cho thanh niên, thiếu niên…”.

Thông báo số 12-TB/TW ngày 13 tháng 6 năm 2001 đã khẳng định Hội người cao tuổi Việt Nam là tổ chức xã hội của người cao tuổi, có các nhiệm vụ đã được quy định cụ thể tại Pháp lệnh người cao tuổi; Hội có Ban đại diện ở cấp tỉnh và cấp huyện; Cấp tỉnh có từ 2 đến 3, cấp huyện có từ 1 đến 2 cán bộ chuyên trách đồng thời khẳng định: “ Nhà nước tiếp tục trợ cấp kinh phí họat động cho Hội. Các cơ quan có chức năng của Nhà nước tạo thuận lợi, bảo đảm cấp kinh phí kịp thời cho Hội”.

Trong bài phát biểu tại cuộc gặp mặt nhân ngày quốc tế NCT (01.10.2002) do TW Hội người cao tuổi Việt Nam tổ chức tại Hà Nội, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã nói: “…Chưa bao giờ lực lượng người cao tuổi nước ta lại đông đảo như hiện nay. Đảng, Nhà nước và nhân dân ta tự hào về lớp người cao tuổi nước ta. Với uy tín cao, sự mẫu mực về phẩm chất chính trị, đạo đức và lối sống cùng với vốn tri thức, kinh nghiệm, kĩ năng lao động và nghiệp vụ phong phú, đa dạng của mình, người cao tuổi thực sự là một bộ phận hợp thành nguồn lực nội sinh quý giá của cả dân tộc. Chúng ta tôn trọng, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực ấy”…

Báo cáo chính trị tại Đại hội X của Đảng ghi rõ: “Vận động toàn dân tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn đối với lão thành cách mạng, những người có công với nước, người hưởng chính sách xã hội. Chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần của người già, nhất là những người già cô đơn, không nơi nương tựa…”.

Như vậy, từ Chỉ thị 59, các văn kiện Đại hội Đảng và Thông báo số 12 của Ban bí thư TW Đảng đều khẳng định: Người cao tuổi là nền tảng của gia đình, là tài sản vô giá, nguồn lực quan trọng cho sự phát triển xã hội, vì thế, Chăm sóc và phát huy tốt vai trò người cao tuổi là thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta và đạo đức người Việt Nam, góp phần tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

III. Luật pháp và chính sách của nhà nước

3.1. Luật pháp liên quan đến người cao tuổi

Quan điểm trên của Đảng và Bác Hồ đư­ợc thể hiện trong Hiến pháp năm 1946, Điều 14 quy định: “Những công dân già cả hoặc tàn tật không làm đư­ợc việc thì đư­ợc giúp đỡ”. Điều 32 của Hiến pháp 1959 ghi rõ: “Giúp đỡ ngư­ời già, người đau yếu và tàn tật. Mở rộng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm sức khoẻ và cứu trợ xã hội…”. Điều 64 của Hiến pháp 1992 quy định: “…Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con cái. Con cái có trách nhiệm kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ… ”. Và Điều 87 Hiến pháp ghi rõ: “Người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa được nhà nước và xã hội giúp đỡ”.

Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 2 Điều 36  quy định:“Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dư­ỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ ốm đau, già yếu, tàn tật…Và khoản 2 Điều 47 Luật này quy định: “Cháu có bổn phận… chăm sóc, phụng dư­ỡng ông bà nội, ngoại”.

Luật bảo vệ chăm sóc sức khoẻ nhân dân đã dành một chư­ơng riêng: Bảo vệ sức khoẻ người cao tuổi … trong đó, khoản 1 Điều 41 của Luật này quy định:“người cao tuổi … đư­ợc ưu tiên khám bệnh, chữa bệnh, đư­ợc tạo điều kiện thuận lợi để đóng góp cho xã hội phù hợp với sức khoẻ của mình”.

Luật Lao động quy định tại Điều 124: “Ngư­ời sử dụng lao động có trách nhiệm quan tâm chăm sóc sức khoẻ ngư­ời lao động cao tuổi, không được sử dụng ngư­ời lao động cao tuổi làm việc nặng nhọc, nguy hiểm… ảnh hưởng sức khoẻ”.

