Chương 6 Công tác xã hội: Lý thuyết và thực hành

VNSW xin trân trọng giới thiệu Chương 6 với tiêu đề Khách hàng, trong Tập tài liệu Công tác xã hội: Lý thuyết và thực hành của tác giả Trần Đình Tuấn, ĐH San Jose, Hoa Kỳ:

Nội dung:[table-of-content]Đối tượng của nhân viên CTXH là khách hàng. Khách hàng có thể là cá nhân, gia đình, nhóm, hay cộng đồng. Mục tiêu của khách hàng là đạt được một thay đổi tốt đẹp hơn cho cuộc sống. Thay đổi có thể là thay đổi của bản thân khách hàng hoặc thay đổi của những người chung quanh, hoặc của môi trường, hoặc của tất cả các thành phần này. Thí dụ khách hàng là một người chồng bạo hành, nhân viên CTXH có thể không những chú trọng giúp khách hàng này học cách đối xử, giải quyết mâu thuẫn một cách ôn hoà trong gia đình, mà còn giúp các thành viên trong gia đình (vợ con) cách ứng xử thích hợp, và giúp toàn thể cộng đồng có thái độ xử lý nghiêm khắc, dứt khoát, không khoan nhượng với hành vi bạo hành.

Khách hàng đến với nhân viên CTXH trong những hoàn cảnh khác nhau: tự ý, do người quen giới thiệu, do bị bắt buộc; và có thể có những mục đích khác nhau:

–     Để bản thân được giúp đỡ.

–     Để người khác được giúp đỡ, thí dụ con cái hư hỏng hay vợ/chồng nghiện ngập.

–     Không muốn được giúp đỡ nhưng bị xã hội bắt buộc vì đã làm hại người khác, thí dụ chỉ biết đánh đập, không biết cách dạy dỗ con cái một cách ôn hoà và hữu hiệu, bị toà án bắt buộc đi học lớp nghệ thuật làm cha mẹ.

–     Muốn được giúp đỡ để tránh bị hậu quả tiêu cực, thí dụ đi cố vấn tâm lý hoặc tham gia chương trình cai rượu hoặc ma túy để được toà cho phép thăm con.

–     Mục đích không chính đáng, thí dụ luôn luôn được con cái nghe lời. Đây là một ước vọng sai trái của nhiều phụ huynh Á châu, chỉ muốn làm thế nào để biến con cái thành lũ con chiên ngoan ngoãn, không biết tự suy nghĩ, không chú trọng đào luyện tinh thần tự lập, không lệ thuộc vào những khuôn khổ có sẵn, và vì vậy khi ra đời không thể phát triển được đến mức cao nhất của khả năng.

Cho dù đến trong hoàn cảnh nào, với bất cứ mục đích nào, khách hàng luôn luôn là một cá nhân độc đáo, có cá tính, tâm lý, quá khứ, mối quan tâm, nỗi lo sợ, nhu cầu… riêng biệt mà nhân viên CTXH phải tìm hiểu. Mặc dù trong những môi trường CTXH khác nhau, có thể có những từ ngữ khác nhau để chỉ khách hàng (thí dụ ở bệnh viện khách hàng là bệnh nhân, ở trường học là học sinh hay sinh viên). Quan hệ làm việc giữa nhân viên CTXH và khách hàng không phải là quan hệ thứ bậc mà là quan hệ bình đẳng, hợp tác giữa hai chuyên viên. Nhân viên CTXH là chuyên viên CTXH, và khách hàng là chuyên viên về tất cả những gì liên quan đến cuộc đời của cá nhân họ. Qua quá trình làm việc với nhân viên CTXH, khách hàng sẽ có thêm những kiến thức và nghiệm mới và sẽ trở thành chuyên viên giỏi hơn nữa về cuộc đời của bản thân.

Do nhiều yếu tố, trong đó có tự ái, sợ mọi người biết vấn nạn của mình, không biết về các tài nguyên hữu ích trong cộng đồng, không tin người khác có khả năng giúp mình, những người có vấn nạn không chịu trở thành khách hàng một cách dễ dàng. Để trở thành khách hàng, người có vấn nạn phải trải qua quá trình sau:

–     Nhận ra mình có vấn nạn.

–     Nhận ra mình không thể dấu mãi vấn nạn không cho mọi người chung quanh biết.

–     Có khả năng nhìn nhận không thể tự mình giải quyết vấn nạn.

