Chương 6 Công tác xã hội: Lý thuyết và thực hành

VNSW xin trân trọng giới thiệu Chương 6 với tiêu đề Khách hàng, trong Tập tài liệu Công tác xã hội: Lý thuyết và thực hành của tác giả Trần Đình Tuấn, ĐH San Jose, Hoa Kỳ:

Nội dung:[table-of-content]Đối tượng của nhân viên CTXH là khách hàng. Khách hàng có thể là cá nhân, gia đình, nhóm, hay cộng đồng. Mục tiêu của khách hàng là đạt được một thay đổi tốt đẹp hơn cho cuộc sống. Thay đổi có thể là thay đổi của bản thân khách hàng hoặc thay đổi của những người chung quanh, hoặc của môi trường, hoặc của tất cả các thành phần này. Thí dụ khách hàng là một người chồng bạo hành, nhân viên CTXH có thể không những chú trọng giúp khách hàng này học cách đối xử, giải quyết mâu thuẫn một cách ôn hoà trong gia đình, mà còn giúp các thành viên trong gia đình (vợ con) cách ứng xử thích hợp, và giúp toàn thể cộng đồng có thái độ xử lý nghiêm khắc, dứt khoát, không khoan nhượng với hành vi bạo hành.

Khách hàng đến với nhân viên CTXH trong những hoàn cảnh khác nhau: tự ý, do người quen giới thiệu, do bị bắt buộc; và có thể có những mục đích khác nhau:

–     Để bản thân được giúp đỡ.

–     Để người khác được giúp đỡ, thí dụ con cái hư hỏng hay vợ/chồng nghiện ngập.

–     Không muốn được giúp đỡ nhưng bị xã hội bắt buộc vì đã làm hại người khác, thí dụ chỉ biết đánh đập, không biết cách dạy dỗ con cái một cách ôn hoà và hữu hiệu, bị toà án bắt buộc đi học lớp nghệ thuật làm cha mẹ.

–     Muốn được giúp đỡ để tránh bị hậu quả tiêu cực, thí dụ đi cố vấn tâm lý hoặc tham gia chương trình cai rượu hoặc ma túy để được toà cho phép thăm con.

–     Mục đích không chính đáng, thí dụ luôn luôn được con cái nghe lời. Đây là một ước vọng sai trái của nhiều phụ huynh Á châu, chỉ muốn làm thế nào để biến con cái thành lũ con chiên ngoan ngoãn, không biết tự suy nghĩ, không chú trọng đào luyện tinh thần tự lập, không lệ thuộc vào những khuôn khổ có sẵn, và vì vậy khi ra đời không thể phát triển được đến mức cao nhất của khả năng.

Cho dù đến trong hoàn cảnh nào, với bất cứ mục đích nào, khách hàng luôn luôn là một cá nhân độc đáo, có cá tính, tâm lý, quá khứ, mối quan tâm, nỗi lo sợ, nhu cầu… riêng biệt mà nhân viên CTXH phải tìm hiểu. Mặc dù trong những môi trường CTXH khác nhau, có thể có những từ ngữ khác nhau để chỉ khách hàng (thí dụ ở bệnh viện khách hàng là bệnh nhân, ở trường học là học sinh hay sinh viên). Quan hệ làm việc giữa nhân viên CTXH và khách hàng không phải là quan hệ thứ bậc mà là quan hệ bình đẳng, hợp tác giữa hai chuyên viên. Nhân viên CTXH là chuyên viên CTXH, và khách hàng là chuyên viên về tất cả những gì liên quan đến cuộc đời của cá nhân họ. Qua quá trình làm việc với nhân viên CTXH, khách hàng sẽ có thêm những kiến thức và nghiệm mới và sẽ trở thành chuyên viên giỏi hơn nữa về cuộc đời của bản thân.

Do nhiều yếu tố, trong đó có tự ái, sợ mọi người biết vấn nạn của mình, không biết về các tài nguyên hữu ích trong cộng đồng, không tin người khác có khả năng giúp mình, những người có vấn nạn không chịu trở thành khách hàng một cách dễ dàng. Để trở thành khách hàng, người có vấn nạn phải trải qua quá trình sau:

–     Nhận ra mình có vấn nạn.

–     Nhận ra mình không thể dấu mãi vấn nạn không cho mọi người chung quanh biết.

–     Có khả năng nhìn nhận không thể tự mình giải quyết vấn nạn.

–     Chấp nhận vai trò khiêm nhu của người cần và muốn được giúp đỡ.

–     Chấp nhận thử những tài nguyên mới, giải pháp mới.

–     Chấp nhận đầu tư thì giờ, năng lực, tài nguyên cá nhân vào việc giải quyết vấn nạn.

1. Tính Cách Độc Đáo Của Khách Hàng

Mỗi khách hàng là một cá nhân với những cá tính, gốc gác văn hóa, tôn giáo, học vấn… riêng biệt. Đặt trong hoàn cảnh sống (gia đình, cộng đồng…) mỗi khách hàng còn trở thành độc đáo hơn, không người nào giống người nào, và vì vậy mọi chụp mũ, dán nhãn dựa trên thành kiến đều là những sai lầm mà nhân viên CTXH phải luôn luôn cảnh giác (thí dụ da đen lười biếng, da trắng kỳ thị, người kinh lọc lừa…)  Để hiểu khách hàng, nhân viên CTXH phải thu thập và phân tích những dữ kiện thuộc các lĩnh vực sức khỏe, học vấn, tuổi tác, nghề nghiệp, chức vụ, tôn giáo, tính dục, hoàn cảnh gia đình, kinh nghiệm đã trải qua từ nhỏ tới hiện tại, lối sống, hệ thống đạo đức và giá trị cá nhân, nhu cầu, ưu và khuyết điểm, vai trò (chồng, vợ, cha, mẹ, con…) trong gia đình và xã hội và mức độ thành công, thất bại, hài lòng hay bất mãn với vai trò của bản thân… gọi là lịch sử tâm lý xã hội/psycho-social history của khách hàng. Kỹ thuật “cây gia đình”/genogram cũng được dùng để tìm hiểu các mối liên hệ gia đình trong ít nhất ba thế hệ. Kế hoạch giúp đỡ xây dựng từ lịch sử tâm lý xã hội độc đáo và những ưu điểm của khách hàng sẽ dễ thành công hơn gấp nhiều lần dựa trên lý luận một chiều của nhân viên CTXH, hoặc dựa trên những khuyết điểm của khách hàng.

Tính cách đa dạng của xã hội loài người: trong xã hội phức tạp của loài người, có rất nhiều chủng tộc, cộng đồng, nhóm, tôn giáo, văn hóa, tiếng nói khác nhau. Đối với CTXH, hiểu biết về các nhóm thiểu số, bị kỳ thị hay đối xử bất công, là điều hết sức quan trọng. Thí dụ người tật nguyền. Đây là thiểu số bị đối xử bất bình đẳng trong mọi xã hội. Ở Mỹ, Luật Người Mỹ Tật Nguyền/American With Disabilities Act năm 1990 là một tiến bộ đáng kể trong việc xóa bỏ đối xử bất bình đẳng đối với người tàn tật. Nhờ luật này, tất cả các kiến trúc có công chúng lui tới (chung cư, tiệm ăn, rạp hát, cơ xưởng, công tư sở, trường học, nhà thương…) và tất cả các vỉa hè đều phải xây dựng để người sử dụng xe lăn có thể đi lại khắp nơi như người bình thường. Công ty xe buýt phải có một tỷ lệ xe có gắn bộ phận nâng, hạ xe lăn để người dùng xe lăn có thể đi xe buýt như người thường, trong xe phải có chỗ gần cửa dành riêng cho xe lăn với hệ thống đai móc an toàn riêng cho xe lăn. Các ngã tư đường nơi có người mù qua lại phải có gắn thiết bị âm thanh để người mù bấm khởi động, nghe được và biết khi nào có thể qua đường một cách an toàn. Các cơ quan hãng xưởng công cũng như tư đều bị cấm không được kỳ thị người khuyết tật trong chính sách thuê mướn nhân công. Các hãng điện thoại phải cung cấp điện thoại và dịch vụ viễn thông cho người điếc. Mặc dù vậy, tư tưởng kỳ thị có từ thượng cổ đối với người khuyết tật vẫn không thể xóa bỏ và trong thực tế nạn kỳ thị vẫn xảy ra. Đối với những nước phát triển sau như Việt Nam, tất nhiên người khuyết tật còn chịu nhiều đối xử bất bình đẳng mà nhân viên CTXH phải thấu triệt để giúp khách hàng một cách hiệu quả đồng thời vận động xóa bỏ dần dần những đối xử bất bình đẳng đối với người khuyết tật trong xã hội.