Điều 151 của Bộ luật hình sự quy định: “Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình” và Điều 152 quy định “Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng”. Bên cạnh đó, luật cũng quy định một số tình tiết giảm nhẹ khi “người phạm tội là người già”.

3.2. Chính sách của nhà nước Việt Nam về người cao tuổi

Năm 1996, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 117/CP “Về chăm sóc người cao tuổi và hỗ trợ hoạt động cho Hội người cao tuổi Việt Nam”. Chỉ thị khẳng định: “Kính lão đắc thọ” là truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta, Đảng và nhà nước ta coi việc quan tâm, chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần của người cao tuổi là đạo lý của dân tộc, là tình cảm và trách nhiệm của toàn đảng, toàn dân. Các cấp chính quyền đã đề ra nhiều chính sách thể hiện sự quan tâm đó.

Để phát huy truyền thống của dân tộc, thực hiện chủ trương chính sách của đảng và hỗ trợ hoạt động của Hội người cao tuổi, Thủ tướng đã chỉ thị:

1. Về chăm sóc người cao tuổi

Uỷ ban nhân dân các cấp chỉ đạo các cơ quan chức năng, đơn vị thuộc quyền thường xuyên quan tâm làm tốt công tác chăm sóc người cao tuổi. Công tác này cần được thể hiện trong các kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội ngắn hạn và dài hạn của địa phương. Trong chỉ tiêu xây dựng gia đình văn hoá, xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư: chỉ đạo các cơ quan văn hoá, thông tin, giáo dục và đào tạo đẩy mạnh công tác tuyên tryền, giáo dục nhân dân, nhất là thế hệ trẻ về ý thức, thái độ và nghĩa vụ chăm sóc, giúp đỡ kính trọng người cao tuổi.

Các cấp chính quyền, các cơ quan quản lý nhà nước trong khi hoạch định các kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội và các chương trình quốc gia, cần chú ý bồi dưỡng và phát huy nguồn lực người cao tuổi. Hàng năm cần dành một tỷ lệ thích đáng ngân sách để giải quyết các vấn đề xã hội, chăm sóc, bồi dưỡng, phát huy vai trò người cao tuổi và hỗ trợ Hội người cao tuổi.

2. Đối với Hội người cao tuổi

Hội có tư cách pháp nhân, hoạt động theo điều lệ phù hợp với Hiến pháp và pháp luật dưới sự lãnh đạo của đảng và sự hỗ trợ của Chính phủ về kinh phí và điều kiện hoạt động.

3. Đối với các Bộ, ngành

* Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội quản lý về mặt nhà nước đối với Hội người cao tuổi có trách nhiệm theo dõi, hướng dẫn Hội hoạt động theo đúng đường lối, chính sách, pháp luật của nhà nước…

* Bộ Tài chính, Uỷ ban nhân dân các địa phương tạo điều kiện giúp đỡ về cơ sở vật chất và hỗ trợ một phần kinh phí hoạt động cho Hội người cao tuổi ở Trung ương, xã, phường và thị trấn.

* Các Bộ, ngành khi soạn thảo các văn bản pháp luật có liên quan đến chính sách đối với người cao tuổi cần tham khảo ý kiến của Hội người cao tuổi Việt Nam trước khi trình Chính phủ và Quốc hội.

* Chỉ thị cũng đã đề cập đến Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và đào tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Ngoại giao, Tổng cục thể dục thể thao, Mặt trận tổ quốc Việt Nam… tạo điều kiện và phối hợp…chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi.

* Pháp lệnh Người cao tuổi của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội được ban hành năm 2000. Pháp lệnh người cao tuổi ra đời là bư­ớc đi thích hợp để chăm sóc người cao tuổi.