–     Chấp nhận vai trò khiêm nhu của người cần và muốn được giúp đỡ.

–     Chấp nhận thử những tài nguyên mới, giải pháp mới.

–     Chấp nhận đầu tư thì giờ, năng lực, tài nguyên cá nhân vào việc giải quyết vấn nạn.

1. Tính Cách Độc Đáo Của Khách Hàng

Mỗi khách hàng là một cá nhân với những cá tính, gốc gác văn hóa, tôn giáo, học vấn… riêng biệt. Đặt trong hoàn cảnh sống (gia đình, cộng đồng…) mỗi khách hàng còn trở thành độc đáo hơn, không người nào giống người nào, và vì vậy mọi chụp mũ, dán nhãn dựa trên thành kiến đều là những sai lầm mà nhân viên CTXH phải luôn luôn cảnh giác (thí dụ da đen lười biếng, da trắng kỳ thị, người kinh lọc lừa…)  Để hiểu khách hàng, nhân viên CTXH phải thu thập và phân tích những dữ kiện thuộc các lĩnh vực sức khỏe, học vấn, tuổi tác, nghề nghiệp, chức vụ, tôn giáo, tính dục, hoàn cảnh gia đình, kinh nghiệm đã trải qua từ nhỏ tới hiện tại, lối sống, hệ thống đạo đức và giá trị cá nhân, nhu cầu, ưu và khuyết điểm, vai trò (chồng, vợ, cha, mẹ, con…) trong gia đình và xã hội và mức độ thành công, thất bại, hài lòng hay bất mãn với vai trò của bản thân… gọi là lịch sử tâm lý xã hội/psycho-social history của khách hàng. Kỹ thuật “cây gia đình”/genogram cũng được dùng để tìm hiểu các mối liên hệ gia đình trong ít nhất ba thế hệ. Kế hoạch giúp đỡ xây dựng từ lịch sử tâm lý xã hội độc đáo và những ưu điểm của khách hàng sẽ dễ thành công hơn gấp nhiều lần dựa trên lý luận một chiều của nhân viên CTXH, hoặc dựa trên những khuyết điểm của khách hàng.

Tính cách đa dạng của xã hội loài người: trong xã hội phức tạp của loài người, có rất nhiều chủng tộc, cộng đồng, nhóm, tôn giáo, văn hóa, tiếng nói khác nhau. Đối với CTXH, hiểu biết về các nhóm thiểu số, bị kỳ thị hay đối xử bất công, là điều hết sức quan trọng. Thí dụ người tật nguyền. Đây là thiểu số bị đối xử bất bình đẳng trong mọi xã hội. Ở Mỹ, Luật Người Mỹ Tật Nguyền/American With Disabilities Act năm 1990 là một tiến bộ đáng kể trong việc xóa bỏ đối xử bất bình đẳng đối với người tàn tật. Nhờ luật này, tất cả các kiến trúc có công chúng lui tới (chung cư, tiệm ăn, rạp hát, cơ xưởng, công tư sở, trường học, nhà thương…) và tất cả các vỉa hè đều phải xây dựng để người sử dụng xe lăn có thể đi lại khắp nơi như người bình thường. Công ty xe buýt phải có một tỷ lệ xe có gắn bộ phận nâng, hạ xe lăn để người dùng xe lăn có thể đi xe buýt như người thường, trong xe phải có chỗ gần cửa dành riêng cho xe lăn với hệ thống đai móc an toàn riêng cho xe lăn. Các ngã tư đường nơi có người mù qua lại phải có gắn thiết bị âm thanh để người mù bấm khởi động, nghe được và biết khi nào có thể qua đường một cách an toàn. Các cơ quan hãng xưởng công cũng như tư đều bị cấm không được kỳ thị người khuyết tật trong chính sách thuê mướn nhân công. Các hãng điện thoại phải cung cấp điện thoại và dịch vụ viễn thông cho người điếc. Mặc dù vậy, tư tưởng kỳ thị có từ thượng cổ đối với người khuyết tật vẫn không thể xóa bỏ và trong thực tế nạn kỳ thị vẫn xảy ra. Đối với những nước phát triển sau như Việt Nam, tất nhiên người khuyết tật còn chịu nhiều đối xử bất bình đẳng mà nhân viên CTXH phải thấu triệt để giúp khách hàng một cách hiệu quả đồng thời vận động xóa bỏ dần dần những đối xử bất bình đẳng đối với người khuyết tật trong xã hội.