Phụ nữ, trẻ em, và người già cũng có thể là nạn nhân của đối xử bất bình đẳng.

Một thí dụ khác về cộng đồng thiểu số bị kỳ thị là cộng đồng đồng tính luyến ái. Người ta thường dựa vào những thành kiến đạo đức hay tôn giáo để biện minh cho hành vi kỳ thị này. Thí dụ: người đồng tính đã tự ý chọn lối sống đồng tính, hoặc đồng tính là tội lỗi, do quỷ Sa tăng gây ra… Mặc dù khoa học ngày nay đã phát hiện sự phức tạp của tính dục con người (không phải chỉ có đồng tính/homosexuality và dị tính/ heterosexuality, mà còn song tính/by-sexualility, hoán tính/transgender…) và sự quan trọng của các yếu tố sinh lý bẩm sinh, nạn kỳ thị người đồng tính vẫn còn rất nặng nề ở khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là ở Trung Đông và Âu Mỹ, nơi thỉnh thoảng vẫn còn xảy ra những vụ sát hại người đồng tính. Vụ thảm sát man rợ Matthew Sheppard ở Wyoming năm 1998 làm chấn động nước Mỹ là một bằng chúng điển hình cho tệ nạn này:

Đêm 7-10-1998, Matthew Sheppard, 21 tuổi, sinh viên khoa chính trị đại học bang Wyoming gặp Mc Kinney và Henderson ở một quán rượu phục vụ khách hàng đồng tính. Mc Kinney và Henderson giả vờ là người đồng tính và dụ chở Sheppard đi chơi. Khi lái xe đến một quãng đồng vắng, Mc Kinney và Henderson dùng súng đập nát đầu và mặt Sheppard rồi trói Sheppard lên hàng rào bên đường trước khi bỏ trốn. Mười tám giờ sau một người đi xe đạp ngang mới phát hiện Sheppard (mới đầu người này tưởng Sheppard là một người nộm bồ nhìn). Rạng sáng ngày 12-10-1998, không hề hồi tỉnh, Sheppard trút hơi thở cuối cùng ở bệnh viện Poudre Valley, Fort Collins, Colorado. Trong phiên xử Mc Kinney và Henderson, hai bạn gái của các hung thủ đã chứng nhận họ có kế hoạch “cướp một tên đồng tính”. Kết quả toà đã xử Henderson hai lần án chung thân và Mc Kinney hai lần án chung thân không được ân xá. Sau thảm kịch này đã có nỗ lực đưa thêm tính dục, phái tính, và tật nguyền vào luật liên bang chống tội ác do kỳ thị/hate crime tại Mỹ, tuy nhiên do chống đối mạnh mẽ của phe bảo thủ, nỗ lực này đã nhiều lần thất bại. Tổng thống thứ 44 của Mỹ Barack Obama đã tuyên bố, trong thời gian tranh cử, sẽ hỗ trợ điều luật bổ sung này. Đáng chú ý là trong số 29 quốc gia có luật chống tội ác do kỳ thị, đã có bảy nước bao gồm tội ác chống người đồng tính vì lý do đồng tính vào tội ác này, (Andorra, Bỉ, Canada, Anh và xứ Wales, Pháp, Iceland, và Tây ban nha).

Điều nghiêm trọng đối với nạn kỳ thị người đồng tính là họ thường bị kỳ thị ngay từ trong môi trường gia đình là môi trường gần gũi và quan trọng nhất trong đời sống. Trong các nhóm bị kỳ thị khác, sự hỗ trợ và thương yêu trong gia đình có thể tạo nên sức mạnh giúp nạn nhân chống đỡ được kỳ thị của xã hội. Thí dụ: nếu một đứa bé bị tật nguyền từ bẩm sinh, được gia đình thương yêu, bảo vệ, và dạy cho biết nó là một con người độc đáo, có những khả năng và hạn chế riêng như mọi người khác, nó không có lỗi gì trong tật nguyền của nó, và nếu cố gắng đúng mức, nó cũng có thể thành công, được kính trọng, thương yêu như bất cứ ai, đứa trẻ đó sẽ có tự tin và phần nào chống đỡ được kỳ thị của xã hội bên ngoài. Phần đông người đồng tính không có được sự hỗ trợ giúp đỡ của gia đình. Tệ hơn nữa, do ảnh hưởng áp đảo của văn hóa và tôn giáo, chính bản thân nhiều người đồng tính cũng kinh sợ và tìm hết cách che dấu dục vọng đồng tính tự nhiên của họ bằng cách cố gắng bắt chước lối sống của số đông: lấy chồng, lấy vợ, để tạo thành cảnh gia đình bình thường như những người khác.

Nhân viên CTXH phải có khả năng hiểu và tôn trọng khách hàng bất kể khách hàng là ai, thuộc thành phần nào, nhóm nào trong xã hội, và sẵn sàng tranh đấu để xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với bất cứ ai trong xã hội.

2. Động Lực, Khả Năng, và Cơ Hội

Động lực/motivation là điều khách hàng cần đạt được. Điều đó thúc đẩy khách hàng có hành động để thay đổi hiện trạng.

Khả năng bao gồm khả năng vật chất (sức khỏe, tuổi tác…); khả năng tạo và duy trì mối quan hệ hợp tác với những người giúp đỡ; và khả năng trí tuệ để có thể tham dự vào những công việc dẫn đến sự thay đổi.

Cơ hội có hai phần: cá nhân và môi trường. Cá nhân khách hàng sẵn sàng các có điều kiện vật chất và tinh thần để thay đổi hay chưa. Thí dụ một người nghiện cờ bạc dù đã tán gia bại sản, dù thân nhân đã hết sức khuyên can, cũng không có cơ hội khi người đó vẫn nghĩ vận xui sẽ qua và sẽ gỡ lại được số tiền đã nướng vào sòng bài. Cơ hội môi trường là sự hiện hữu của những tài nguyên vật chất và tinh thần trong gia đình và cộng đồng. Thí dụ người phụ nữ là nạn nhân của bạo hành trong gia đình, dù bạo hành có tàn nhẫn và kéo dài bao lâu đi nữa cũng không có cơ hội thoát ra được khi xã hội vẫn chưa có thái độ dứt khoát, khi các nhà lãnh đạo tinh thần vẫn không cho phép ly dị, khi trên truyền hình các cố vấn tâm lý vẫn cổ vũ “đạo đức văn hóa gia đình Việt Nam” “công dung ngôn hạnh” “kiên nhẫn để duy trì mái ấm gia đình cho con cái”…

Nhân viên CTXH có thể giữ một vai trò quan trọng trong cả ba lĩnh vực động lực, khả năng và cơ hội của khách hàng: làm cho khách hàng có được mục tiêu rõ ràng, nâng cao khả năng, và nắm bắt cơ hội. Kỹ năng quan trọng nhân viên CTXH áp dụng là kỹ năng tạo dựng và làm tăng thêm năng lực, tri thức, và niềm tự tin cho khách hàng/empower. Kỹ năng này bao gồm cách đối xử với khách hàng một cách thật thà, thẳng thắn, không giả dối, không cường điệu; luôn luôn tôn trọng khách hàng; giúp khách hàng nhìn nhận khuyết điểm nhưng hướng trọng tâm vào ưu điểm; cùng với khách hàng xây dựng kế hoạch hành động dựa trên ưu điểm.