Pháp lệnh người cao tuổi đã dành chư­ơng 2: Phụng dư­ỡng, chăm sóc người cao tuổi (14 Điều) tập trung đề cập trách nhiệm của gia đình, Nhà nư­ớc, các tổ chức, cá nhân trong việc phụng dư­ỡng chăm sóc người cao tuổi trong đó chính sách chăm sóc sức khoẻ đư­ợc quan tâm khá toàn diện. Điều này đự­ơc minh chứng ở khoản 2 Điều 10; (khoản 2 Điều 12); (Điều 13); (khoản 1, 2 Điều 14); (Điều 15); (Điều 16).

* Nghị định số 30/CP của Chính phủ ban hành năm 2002 “Quy định và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh người cao tuổi”. Điều 9 nêu rõ: người cao tuổi đư­ợc chăm sóc sức khoẻ theo quy định của Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân ngày 11 tháng 8 năm 1989; Người cao tuổi đư­ợc hư­ởng dịch vụ ư­u tiên khi khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế theo Nghị định số 23/ HĐBT của Hội đồng Bộ trư­ởng (nay là Chính phủ) ngày 24 tháng 01 năm 1991 về Điều lệ khám, chữa bệnh và phục hồi chức năng; Người cao tuổi từ 100 tuổi trở lên đư­ợc cấp miễn phí thẻ bảo hiểm y tế.

* Căn cứ Nghị định số 30, Bộ Lao động- Thư­ơng binh và Xã hội ban hành Thông tư số 16/TT năm 2002 “hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 30/CP của Chính phủ”.

* Nghị định số120/CP của Chính phủ về việc sửa đổi Điều 9 của Nghị định số 30/CP năm 2002.

* Nghị định của Chính phủ số 121/CP “Về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn” năm 2003 ghi rõ chế độ đối với Chủ tịch Hội người cao tuổi cấp xã.

* Năm 2004, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư­ số 02/ 2004/TT- BYT hư­ớng dẫn thực hiện công tác chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi trong đó quy định: người cao tuổi đư­ợc …chăm sóc sức khoẻ, đư­ợc khám chữa bệnh khi ốm đau, bệnh tật; đư­ợc chăm sóc sức khoẻ ban đầu, đư­ợc ưu tiên khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế; Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm đảm bảo chế độ chăm sóc sức khoẻ cho người cao tuổi tại địa phư­ơng. Ngành y tế chịu trách nhiệm về chuyên môn, kỹ thuật trong chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi… Tổ chức mạng lư­ới tình nguyện viên chăm sóc sức khoẻ cho người cao tuổi tại nhà. Trạm y tế xã, phư­ờng, thị trấn có trách nhiệm quản lý sức khoẻ và thực hiện chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho người cao tuổi tại địa phư­ơng. Trư­ờng hợp người cao tuổi bị tàn tật, cô đơn không nơi nư­ơng tựa bị ốm đau như­ng không đến khám, chữa bệnh tại nơi quy định thì trư­ởng trạm y tế cấp xã cử cán bộ y tế đến khám, chữa bệnh tại nơi ở của người cao tuổi hoặc báo cáo Uỷ ban nhân dân địa phư­ơng tổ chức đư­a ngư­ời bệnh đến cơ sở khám, chữa bệnh…thực hiện việc ưu tiên khám trư­ớc cho ngư­ời bệnh cao tuổi (Sau trư­ờng hợp cấp cứu), phát triển các phư­ơng pháp chữa bệnh không dùng thuốc nhất là ở tuyến y tế cơ sở đối với ngư­ời bệnh cao tuổi.

Ngư­ời cao tuổi từ 90 tuổi trở lên đư­ợc hư­ởng các chế độ bảo hiểm y tế theo quy định tại Thông tư­ số 24/2003 ngày 6/11/2003 của Bộ Lao động – Thư­ơng binh và Xã hội hư­ớng dẫn thi hành Nghị định số 120/2003/NĐ-CP ngày 20/10/2003 của Chính phủ. Khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong nư­ớc và nư­ớc ngoài, gia đình của người cao tuổi mua thẻ BHYT cho người cao tuổi.

Có thể nói, thông tư ­ 02/2004 của Bộ Y tế đã tiến một bư­ớc dài trong việc thể chế hoá chính sách y tế cho người cao tuổi Việt Nam, tạo tiền đề quan trọng cho việc xây dựng chính sách y tế mới cho người cao tuổi khi Luật người cao tuổi đư­ợc Quốc hội thông qua.

* Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 141, năm 2004 “Về việc thành lập Uỷ ban Quốc gia về người cao tuổi Việt Nam”.

* Quyết định số 47, năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính “Về việc ban hành quy chế quản lí và sử dụng Quỹ chăm sóc người cao tuổi”.

* Nghị định 67/CP, năm 2007 của Chính phủ “Về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội”, trong đó có đối tượng là người từ 85 tuổi trở lên không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội, được hưởng 120.000 đ/tháng.

Bằng thực tiễn hoạt động của người cao tuổi và Hội người cao tuổi, Hội người cao tuổi Việt Nam đã có những đóng góp cụ thể vào các nội dung trong các văn bản pháp quy của Đảng và Nhà nước nêu trên. Các tổ chức Hội vừa triển khai, vừa đúc rút kinh nghiệm, vừa tham mưu, đề xuất với cấp uỷ, Chính quyền, từng bước bổ sung những quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách đối với người cao tuổi. Ban Chấp hành TW Hội người cao tuổi Việt Nam cùng với tổ chức Hội các cấp đã trực tiếp tham gia bằng nhiều hình thức. Góp ý kiến bằng văn bản vào các báo cáo chính trị tại Đại hội IX, Đại hội X, tham mưu giúp Nhà nước những vấn đề cụ thể về người cao tuổi như: Thành lập Uỷ ban Quốc gia về người cao tuổi Việt Nam, xây dựng chương trình hành động Quốc gia về người cao tuổi giai đoạn 2006 – 2010; Tổng kết 8 năm thực hiện Pháp lệnh người cao tuổi, chế độ trợ cấp cho người cao tuổi từ 85 tuổi trở lên không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội, chế độ khám chữa bệnh cho người cao tuổi, chế độ cho cán bộ Hội các cấp theo công văn 372 của Bộ Nội vụ đầu năm 2008…

Tuy nhiên, các chính sách của các văn bản quy phạm pháp luật về người cao tuổi hiện hành chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước về người cao tuổi và những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn công tác người cao tuổi những năm qua, đó là:

Thứ nhất, Hiến pháp năm 1992, Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân, Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình… có đề cập đến người cao tuổi ở một số điều luật. Pháp lệnh người cao tuổi và nhiều văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ quy định về chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi. Các quy định của pháp luật hiện hành đó chưa bao quát đầy đủ, toàn diện về quyền và nghĩa vụ chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi; phụng dưỡng, chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi; trách nhiệm của cơ quan Nhà nước đối với công tác người cao tuổi trong điều kiện đất nước phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế. Một số quy định về công tác tổ chức Hội chưa được thống nhất trong cách hiểu và vận dụng trong thực tiễn rất khác nhau.

Thứ hai, mặc dù Pháp lệnh người cao tuổi và các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động của người cao tuổi đã được ban hành và tổ chức thực thi trong thực tế nhưng ở mức hạn chế vì các văn bản đó đều là các văn bản dưới luật. Bên cạnh đó, các quy định pháp luật về người cao tuổi còn chưa đầy đủ, thiếu hệ thống đồng bộ; các điều luật nặng về tuyên bố nên gặp rất nhiều khó khăn, hạn chế khi tổ chức thi hành trong thực tiễn. Hơn nữa, Pháp lệnh người cao tuổi ra đời trong điều kiện kinh tế đất nước còn khó khăn, tỷ lệ người cao tuổi mới chiếm khoảng 8% dân số.

Vì thế, việc nghiên cứu xây dựng và ban hành Luật người cao tuổi, trên cơ sở kế thừa Pháp lệnh người cao tuổi và các văn bản hiện hành sẽ góp phần thể chế hoá đầy đủ, toàn diện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về người cao tuổi ở nước ta hiện nay, vừa đáp ứng được nhu cầu hội nhập vừa có tính lâu dài.

(Ban Thường vụ Hội Người Cao tuổi Việt Nam)


[1] Báo Nhân dân, số 2387, ngày 01.10.1960