Phụ nữ, trẻ em, và người già cũng có thể là nạn nhân của đối xử bất bình đẳng.

Một thí dụ khác về cộng đồng thiểu số bị kỳ thị là cộng đồng đồng tính luyến ái. Người ta thường dựa vào những thành kiến đạo đức hay tôn giáo để biện minh cho hành vi kỳ thị này. Thí dụ: người đồng tính đã tự ý chọn lối sống đồng tính, hoặc đồng tính là tội lỗi, do quỷ Sa tăng gây ra… Mặc dù khoa học ngày nay đã phát hiện sự phức tạp của tính dục con người (không phải chỉ có đồng tính/homosexuality và dị tính/ heterosexuality, mà còn song tính/by-sexualility, hoán tính/transgender…) và sự quan trọng của các yếu tố sinh lý bẩm sinh, nạn kỳ thị người đồng tính vẫn còn rất nặng nề ở khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là ở Trung Đông và Âu Mỹ, nơi thỉnh thoảng vẫn còn xảy ra những vụ sát hại người đồng tính. Vụ thảm sát man rợ Matthew Sheppard ở Wyoming năm 1998 làm chấn động nước Mỹ là một bằng chúng điển hình cho tệ nạn này:

Đêm 7-10-1998, Matthew Sheppard, 21 tuổi, sinh viên khoa chính trị đại học bang Wyoming gặp Mc Kinney và Henderson ở một quán rượu phục vụ khách hàng đồng tính. Mc Kinney và Henderson giả vờ là người đồng tính và dụ chở Sheppard đi chơi. Khi lái xe đến một quãng đồng vắng, Mc Kinney và Henderson dùng súng đập nát đầu và mặt Sheppard rồi trói Sheppard lên hàng rào bên đường trước khi bỏ trốn. Mười tám giờ sau một người đi xe đạp ngang mới phát hiện Sheppard (mới đầu người này tưởng Sheppard là một người nộm bồ nhìn). Rạng sáng ngày 12-10-1998, không hề hồi tỉnh, Sheppard trút hơi thở cuối cùng ở bệnh viện Poudre Valley, Fort Collins, Colorado. Trong phiên xử Mc Kinney và Henderson, hai bạn gái của các hung thủ đã chứng nhận họ có kế hoạch “cướp một tên đồng tính”. Kết quả toà đã xử Henderson hai lần án chung thân và Mc Kinney hai lần án chung thân không được ân xá. Sau thảm kịch này đã có nỗ lực đưa thêm tính dục, phái tính, và tật nguyền vào luật liên bang chống tội ác do kỳ thị/hate crime tại Mỹ, tuy nhiên do chống đối mạnh mẽ của phe bảo thủ, nỗ lực này đã nhiều lần thất bại. Tổng thống thứ 44 của Mỹ Barack Obama đã tuyên bố, trong thời gian tranh cử, sẽ hỗ trợ điều luật bổ sung này. Đáng chú ý là trong số 29 quốc gia có luật chống tội ác do kỳ thị, đã có bảy nước bao gồm tội ác chống người đồng tính vì lý do đồng tính vào tội ác này, (Andorra, Bỉ, Canada, Anh và xứ Wales, Pháp, Iceland, và Tây ban nha).

Điều nghiêm trọng đối với nạn kỳ thị người đồng tính là họ thường bị kỳ thị ngay từ trong môi trường gia đình là môi trường gần gũi và quan trọng nhất trong đời sống. Trong các nhóm bị kỳ thị khác, sự hỗ trợ và thương yêu trong gia đình có thể tạo nên sức mạnh giúp nạn nhân chống đỡ được kỳ thị của xã hội. Thí dụ: nếu một đứa bé bị tật nguyền từ bẩm sinh, được gia đình thương yêu, bảo vệ, và dạy cho biết nó là một con người độc đáo, có những khả năng và hạn chế riêng như mọi người khác, nó không có lỗi gì trong tật nguyền của nó, và nếu cố gắng đúng mức, nó cũng có thể thành công, được kính trọng, thương yêu như bất cứ ai, đứa trẻ đó sẽ có tự tin và phần nào chống đỡ được kỳ thị của xã hội bên ngoài. Phần đông người đồng tính không có được sự hỗ trợ giúp đỡ của gia đình. Tệ hơn nữa, do ảnh hưởng áp đảo của văn hóa và tôn giáo, chính bản thân nhiều người đồng tính cũng kinh sợ và tìm hết cách che dấu dục vọng đồng tính tự nhiên của họ bằng cách cố gắng bắt chước lối sống của số đông: lấy chồng, lấy vợ, để tạo thành cảnh gia đình bình thường như những người khác.