3. Tiềm Năng Của Khách Hàng

Trong quá khứ, CTXH chú trọng vào vấn nạn và những khiếm khuyết của khách hàng, cách tiếp cận này đưa đến quan hệ bất bình đẳng giữa người làm và khách hàng, và không tạo được tinh thần cũng như cố gắng tự lập của khách hàng. Phương pháp CTXH mới chú trọng vào ưu điểm và tiềm năng của khách hàng, trong đó quan hệ giữa người làm và khách hàng là quan hệ hợp tác bình đẳng để cùng thăm dò những giải pháp mà khách hàng có quyền tùy ý chọn lựa. Tiềm năng ở đây bao gồm tiềm năng của cá nhân khách hàng (thí dụ, trí tuệ, sức khỏe, tiền bạc, thì giờ, quyết tâm…) và tiềm năng của môi trường (hỗ trợ về tinh thần và vật chất của gia đình, các tài nguyên có sẵn trong cộng đồng). [/table-of-content]

Advertisements

Đào tạo CTXH tại trường ĐH KHXH&NV Hà Nội

[tab:GIỚI THIỆU]

Những ai đã từng đọc cuốn hồi kí chấn động thế giới “Bị thiêu sống” của Souad hẳn vẫn in đậm trong tâm trí hình ảnh một cô gái Cisjordanie sống dưới đáy xã hội, từng bị gia đình thiêu sống vì trót hoang thai, từng bị bỏ mặc chờ chết tại bệnh viên. Sống không có nhân quyền, không có hi vọng. Nhưng số phận cô gái đã thay đổi nhờ một nhân viên công tác xã hội. Nhờ sự giúp đỡ của nhân viên công tác xã hội, cô gái bắt đầu một cuộc sống mới, sống đúng như một con người. Và chúng ta tự hỏi, nhân viên công tác xã hội là ai mà có thể thay đổi số phận một con người như vậy?

Các bạn, những con người luôn mong mỏi giúp đỡ những cộng đồng nghèo khổ, những người gặp khó khăn mà tự họ không thể vươn lên được, những đứa trẻ mồ côi… Các bạn luôn mong bản thân có thể góp sức thay đổi cuộc sống xung quanh theo hướng tốt đẹp hơn nhưng đang phân vân tìm cho mình một lối đi. Vậy tại sao các bạn không khám phá ngành công tác xã hội, trở thành những nhà công tác xã hội tương lai?

Tham gia ngành học này, các bạn sẽ được đào tạo bài bản thành những nhà hoạt động công tác xã hội chuyên nghiệp, có cơ hội việc làm mở rộng và cơ hội học hỏi ở các cấp bậc cao hơn cả trong và ngoài nước.

[tab:TUYỂN SINH]

Tuyển sinh: Khối C, D

Bậc đào tạo: Cử nhân

Đơn vị đào tạo: Bộ môn Công tác Xã hội

[tab:CƠ HỘI VIỆC LÀM]

Phát triển cộng đồng[spoiler]Sinh viên học ngành CTXH sau khi ra trường có thể làm trong lĩnh vực phát triển cộng đồng với tư cách là Cán bộ dự án phát triển cộng đồng, Trợ lí dự án phát triển cộng đồng và Cán bộ truyền thông trong dự án phát triển

Nhiệm vụ và công việc phải làm:

  • Lập kế hoạch hoạt động hàng quý;
  • Theo dõi tiến độ, giám sát chất lượng hoạt động;
  • Hỗ trợ đối tác phát triển các hoạt động;
  • Theo dõi tiến độ chi tiêu và cân đối ngân sách;
  • Dịch thuật các tài liệu gửi cơ quan đối tác;
  • Trao đổi thông tin với đối tác về tiến độ dự án;
  • Tổ chức đào tạo hoặc hỗ trợ đào tạo;
  • Tổ chức/ hỗ trợ tổ chức hoạt động truyền thông.

Yêu cầu về năng lực, tính cách, kĩ năng mềm:

  • Tiếng Anh giao tiếp thành thạo;
  • Sử dụng thành thạo tin học văn phòng;
  • Kĩ năng lập kế hoạch, theo dõi giám sát, thúc đẩy, làm việc theo nhóm, giao tiếp, nghiên cứu;
  • Sẵn sàng đi xa.

Các đơn vị tuyển dụng:

  • Cơ quan phát triển xã hội của Nhà nước (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ LĐTB&XH…);
  • Các Trung tâm nghiên cứu và đào tạo;
  • Các Tố chức Phi Chính phủ và Quốc tế.

Triển vọng phát triển nghề nghiệp:

  • Môi trường làm việc thân thiện và hỗ trợ;
  • Có cơ hội phát huy tối đa năng lực của bản thân;
  • Có chế độ đãi ngộ tốt;
  • Được đào tạo bổ sung kiến thức. [/spoiler]
Nhân viên công tác xã hội
[spoiler]Làm việc trong những cơ sở có liên quan tới việc trợ giúp những người yếu thế trong xã hội với tư cách là những người tham gia vào quá trình vận động chính sách, hoạch định chính sách có liên quan tới truyền thống và văn hoá, giáo dục cá nhân, cộng đồng thay đổi hành vi.

Nhiệm vụ và công việc phải làm:

  • Tiếp nhận những đối tượng yếu thế (người khuyết tật, phụ nữ bị bạo hành…);
  • Tìm hiểu vấn đề của thân chu;û
  • Hỗ trợ thân chủ giải quyết vấn đề, liên kết các nguồn lực cho thân chủ;
  • Khai thác tiềm năng, nâng cao năng lực cho thân chủ (thông qua hoạt động nhóm, tham vấn…);
  • Đánh giá, theo dõi, chuẩn đoán phát hiện ở cộng đồng, tìm kiếm thông tin về những vấn đề mình quan tâm, chuyển tải những thông tin mình đã biết đến cộng đồng, sau đó huy động sự tham gia của cộng đồng về vấn đề này, dần dần vận động xây dựng chính sách.

Các yêu cầu về năng lực, tính cách, kĩ năng mềm: Khả năng tư duy, phán đoán; Nhạy cảm và Kiên trì; Khả năng lắng nghe và giao tiếp tốt; Khả năng giữ bí mật.

Các đơn vị tuyển dụng:

  • Các trung tâm hỗ trợ đối tượng yếu thế của nhà nước (trung tâm bảo trợ xã hội, các mái ấm, nhà mở, nhà tình thương…)
  • Các tổ chức phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực trẻ em, người khuyết tật, sức khoẻ…
  • Các cơ quan của Nhà nước: Trường học, Bệnh viện, Cục bảo vệ trẻ em…

Triển vọng phát triển nghề nghiệp: Hiện nay nhu cầu tuyển dụng nhân viên công tác xã hội trong lĩnh vực công tác xã hội cá nhân, nhóm là rất lớn. Tại các tổ chức phi chính phủ Việt Nam, quốc tế như: Rồng Xanh, CEPHAD… đã có những sinh viên công tác xã hội đã tốt nghiệp và làm việc trong công tác chăm sóc bảo vệ trẻ em nhưng số lượng này vẫn chưa đủ đáp ứng nhu cầu thực tế. [/spoiler]

Nhà quản trị công tác xã hội

[spoiler]Nhiệm vụ và công việc phải làm:

  • Quản lí các mạng lưới công tác xã hội;
  • Tham mưu xây dựng chính sách cho các đối tượng yếu thế trong xã hội;
  • Giám sát quá trình thực thi chính sách và đưa ra khuyến nghị sửa đổi, bổ sung.

Các yêu cầu về năng lực, tính cách, kĩ năng mềm:

  • Kĩ năng phân tích;
  • Kĩ năng viết;
  • Khả năng lãnh đạo;
  • Quyết đoán.

Các đơn vị tuyển dụng:

  • Các Ban, Ngành liên quan tới phát triển chính sách xã hội (Bộ Lao động, Thương binh & Xã hội…);
  • Các trung tâm công tác xã hội của Nhà nước;
  • Các tổ chức Phi Chính phủ.

Triển vọng phát triển nghề nghiệp: Trong các Ban, Ngành soạn thảo, ban hành chính sách vẫn còn thiếu sự tham gia của nhân viên công tác xã hội. Hiện nay đây là một lĩnh vực mới với nhân viên công tác xã hội và tiềm năng phát triển ngày càng lớn. [/spoiler]

Cán bộ đào tạo, nghiên cứu trong các dự án phát triển

[spoiler]Nhiệm vụ và công việc phải làm:

  • Tìm hiểu nhu cầu của cộng đồng;
  • Lên chương trình, nội dung kiến thức (phù hợp với mục đích, đối tượng của từng dự án, nhu cầu người học);
  • Tổ chức đào tạo hoặc hỗ trợ đào tạo;
  • Tham gia thực hiện đào tạo dự án;
  • Lượng giá hoạt động đào tạo dự án.

Các yêu cầu về năng lực, tính cách, kĩ năng mềm:

  • Tiếng Anh giao tiếp thành thạo;
  • Sử dụng thành thạo tin học văn phòng;
  • Kĩ năng lập kế hoạch, theo dõi giám sát, thúc đẩy, làm việc theo nhóm, giao tiếp, nghiên cứu;
  • Sẵn sàng đi xa.

Các đơn vị tuyển dụng:

  • Cơ quan phát triển xã hội của Nhà nước (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ LĐTB&XH…);
  • Các Trung tâm nghiên cứu và đào tạo;
  • Các Tố chức Phi Chính phủ và Quốc tế.

Triển vọng phát triển nghề nghiệp: Môi trường làm việc thân thiện và hỗ trợ; Có cơ hội phát huy tối đa năng lực của bản thân; Có chế độ đãi ngộ tốt; Được đào tạo bổ sung kiến thức. [/spoiler]

Cơ hội làm việc khác: [spoiler]

  • Giảng viên giảng dạy Công tác xã hội trong các cơ sở đào tạo tại các Trường Cao Đẳng, Đại học…
  • Làm nhà tư vấn/ tham vấn trong các công ti, Trung tâm làm dịch vụ tư vấn/ tham vấn tâm lí.
  • Cán bộ trong các lĩnh vực xã hội như:
    + Cán bộ nghiên cứu, cán bộ dự án phát triển cộng đồng tại các Viện, các Trung tâm nghiên cứu, ứng dụng Công tác xã hội, các Tổ chức Phi Chính phủ trong và ngoài nước…
    + Cán bộ hỗ trợ mặt xã hội như tư vấn, hỗ trợ điều trị trong các bệnh viện, trường học. [/spoiler]

[tab:END]

Nguồn ảnh và bài viết: http://www.ussh.edu.vn

Giới thiệu chiến lược đến năm 2015 của tổ chức hỗ trợ người cao tuổi quốc tế

VNSW xin trân trọng giới thiệu bài viết “Giới thiệu chiến lược đến năm 2015 của tổ chức hỗ trợ người cao tuổi quốc tế (HAI)” của TS Nguyễn Thị Lan, bài viết này được đăng trên trang web Bộ LĐTBXH.

Năm 2010, Việt Nam sẽ hoàn thành việc thực hiện Chương trình hành động quốc gia về Người cao tuổi (NCT) Việt Nam giai đoạn 2005- 2010 và xây dựng chương trình cho giai đoạn tiếp theo 2011-2015. Nhân ngày Quốc tế người cao tuổi (1.10) năm nay, Văn phòng Uỷ ban Quốc gia về Người cao tuổi Việt Nam giới thiệu Chiến lược đến năm 2015 với chủ đề “Khi người cao tuổi nói, chúng ta lắng nghe” của Tổ chức quốc tế về người cao tuổi (HAI )- một tổ chức đã có nhiều chương trình hỗ trợ NCT các nước nghèo trên thế giới, trong đó có Việt Nam để tham khảo.

Người cao tuổi và thế giới

Theo thống kê, thế giới hiện có 497 triệu, chiếm gần 2/3 NCT sống ở các nước nghèo và khoảng hơn 180 triệu người sống trong cảnh nghèo khó. Theo dự báo, đến năm 2045, số người trên 60 tuổi trên thế giới sẽ nhiều hơn số trẻ em dưới 14 tuổi. Ở các nước trung bình và kém phát triển, hơn 50% người trên 60 tuổi vẫn làm việc, chủ yếu ở các thành phần phi chính thức. Thế giới cũng đang chứng kiến ¾ người cao tuổi sống trong các khu vực bị ảnh hưởng bởi thiên tai và biến đổi khí hậu; 2/3 số NCT bị bệnh kinh niên sống ở các nước tủng binh và kém phát triển.

Ở nhiều nước Châu Phi, NCT là gnười chắm sóc chủ yếu đối với 40% người bị HIV/AIDS hoặc trẻ em bị mồ côi do AIDS. Trong những thế kỷ qua, sự gia tăng người cao tuổi trong tổng số dân số toàn cầu là vấn đề đáng quan tâm. Trong thế kỷ này, nó đặt ra những thách thức lớn nhưng cũng không ít cơ hội. Hàng triệu người cao tuổi ở các nước phát triển trung bình và thu nhập thấp đang đối mặt với những vấn đề về nghèo đói và bệnh tật.

Tuy vậy, các chính sách phát triển quốc tế và các hoạt động thường không bao gồm người cao tuổi. Chương trình phát triển Thiên niên kỷ không trực tiếp liên quan đến tuổi già. Trong khi cam kết giảm tỷ lệ người cực nghèo xuống 50% vào năm 2015, người cao tuổi hầu như dùng lại ở nửa còn lại của người nghèo. Khi nói về chăm sóc sức khoẻ, người cao tuổi vừa là người tự chăm sóc mình, lại vừa là những người chăm sóc người khác. Sự gia tăng “người cao tuổi già” là thách thức lớn, đặc biệt đối với gia đình và cộng đồng. Đồng thời, nhiều người cao tuổi phải chăm sóc cháu do bố mẹ các em ra thành thị làm việc kiếm tiền hoăc bệnh tật-chết do HIV/AIDS hay các bệnh liên quan.