Nhân viên CTXH phải có khả năng hiểu và tôn trọng khách hàng bất kể khách hàng là ai, thuộc thành phần nào, nhóm nào trong xã hội, và sẵn sàng tranh đấu để xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với bất cứ ai trong xã hội.

2. Động Lực, Khả Năng, và Cơ Hội

Động lực/motivation là điều khách hàng cần đạt được. Điều đó thúc đẩy khách hàng có hành động để thay đổi hiện trạng.

Khả năng bao gồm khả năng vật chất (sức khỏe, tuổi tác…); khả năng tạo và duy trì mối quan hệ hợp tác với những người giúp đỡ; và khả năng trí tuệ để có thể tham dự vào những công việc dẫn đến sự thay đổi.

Cơ hội có hai phần: cá nhân và môi trường. Cá nhân khách hàng sẵn sàng các có điều kiện vật chất và tinh thần để thay đổi hay chưa. Thí dụ một người nghiện cờ bạc dù đã tán gia bại sản, dù thân nhân đã hết sức khuyên can, cũng không có cơ hội khi người đó vẫn nghĩ vận xui sẽ qua và sẽ gỡ lại được số tiền đã nướng vào sòng bài. Cơ hội môi trường là sự hiện hữu của những tài nguyên vật chất và tinh thần trong gia đình và cộng đồng. Thí dụ người phụ nữ là nạn nhân của bạo hành trong gia đình, dù bạo hành có tàn nhẫn và kéo dài bao lâu đi nữa cũng không có cơ hội thoát ra được khi xã hội vẫn chưa có thái độ dứt khoát, khi các nhà lãnh đạo tinh thần vẫn không cho phép ly dị, khi trên truyền hình các cố vấn tâm lý vẫn cổ vũ “đạo đức văn hóa gia đình Việt Nam” “công dung ngôn hạnh” “kiên nhẫn để duy trì mái ấm gia đình cho con cái”…

Nhân viên CTXH có thể giữ một vai trò quan trọng trong cả ba lĩnh vực động lực, khả năng và cơ hội của khách hàng: làm cho khách hàng có được mục tiêu rõ ràng, nâng cao khả năng, và nắm bắt cơ hội. Kỹ năng quan trọng nhân viên CTXH áp dụng là kỹ năng tạo dựng và làm tăng thêm năng lực, tri thức, và niềm tự tin cho khách hàng/empower. Kỹ năng này bao gồm cách đối xử với khách hàng một cách thật thà, thẳng thắn, không giả dối, không cường điệu; luôn luôn tôn trọng khách hàng; giúp khách hàng nhìn nhận khuyết điểm nhưng hướng trọng tâm vào ưu điểm; cùng với khách hàng xây dựng kế hoạch hành động dựa trên ưu điểm.

3. Tiềm Năng Của Khách Hàng

Trong quá khứ, CTXH chú trọng vào vấn nạn và những khiếm khuyết của khách hàng, cách tiếp cận này đưa đến quan hệ bất bình đẳng giữa người làm và khách hàng, và không tạo được tinh thần cũng như cố gắng tự lập của khách hàng. Phương pháp CTXH mới chú trọng vào ưu điểm và tiềm năng của khách hàng, trong đó quan hệ giữa người làm và khách hàng là quan hệ hợp tác bình đẳng để cùng thăm dò những giải pháp mà khách hàng có quyền tùy ý chọn lựa. Tiềm năng ở đây bao gồm tiềm năng của cá nhân khách hàng (thí dụ, trí tuệ, sức khỏe, tiền bạc, thì giờ, quyết tâm…) và tiềm năng của môi trường (hỗ trợ về tinh thần và vật chất của gia đình, các tài nguyên có sẵn trong cộng đồng). [/table-of-content]

Advertisements

Chương 5 Công tác xã hội: Lý thuyết và thực hành

VNSW xin trân trọng giới thiệu Chương 5 với tiêu đề Nhân viên công tác xã hội, trong Tập tài liệu Công tác xã hội: Lý thuyết và thực hành của tác giả Trần Đình Tuấn, ĐH San Jose, Hoa Kỳ:

Nhìn chung, CTXH có những nhiệm vụ cơ bản sau: Phục hồi tiềm năng sẵn có hoặc chức năng đã bị thương tổn của khách hàng; Nối kết khách hàng với tài nguyên trong xã hội; Phòng ngừa xảy ra vấn nạn cho cá nhân và xã hội; Đóng góp vào sự hình thành và cải tiến các chính sách xã hội. Từ những nhiệm vụ cơ bản này CTXH nhắm đạt được những mục tiêu kể sau:

– Giúp khách hàng nâng cao khả năng ứng phó và tự giải quyết vấn nạn của mình (thí dụ giúp người nghèo có cơ hội học nghề để không phải đi ăn xin hay làm những chuyện phi pháp) .

– Tạo ra cầu nối giữa khách hàng và tài nguyên xã hội (gởi cụ già không nơi nương tựa đến nhà dưỡng lão).

– Giúp tạo ra và nâng cao quan hệ qua lại giữa cá nhân và xã hội, trong đó có tài nguyên xã hội (vận động thiết lập và giới thiệu các tổ chức, các hoạt đông tôn giáo, văn hóa, xã hội, sức khỏe… của người cao tuổi trong cộng đồng và khuyến khích khách hàng cao tuổi tham gia).

– Phát hiện những vấn nạn xã hội, đóng góp vào việc tạo ra chính sách mới để giải quyết vấn nạn đó, hoặc tu chỉnh những chính sách xã hội đang có sẵn (thí dụ vận đông với chính quyền thành phố, tỉnh, hay quốc gia để có những chính sách xã hội đáp ứng nhu cầu nào đó của một hay nhiều thành phần trong xã hội như chính sách cấm kỳ thị người vì lý do tính dục, chính sách buộc các kiến trúc gia cư tập thể và kiến trúc có quần chúng lui tới phải có lối đi riêng cho người sử dụng xe lăn…)

– Phân phối tài nguyên vật chất của xã hội: vận động để chính quyền các cấp dành ngân khoản xứng đáng hàng năm cho các nhu cầu của người nghèo trong xã hội.

– Giữ vai trò an toàn xã hội khi cần thiết, thí dụ thông báo cho thân nhân khi khách hàng có ý định tự tử; gởi khách hàng vào bệnh viện tâm thần nếu có khả năng thực hiện ý định tự tử; hoặc các biện pháp can thiệp trong trường hợp bạo hành, lạm dụng, ngược đãi hay loạn luân để ngăn ngừa tái phạm và bảo vệ những nạn nhân trong gia đình.

Một cách tổng quát, nhiệm vụ của CTXH là nhằm phục vụ mối an sinh của con người trong xã hội. Mối an sinh này dựa trên ba thừa nhận sau đây: (1) Tính cách quan trọng của mỗi cá nhân, mỗi gia đình, mỗi nhóm, mỗi tổ chức, đoàn thể, và cộng đồng trong xã hội, bất kể giàu nghèo, sang, hèn, chủng tộc, địa vị, tôn giáo, văn hóa, tính dục. (2) Do những nguyên nhân nội tại cũng như ngoại lai, luôn luôn có vấn nạn xảy ra cho cá nhân, cho gia đình, và cho các thành phần nhóm khác của xã hội. (3) Tìm giải pháp cho những vấn nạn này là điều cần thiết trong một xã hội có tổ chức cao.

CTXH có nhiệm vụ giải quyết những vấn nạn xã hội để con người bớt khổ đau và có thể phát triển đến mức cao nhất những tiềm năng của mình. Vấn nạn xã hội là những tình trạng gây ra các phản ứng vi phạm vào giá trị nhân phẩm, tạo ra khổ đau về tinh thần hay vật chất cho con người (Barker 1995). Thí dụ: nạn trộm cướp, nghiện ngập, kỳ thị, bất công, cửa quyền, tham ô. Merton (1961) còn chỉ ra yếu tố chính của vấn nạn xã hội là sự chênh lệch giữa lý tưởng do xã hội nhắm tới và thực trạng của xã hội đó. Thí dụ nạn nghèo đói luôn luôn là vấn nạn của tất cả các xã hội, các quốc gia, vì ấm no và hạnh phúc cho mọi thành phần trong xã hội là lý tưởng chung chưa bao giờ đạt được của nhân loại. (Phần Lan, nước giàu và có tổ chức an sinh xã hội là khuôn mẫu cho thế giới gần như đã đạt được ấm no cho toàn dân, nhưng tỷ lệ chán đời tự tử lại cao nhất thế giới). Vấn nạn xã hội xảy ra khi tổ chức xã hội không có tài nguyên hoặc có nhưng không đủ để giải quyết những nhu cầu chính đáng của con người sống trong xã  hội đó. Thí dụ xảy ra phổ biến nạn đánh đập con cái vì xã hội không cung cấp đủ lớp học nghệ thuật làm cha mẹ. Thí dụ khác: khác hẳn người Singapore, Mã Lai, Đài Loan, Hàn quốc, Thái Lan, Úc, Âu, Mỹ… người Việt Nam đến thế kỷ 21 vẫn không biết xếp hàng và vẫn xả rác bừa bãi vì xã hội chỉ có biện pháp vận động, giáo dục chung chung mà chưa bao giờ có biện pháp cưỡng chế rốt ráo đi kèm. (Ở các nước phát triển trước, người ta trừ được thói quen xả rác bừa bãi bằng biện pháp trừng phạt nặng nề, thí dụ ở California có thành phố quy định tiền phạt hơn 1000 mỹ kim cho tội xả rác ngoài công lộ. Ở Singapore tội xả rác còn bị trừng phạt nghiêm ngặt hơn). Tổ chức xã hội ở Việt Nam có khả năng làm được những thay đổi rất lớn và rất khó như đội mũ bảo hiểm, không đốt pháo trong dịp lễ tết… tại sao không tập được cho người dân hai thói quen cơ bản của nếp sống văn minh là xếp hàng và không xả rác nơi công cộng?  Đây nên là suy nghĩ của tất cả mọi người Việt Nam, đặc biệt là những sinh viên và nhân viên CTXH. Chắc chắn một ngày kia chúng ta sẽ có một nhân viên CTXH Việt Nam kiên trì vận động để huy động được quyết tâm và năng lực của chính quyền và toàn dân vào công việc biến nước Việt Nam thành một quốc gia sạch đẹp không kém các nước láng giềng chung quanh, và toàn dân Việt Nam biết xếp hàng như các dân tộc văn minh khác trên thế giới.

Vấn nạn xã hội có thể là vấn nạn của cá nhân, thí dụ thất nghiệp, hành hạ, đánh đập vợ con, bệnh tật, nghiện hút, phạm pháp. Vấn nạn xã hội cũng có thể là vấn nạn của nhiều người thí dụ nạn thất nghiệp hàng loạt do kinh tế suy thoái; trộm cướp nhiều gây ra mất an ninh; hoặc thiên tai, bão lụt, hạn hán…

Để chu toàn trách nhiệm giải quyết các vấn nạn xã hội, tạo điều kiện sống bình an cho cá nhân và thăng tiến cho xã hội, CTXH nhắm: (1) Tăng cường chức năng của các thành phần trong xã hội và sự giao lưu giữa các thành phần đó với nhau. (2) Vận dụng những tài nguyên có sẵn trong xã hội hoặc góp phần thúc đẩy sự hình thành những tài nguyên mới để đáp ứng nhu cầu của xã hội. (3) Giúp phục hồi tiềm năng của cá nhân để họ có thể tự thăng tiến đến mức cao nhất mà họ có thể đạt được, nghĩa là đạt đến viên mãn/self actualization.

Viên mãn, theo Abraham Maslow, là tầng cao nhất trong 5 tầng nhu cầu của con người (vật chất, an ninh, tình cảm, tự tin, và viên mãn). Sự thỏa mãn những nhu cầu ở tầng thấp là tiền đề cho sự thỏa mãn ở tầng cao hơn. Thí dụ của Maslow: người đang khát nước mà bị thiếu oxygen thì quên khát nước ngay lập tức. Con người chỉ đạt được viên mãn khi các nhu cầu thấp hơn đã được thỏa mãn, và ở trạng thái này người ta có khả năng chấp nhận thực tế, không chối bỏ sự thật, chấp nhận bản thân và mọi người, không có thành kiến, yêu mình, yêu người, và nhìn đời bằng nhãn quan vui tươi, dí dỏm.