Ở các nước có thu nhập trung bình và thấp, hàng triệu người cao tuổi sống dưới mức nghèo đói, phần lớn họ không có nghỉ hưu. Họ không có cả lương hưu tối thiểu, phải làm việc để đảm bảo cuọc sống và thường làm những công việc không an toàn, được trả công thấp đến khi họ không thể làm việc được nữa hoặc bệnh tật, ốm đau. Những người không làm việc được phải sống trong cảnh bần cùng. Khủng hoảng kinh tế thế giới, dẫn đến sự tăng giá cả sinh hoạt, thức ăn, giao thông và nhà ở…làm tồi tệ thêm cuộc sống của họ. Các hộ gia đình nghèo ảnh hưởng nhiều nhất đến người già và trẻ em trong gia đình. Những người cao tuổi trong gia đình phải chăm sóc trẻ em mà cha mẹ các em di cư ra thành thị kiếm tiền. Những người cao tuổi ở các nước có thu nhập trung bình và thấp không có cơ hội cải thiện cuộc sống. Vai trò của họ đối với gia đình và cộng đồng thường không được biết đến và đánh giá đúng mức. Đặc biệt, đối với những người sống ở các địa phương nghèo hoặc bị tác động xấu của môi trường thường có nguy cơ cao chịu ảnh hưởng của các cuộc xung đột hoặc các nguyên nhân khác về chính trị, môi trường không ổn định tạo ra sự thiếu an toàn cho họ.

Tuy vậy, người cao tuổi toàn cầu vẫn đang thể hiện các cơ hội về tiềm năng, kinh nghiệm, khả năng sâu rộng của họ. Thu nhập và sức khoẻ ở tuổi già là mục tiêu, kể cả đối với các nước nghèo, để đảm bảo cho sự tham gia của người cao tuổi đối với xã hội. Đây cũng là một trong những lý do mà HAI đặt chủ đề cho chiến lược hành động đến năm 2015 là: “Khi người cao tuổi nói, chúng ta lắng nghe”. Đối phó với khủng hoảng kinh tế toàn cầu, sự gia tăng tỷ lệ người cao tuổi, đại dịch HIV/AIDS, sự kỳ thị và bạo lực đối với người cao tuổi, Tổ chức Người cao tuổi quốc tế sẽ đáp ứng với những nhu cầu và khả năng của người cao tuổi cũng như nâng cao nhận thức của các cơ quan, tổ chức cũng như của toàn xã hội về những vấn đề sau:

1. Nâng cao năng lực người cao tuổi trong đảm bảo an sinh thu nhập.

2. Nâng cao khả năng người cao tuổi và những người trợ giúp họ trong chăm sóc sức khoẻ, các dịch vụ hỗ trợ.

3. Nâng cao khả năng để người cao tuổi tham gia tích cực vào giải quyết các trường hợp khẩn cấp và hồi phục.

4. Tạo ra các phong trào mang tính quốc tế và quốc gia trợ giúp NCT vượt qua sự kỳ thị và bảo đảm các quyền của họ.

5. Hỗ trợ mạng lưới toàn cầu của các tổ chức để các tổ chức của NCT và làm việc cho NCT có hiệu quả.

Để làm được điều này, trong thời gian tới, Tổ chức NCT quốc tế dự kiến sẽ tăng 2/3 các dịch vụ trực tiếp hỗ trợ NCT và gia đình họ. Đồng thời tăng cường các hoạt động thúc đẩy cải thiện cách nhìn nhận về chế độ lương hưu, dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, tăng thêm sự đáp ứng phù hợp trong những trường hợp khẩn cấp để đem lại lợi ích cho nhiều triệu người cao tuổi và tăng cường mở rộng chính sách, công tác vận động cùng với các hoạt động hỗ trợ trong các trường hợp khẩn cấp. HAI cũng đã đặt ra 15 chỉ tiêu cụ thể trong những năm tới là:

– Trợ giúp để 20% NCT ở 30 nước có thu nhập trung bình và thấp được nhận trợ cấp của Chính phủ;

– Các họ gia đình có NCT ở 25 nước cải thiện được thu nhập và an ninh lương thực;

– NCT ở 15 nước có khả năng có khả năng phòng ngừa và quản lý bệnh mãn tính; – NCT ở 20 nước có khả năng đảm bảo tiếp cận miễn phí các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ thân thiện;

– Các dịch vụ phù hợp phòng chống HIV/AIDS đwocj cấp cho NCT ở 12 nước;

– NCT ở 25 nước được nhận các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu phù hợp;

– NCT được nhận các dịch vụ trực tiếp của HAI và các tổ chức đối tác để phòng ngừa, đối phó và phục hồi với các tình trạng khẩn cấp;

– Sẽ có 10 tổ chức nhân đạo được công nhận và đáp ứng nhu cầu trong phòng ngừa, đối phó và phục hồi với các tình trạng khẩn cấp của NCT;

– NCT tổ chức các hoạt động để thực hiện quyền nhận dịch vụ, được trợ giúp ở 25 nước;

– NCT ở 15 nước được trợ giúp để ngăn chặn và giảm thiểu sự kỳ thị liên quan đến tuổi già;

– Các tổ chức chủ chốt của HAI sẽ phát triển liên minh toàn cầu gồm hàng triệu các tổ chức, cá nhân trợ giúp NCT;

– 120 tổ chức, công nhận giá trị và tiêu chuẩn của HAI, hình thành mạng lưới toàn cầu chia sẻ và thừa nhận chương trình, các sáng kiến mang tính quốc gia, khu vực và quốc tế;

– Hoạt động ở 50 nước thể hiện sự thay đổi về luật pháp, chính sách đáp ứng quyền của NCT;

– Nhận thức của Anh và 5 nước OECD về Chương trình quốc tế về NCT sẽ được truyền thông qua các cuọc vận động và chương trình đào tạo;

-Tập huấn, chia xẻ thông tin và cơ hội hợp tác là những dịch vụ cơ bản của mạng lưới hỗ trợ NCT quốc tế do Ban thư ký quốc tế cung cấp.

Phương pháp tiếp cận và cách làm việc nhằm thực hiện các mục tiêu đề ra

Một là, tập trng vào lĩnh vực bình đẳng xã hội và nâng cao vị thế của NCT, theo đó, NCT được vào vị trí trung tâm thông qua việc thu hút họ vào quá trình thiết kế, thực hiện và đánh giá chương trình;Bảo đảm “Phát huy tiềm năng” là sứ mệnh chính của tổ chức bằng cách dựa trên những năng lực và sự đóng góp của NCT; Tìm ra những đối tượng thiệt thòi, yếu thế, khuyết tật, có nguy cơ để giúp họ thể hiện những điều của họ;Thừa nhận sự khác biệt của NCT về tuổi, giới tính…và chú ý đến những đặc điểm này trong quá trình làm việc.

Hai là, tăng cường sự phối hợp thông qua việc tìm kiếm sự phối hợp với các tổ chức trong và ngoài lĩnh vực NCT để đảm bảo rằng các vấn đè được thấu hiểu và đặt ưu tiên. Đặc biệt quan tâm đến sự phối hợp, làm việc với các tổ chức trợ giúp trẻ em và gia đình để nhấn mạnh tác động đến NCT cũng tác động đến trẻ em và các thành viên khác trong gia đình nhằm xác định các giải pháp đem lại lợi ích cho các thế hệ.

Ba là, về cung cấp dịch vụ: Cung cấp các dịch vụ cơ bản qua các tổ chức phi chính phủ và cá nhân vì chính phủ không thể tiếp cận tới từng cá nhân; Phản ứng với các trường hợp khẩn cấp kịp thời và hiệu quả; Làm việc để mọi người hiểu, bảo vệ và cảnh giác với môi trường tự nhiên, đảm bảo sự bền vững của môi trường; Hỗ trợ NCT xây dựng khả năng chống chọi với khủng hoảng chính trị, với tác động của tự nhiên.

Bốn là, phát triển các mô hình thử nghiệm trong cải thiện cuộc sống NCT qua các hoạt động giám sát và đánh giá tác động các chương trình can thiệp; Sử dụng các chứng cứ để tác động các cơ quan liên ngành của Chính phủ, các tổ chức giải quyết các vấn đề liên quan đến NCT. Ngoài ra, HAI cũng sẽ tăng cường khả năng cung cấp, vận động các nguồn tài chính để đầu tư vào các hoạt động như nâng cao năng lực thành viên, đào tạo kỹ năng cán bộ quản lý các chương trình dành cho NCT; phát triển mạng lưới, hệ thống và đảm bảo tính công khai, minh bạch trong các hoạt động vận động, tài trợ, cung cấp tài chính, dịch vụ trợ giúp NCT v.v..:

Cuối cùng, có thể nói, Chiến lược này của HAI đã thể hiện quá trình tiếp tục cải thiện các Chương trình, các hoạt động của tổ chức trong điều kiện thế giới biến đổi nhanh chóng./.

TS Nguyễn Thị Lan, Chánh Văn phòng UBQG về Người cao tuổi Việt Nam

Phát triển cộng đồng: Phương pháp quan trọng của công tác xã hội trong xóa đói giảm nghèo

Nguồn ảnh: scotland.gov.uk

VNSW trân trọng giới thiệu bài viết “Phát triển cộng đồng: Phương pháp quan trọng của công tác xã hội trong xóa đói giảm nghèo” của PGS.TS Phan Huy Đường, ĐHQG Hà Nội.
Phát triển cộng đồng là một phương pháp của công tác xã hội được xây dựng trên những nguyên lý, nguyên tắc và giả định của nhiều ngành khoa học xã hội khác như: Tâm lý xã hội, xã hội học, chính trị học, nhân chủng học…, được áp dụng ở nhiều nước và đã phát huy vai trò trong việc giải quyết các vấn đề của các nhóm cộng đồng nghèo, các nhóm yếu thế trong thời gian qua. Đó là phương pháp giải quyết một số vấn đề khó khăn, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng, hướng tới sự phát triển không ngừng về đời sống vật chất và tinh thần của người dân thông qua việc nâng cao năng lực, tăng cường sự tham gia, đoàn kết, phối hợp chặt chẽ giữa người dân với nhau, giữa người dân với các tổ chức và giữa các tổ chức với nhau trong phạm vi một cộng đồng.

Thế nào là phát triển cộng đồng?
Trong những năm qua, cùng với những thành tựu to lớn về phát triển kinh tế-xã hội, nước ta cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức, trong đó vấn đề nghèo đói luôn được quan tâm hàng đầu. Tăng trưởng kinh tế một mặt đã góp phần cải thiện đáng kể đời sống nhân dân, dẫn tới hình thành những cộng đồng dân cư có thu nhập cao, đời sống được bảo đảm bởi hệ thống cơ sở vật chất và hạ tầng, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, y tế, giáo dục tương đối khá. Người dân tại các cộng đồng này có nhiều cơ hội phát triển, đựoc phát huy khả năng và được bảo vệ thông qua mạng lưới an sinh xã hội an toàn, bền vững. Tuy nhiên, sự phân hóa ngay trong quá trình phát triển cũng làm xuất hiện những cộng đồng dân cư nghèo, các nhóm yếu thế tại vùng sâu, vùng xa, nơi có điều kiện tự nhiên không thuận lợi cùng một bộ phận dân cư ngay trong lòng các đô thị phát triển. Cộng đồng nghèo thường gắn liền với các đặc điểm: Cơ sở hạ tầng, dịch vụ xã hội thiếu hoặc yếu kém; kinh tế không phát triển; nhu cầu cơ bản của người dân chưa được đáp ứng đầy đủ; thiếu cơ hội tiếp cận khoa học – kỹ thuật, tâm lý thiếu tự tin hoặc trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước và không được tham gia vào các quá trình ra quyết định.
Chính vì vậy, việc giúp đỡ, phát triển các cộng đồng nghèo là hết sức cần thiết và việc lựa chọn các phương pháp phù hợp để phát triển cộng đồng có ý nghĩa khoa học và thực tiễn to lớn.
Phát triển cộng đồng là một phương pháp của công tác xã hội được xây dựng trên những nguyên lý, nguyên tắc và giả định của nhiều ngành khoa học xã hội khác như: Tâm lý xã hội, xã hội học, chính trị học, nhân chủng học…, được áp dụng ở nhiều nước và đã phát huy vai trò trong việc giải quyết các vấn đề của các nhóm cộng đồng nghèo, các nhóm yếu thế trong thời gian qua. Đó là phương pháp giải quyết một số vấn đề khó khăn, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng, hướng tới sự phát triển không ngừng về đời sống vật chất và tinh thần của người dân thông qua việc nâng cao năng lực, tăng cường sự tham gia, đoàn kết, phối hợp chặt chẽ giữa người dân với nhau, giữa người dân với các tổ chức và giữa các tổ chức với nhau trong phạm vi một cộng đồng.
Những nguyên tắc cơ bản của phát triển cộng đồng là sự tham gia và tự quyết của nhân dân; tin vào khả năng của người dân và phát huy nội lực của chính cộng đồng. Phương pháp này luôn đánh giá cao vai trò của người dân và coi đây là nhân tố quyết định tới sự thành công trong việc phát triển cộng đồng nghèo.
Các phương thức của phát triển cộng đồng
Một là, nhận diện cộng đồng bằng việc đánh giá đúng mức độ nghèo.
Thông thường, người ta thường sử dụng các kết quả các cuộc điều tra xã hội học (ví dụ điều tra mức sống dân cư, điều tra tỷ lệ hộ nghèo) để thu thập và đánh giá về mức độ nghèo đói trên địa bàn. Qua đó, chính quyền các địa phương có thể lập kế hoạch và xây dựng định hướng giảm nghèo cụ thể và phù hợp. Tuy nhiên, do các cuộc điều tra, khảo sát này không được tiến hành thường xuyên nên việc cập nhật thông tin về tỷ lệ nghèo trên địa bàn đôi lúc còn chậm. Do vậy, phương pháp đánh giá nghèo đói có sự tham gia của chính người dân là rất thiết thực. Để đánh giá đúng tình trạng nghèo đói của cộng đồng, thông thường người ta có thể đánh giá nhanh tình hình nghèo thông qua các chỉ số như tỷ lệ nghèo, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng, tỷ lệ học sinh bỏ học, tỷ suất sinh tự nhiên….; so sánh tình hình của các địa bàn tương tự, tìm hiểu, phân tích nguyên nhân của tình trạng nghèo ở mỗi địa bàn. Từ đó rút ra kết luận và đưa ra các đề xuất cho các chương trình và chính sách giảm nghèo liên quan cũng như lập kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội của cộng đồng.
Hai là, lập kế hoạch phát triển cộng đồng có sự tham gia của người dân. Đây là một trong những công cụ được một số dự án, như Dự án Hỗ trợ giảm nghèo do GTZ tài trợ, áp dụng ở các huyện nghèo và bước đầu cho kết quả tích cực. Theo đó, lập kế hoạch phát triển cộng đồng có sự tham gia nhằm giúp người dân tiếp cận các tiềm năng, các khó khăn, cản trở và tìm kiếm các giải pháp phù hợp thông qua phương pháp có sự tham gia cũng như dựa vào kiến thức của người dân. Từ đó xây dựng các kế hoạch phát triển hàng năm và kế hoạch trung hạn ở cấp xã phù hợp với định hướng phát triển kinh tế xã hội của địa phương; thực hiện và giám sát các hoạt động với sự hỗ trợ tích cực và hiệu quả của các cơ quan nhà nước và các tổ chức đoàn thể, các cá nhân dựa trên phương pháp giám sát và đánh giá có sự tham gia của người dân một cách trực tiếp hoặc thông qua người đại diện.
Nguyên tắc cơ bản phương pháp này là: Tất cả các hộ gia đình đều phải tham gia vào các cuộc họp thôn/bản/ấp do trưởng thôn tổ chức, trước khi cử đại diện tham dự hội thảo lập kế hoạch ở cấp xã. Các cuộc họp thôn và các cuộc họp lập kế hoạch cấp xã (có sự tham dự của đại diện các thôn) là thành phần đưa ra quyết định cao nhất đối với việc lập kế hoạch phát triển cấp xã. Phải có tối thiểu 30% phụ nữ tham gia trong tất cả các cuộc họp. Mọi chi tiêu tài chính và các thông tin liên quan phải minh bạch và công khai cho người dân. Riêng các cuộc họp của đồng bào dân tộc thiểu số phải sử dụng ngôn ngữ của đồng bào hoặc có phiên dịch cho những người không nói được tiếng Việt.
Ba là, tăng năng lực của cộng đồng thông qua tăng nội lực và giúp cộng đồng tự lực phát triển.
Các nguồn nội lực của cộng đồng cần được phát huy gồm:
– Nguồn nhân lực, gồm sức khoẻ, kiến thức, tay nghề, kinh nghiệm của những lao động chính trên địa bàn có ý nghĩa quyết định trong giải quyết tốt các vấn đề của cộng đồng.
– Tài nguyên thiên nhiên: Là nguồn lực phục vụ cho quá trình phát triển cộng đồng. Đây là một trong những tiền đề để phát triển bền vững thông qua việc sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên; chú ý đến việc trang bị kiến thức, kỹ thuật cho người dân, tìm kiếm và sử dụng nguồn tài nguyên mới có thể vừa phục vụ cho quá trình phát triển của cộng đồng vừa tạo ra tính bền vững như việc tìm kiếm và sử dụng nguồn nguyên liệu sạch từ: Gió, năng lượng mặt trời…
– Cơ sở vật chất, kỹ thuật và cơ sở hạ tầng: gồm hệ thống đường xá, cầu cống, các công trình…Một số cộng đồng với sự hỗ trợ kỹ thuật, kinh phí, vật chất của các tổ chức phát triển đã tự cải thiện được tình trạng xuống cấp và thiếu thốn về cơ sở hạ tầng, điển hình như tại các địa bàn thuộc Chương trình 135 và các huyện nghèo được hỗ trợ theo Nghị quyết 30a của Chính phủ đã được Nhà nước và các doanh nghiệp hỗ trợ xây dựng hệ thống: Điện – đường – trường – trạm là cơ sở để cộng đồng nghèo có thể tự vươn lên phát triển kinh tế, thoát nghèo.
– Tài chính: Để cộng đồng phát triển, ngoài những nhân tố quan trọng trên đây, việc tổ chức, huy động nguồn tài chính đáng kể được lập lên từ chính người dân trong cộng đồng đó có ý nghĩa hết sức quan trọng. Những thí dụ dụ điển hình trong thực tiễn được sử dụng khá hiệu quả là các nguồn tài chính vi mô hay quỹ tín dụng của các tổ chức đoàn thể như hội phụ nữ, hội cựu chiến binh, hội nông dân, đoàn thanh niên được huy động và thành lập trên cơ sở vốn góp của các hội viên, hỗ trợ nhau phát triển kinh tế đã mang lại hiệu quả thiết thực, giảm thiểu tình trạng cho vay nặng lãi và các vấn đề tiêu cực nảy sinh.
– Mối quan hệ xã hội, tức tính liên kết của cộng đồng gắn bó hay lỏng lẻo đều có ảnh hưởng lớn tới quá trình phát triển của cả cộng đồng. Việc chú ý phát huy mặt tích cực, hạn chế tiêu cực trong mối quan hệ xã hội tại cộng đồng là cần thiết. Khi các thành viên trong các nhóm quan tâm, giúp đỡ lẫn nhau, chia sẻ kinh nghiệm làm ăn, nuôi dạy con cái, cùng nhau xây dựng, sử dụng và bảo quản công trình cộng đồng… thì các nguồn lực nêu trên ngày càng được củng cố, mối quan hệ cộng đồng thêm chặt chẽ và bền vững hơn.
– Tận dụng tốt các chính sách hiện hành của Chính phủ trong hỗ trợ cộng đồng như: Chính sách đầu tư và phát triển kinh tế địa phương; chính sách xóa đói giảm nghèo; chính sách tăng cường dân chủ cơ sở…là nguồn lực vô cùng to lớn mà cộng đồng có thể phát huy để tập trung cho mục tiêu phát triển.
Ngoài ra, để tăng năng lực của cộng đồng, việc mở các lớp tập huấn, hướng dẫn kinh nghiệm làm ăn, huấn luyện kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng cây trồng, vật nuôi, kỹ thuật bảo quản và tiêu thụ sản phẩm, các buổi hội thảo tại thôn hay hội thảo đầu bờ… nhằm tăng cường trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm cũng như nâng cao kiến thức làm ăn có ý nghĩa rất quan trọng, giúp nâng cao năng lực, kỹ năng của người lãnh đạo cộng đồng và mỗi người dân trong việc lập kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn để có thể tự giải quyết các vấn đề còn tồn tại và phát sinh mới trong mỗi cộng đồng.
Và để giúp cộng đồng tự lực phát triển thì lãnh đạo cộng đồng (chính quyền xã, trưởng các thôn/bản) cần nhận thức rõ: sự giúp đỡ từ bên ngoài, của các cá nhân hay mỗi tổ chức xã hội chỉ là chất xúc tác, điều quan trọng là làm sao để bản thân người dân tại cộng đồng phát huy được các nguồn nội lực nêu trên. Nếu người dân không tự cố gắng vươn lên mà chỉ trông chờ, ỷ lại vào sự giúp đỡ của Nhà nước và của các cộng đồng khác thì vấn đề đói nghèo không thể được giải quyết một cách triệt để và bền vững được.
Nguồn: molisa.gov.vn

Điều đáng lo ngại trong nhiều gia đình hiện nay ở thành thị

Nguồn ảnh: diaocxaydung.vn

VNSW xin trân trọng giới thiệu bài viết “Điều đáng lo ngại trong nhiều gia đình hiện nay ở thành thị” của Trường Giang được đăng trên Nhà Quản lý.

Trong sự phát triển mạnh mẽ phong trào hiện đại hóa cuộc sống muôn mặt, toàn đất nước, nhất là khu vực thành phố, có nhiều biến đổi tích cực. Đó là một sự thật lớn ai cũng thấy rõ. Xong cũng lại có một sự thật khác xuất hiện làm không ít người lo ngại; đó là một số nhân tố truyền thống vốn có trong dân ta đang bị phá vỡ hoặc bào mòn nghiêm trọng.

1. Một số kỷ cương nền nếp gia phong đang bị mất dần

Ai đi dâu cả nhà chẳng hay, chuyện thưa báo của con cái cháu chắt đối với cha mẹ, ông bà không còn giữ vững như trước, mỗi khi đi về. Ý kiến của người già, người lớn trong gia đình không còn được coi trọng. Phong cách sống tự do quá trớn đang thao túng nhiều người, hình thành một nếp sống vô tổ chức, không ai bảo được ai.

Có một quan niệm đang chi phối lớp trẻ ở những gia đình giàu có là muốn thoát khỏi sự ràng buộc của bố mẹ và coi đó là cách tốt nhất để tự giải phóng mình, từ bỏ những ảnh hưởng của những tư tưởng lạc hậu, lỗi thời. Trong lúc đó, thì chúng vẫn tận hưởng những đồng tiền ưu ái của bố mẹ để sống thoải mái với người yêu, bạn bè. Ngay cả những gia đình không giàu, những cách sống phóng khoáng vượt ra ngoài những điều kiện cho phép. Buổi sáng, mỗi người điểm tâm một kiểu. Buổi trưa thì càng tùy tiện, ai nấy đều ăn tự do ở gần cơ quan mình hoặc gần nhà trường mình học. Buổi chiều may ra mới có khả năng ăn tập trung nhưng lại xảy ra hiện tượng về lỗ mỗ không cùng một lúc, phải ăn làm nhiều lần, thức ăn phải chia ba sẻ bốn, thật nhiêu khê, phiền toái. Muốn tổ chức một buổi sinh hoạt tập trung toàn gia đình lớn thật rất khó. Nhiều lúc muốn trao đổi giải quyết một vấn đề chung lại phải giải quyết bằng điện thoại di động với từng người.

Những cuộc cãi cọ giữa bố mẹ với con cái, giữa anh chị em với nhau thường diễn ra gay gắt. Lớp trẻ hay cho mình mới thức thời, nắm thời cuộc còn người nhiều tuổi là cũ kỹ, bảo thủ nên có thái độ xấc xược căng thẳng, không giữ được tôn ti trật tự. Người già ở thành thị thường được chăm sóc chu đáo hơn về vật chất nhưng đa số thường vẫn cảm thấy cô đơn lạnh lẽo, vẫn thấy tủi thân, luôn không hài lòng. Khái niệm về mái ấm gia đình đang bị mờ dần.

Việc yêu thương và kết hôn bây giờ dĩ nhiên là tự do hơn, nhưng điều đáng nói là quá thoáng, bất chấp mọi định hướng chỉ giáo của cha mẹ, bất chấp cả mọi tiêu chí thông thường. Họ yêu nhau, lấy nhau dễ dàng và do đó cũng ly thân, ly dị dễ dàng.

Cuộc sống tự do đã làm cho quy mô từng hộ gia đình bé lại. Nhiều người thích sống riêng, ở riêng. Quy mô sống chung gia đình ba, bốn thế hệ ít dần; cấu trúc nhỏ hơn nhưng lại lỏng lẻo hơn, thiếu sự bền chặt cần thiết.

2. Học tập, đọc sách kém đi; giải trí quá nhiều; lao động lười biếng

Từ ngày có máy vi tính và công nghệ thông tin, cuộc sống tinh thần của người dân, nhất là thanh thiếu niên được nâng cao hẳn. Song không ít trong lớp trẻ đã không tận dụng hết mọi ưu thế của nó mà bị các hình thức giải trí kéo sa đà tạo nên nhiều hậu quả tai hại. Ngay cả truyền hình, video cũng vậy, nhiều em đã bị mặt trái của nó quật lại.

Các trò chơi thể thao như bóng đá, bóng chuyền, cầu lông… nhưng nhiều em đã không dừng lại đúng mức để cho nó tiêu hoa hết thời gian, sức lực làm ảnh hưởng xấu, rất xấu đến kết quả học tập, đọc sách, nghiên cứu trong thanh thiếu niên giao đoạn này sa sút hẳn.

Đã có một tờ báo kêu lên: “Hãy cứu văn hóa đọc”. Đã có một cuộc điều tra ở một khu tập thể về tình trạng đọc sách và tự học của lứa tuổi từ 15 đến hết 18 trong một tháng: 98% không đọc một cuốn sách nào, 70% không học và làm hết bài tập.

Còn về mặt lao động thì thật thảm hại. Thanh thiếu niên ở thành phố, nhất là con nhà tương đối khá giả trở lên thì hầu như không ưa và không biết lao động. Mọi thứ lao động chân tay, lao động kỹ thuật trong cuộc sống gia đình đều được bao thầu.

Hệ thống các công ty, các nhà hàng dịch vụ, hệ thống lao động tự do đã phát triển nhanh chóng chưa từng thấy. Có tiền là có hết, là mọi việc sẽ được hoàn tất. Ở trong nhà thì đã có Osin làm đủ mọi việc. Ngay khi đang ngồi ăn, cần cái gì, đôi đũa hay cái thìa, cũng đã có người lấy giúp, không cần phải tự mình đứng dậy. Các em không có việc gì để làm. Do đó, các em ngại lao động, ngại khó, ngại khổ, hầu hết trở thành cô chiêu cậu ấm là điều dễ hiểu.

3. Hoang phí, khái niệm tiết kiệm ít được nhắc tới.

Do điều kiện sống được nâng cao, mức thu nhập của nhiều hộ gia đình ở thành thị tăng lên rõ rệt, nhưng việc giáo dục ý thức tiết kiệm và văn hóa tiêu tiền thì lại thiếu quan tâm nên để xảy ra tình trạng lãng phí nặng nề, tiêu tiền xả láng.

Áo quần và những đồ dùng khác hơi cũ, hơi lạc mốt là liền thải ra, chất đống. Thấy cái gì mới hay là mua, bất chấp giá cả. Nhiều vật dụng thừa thãi, lắm thứ cùng một chức năng. Thức ăn ngày nào cũng để thừa bứa, phải đổ đi.

Không chỉ ở lớp trẻ mà cả ở những thành phần trung niên trong nhà cũng mắc bênh hoang phí, kể cả hoang phí về thời gian. Thời giờ chơi bời của họ thường nối liền sau lúc đi làm, đi họp hoặc đi học nên thời gian vắng nhà của họ là dài dằng dặc. Hiện tượng đi chơi lang thang, nhậu nhẹt lai rai, nồi tập trung tán ngẫu cứ diễn ra triền miên. Đường phố, siêu thị, các cửa hàng, CLB, sân vận động, công viên, rạp hát, vũ trường là nơi tụ hội của họ. Nhiều khi chẳng có chuyện gì để nói, trò gì để chơi họ cũng đến với nhau. Phong cách sống thoải mái về thời gian như thế trở thành thói quen, kéo dài cho đến khi đã có gia đình, đã làm bố, làm mẹ, đã là ông chủ lớn, đã có cả một gia thất. Thời gian trôi đi không bao giờ trở lại, lãng phí thời gian là lãng phí tuyệt đối.

Từ cuộc sống hoang phí, không kiểm soát được việc tiêu tiền, không kiểm soát được thời gian buộc lòng những người chủ chốt lo việc kiếm tiền phải kiếm cho được tiền ngày càng nhiều với bất cứ cách nào, lúc nào. Từ đó sinh ra nhiều điều phức tạp xảy ra đối với an ninh xã hội, với phẩm cách con người, với hạnh phúc bền vững của gia đình.

Thực trạng trên đã làm cho những người có lương tri lo lắng, đáng báo động. Song cũng có không ít người tỏ thái độ mặc kệ nó hơi đâu mà lo, cuộc sống sẽ tự điều chỉnh.

Nếu không có kế hoạch toàn dân, kiềm chế và xóa bỏ mặt trái của sự phát triển nảy sinh thì bánh xe tiến hóa của lịch sử chậm lại, ta không thể làm chủ được tương lai.