Thang nhu cầu Maslow:

5: Vật chất (ăn, uống, nhà ở, tình dục…)

4: An ninh (cơ thể, việc làm, sức khỏe, gia đình…)

3: Tâm lý (thân nhân, bạn bè…)

2: Tự tin (tôn trọng người và được người tôn trọng…)

1: Viên mãn (đạo đức, sáng tạo, chấp nhận thực tế  không còn bị ràng buộc bởi những khuôn sáo, hoàn toàn tự chủ, yêu đời…)

Để hoàn thành nhiệm vụ của mình, nhân viên CTXH cần những kỹ năng riêng biệt.

Nhân viên CTXH là một tác nhân thay đổi/change agent. Dù làm việc với cá nhân, hay gia đình, nhóm, hay cộng đồng, mục tiêu của nhân viên CTXH luôn luôn là sự thay đổi từ trạng thái xấu đến trạng thái tốt hơn cho khách hàng. Để đạt được mục tiêu này, nhân viên CTXH phải có kiến thức, kỹ năng và đạo đức nghề nghiệp. Johnson và Yanca (2004) mô tả vai trò của nhân viên CTXH qua năm khía cạnh sau:

I. BIẾT MÌNH

Dụng cụ mạnh nhất mà nhân viên CTXH có được là bản thân mình/the Self, tuy nhiên, cũng như đối với tất cả các loại dụng cụ khác, muốn đạt hiệu quả, người sử dụng phải hiểu nó cặn kẽ. Do biết rõ về mình, nhân viên CTXH hiểu được sự khác biệt giữa khách hàng và mình, giữa nhu cầu, mối quan tâm của mình và nhu cầu, mối quan tâm của khách hàng, nhờ vậy có thể giúp khách hàng tìm được những giải pháp phù hợp nhất với hoàn cảnh và quyền lợi của họ. Một trong những lỗi lầm thông thường của những người hảo tâm khi giúp đỡ người khác là áp đặt những giải pháp họ nghĩ là tốt (theo nhu cầu, mối quan tâm, giá trị luân lý, đạo đức, văn hóa, tôn giáo của cá nhân họ) cho người họ muốn giúp. Đây là lý do làm người ta tin phần lớn những bất hạnh của nhân loại đều gây ra bởi những hảo tâm!  Thí dụ: có cha mẹ nào đánh đập con cái không phải vì thương con?  Nhà độc tài Pol Pot từng gây ra tội ác tự diệt chủng chưa từng có trong lịch sử nhân loại, trước khi chết còn tuyên bố “lương tâm trong sáng không có gì phải hối tiếc”!

Để tránh lỗi lầm rất phổ thông kể trên, nhân viên CTXH cần hiểu rõ khách hàng và bản thân mình. Có hai cách để nhân viên CTXH hiểu mình: học hỏi kiến thức của các khoa học về ứng xử của con người như tâm lý học, xã hội học, nhân chủng học… và lắng nghe nhận xét của những người chung quanh (thân nhân, bạn bè, đồng nghiệp, kể cả những người không có thiện cảm đối với mình) về cách ứng xử, suy nghĩ và hành động của mình. Một trong những đặc tính chung của con người là hiểu rất rõ ưu điểm của mình và khuyết điểm của người khác (thánh kinh Thiên Chúa giáo đã chép cái dầm nhỏ xíu trong mắt người khác ai cũng thấy rõ, còn cái xà khổng lồ trong mắt mình thì chẳng ai thấy). Nhân viên CTXH cần luôn ý thức đặc tính này, chấp nhận sự kiện mình khó có thể hiểu biết cặn kẽ khuyết điểm của bản thân mình bằng những người chung quanh, và đón nhận phê bình của mọi người như những bài học quý giá, những cơ hội thăng tiến cho bản thân.

Kiến thức về ứng xử của con người sẽ giúp nhân viên CTXH chú ý đến những điểm sau :

1. Ứng xử của con người là kết quả tác động qua lại của cảm xúc, suy nghĩ và hành động

Qua ngũ giác, con người có được những cảm xúc, những cảm xúc này dẫn đến ý nghĩ, và ý nghĩ đưa đến hành động. Ngược lại, hành động có thể tạo ra cho con người những cảm xúc mới, ý nghĩ mới, dẫn đến hành động mới. Rất nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến cách con người cảm xúc, suy nghĩ và hành động: văn hóa, tôn giáo, sức khỏe, trình độ hiểu biết, kinh nghiệm sống, điều kiện vật chất (giàu nghèo)… Thí dụ một tín đồ tôn giáo thuần thành có thể tội nghiệp cho người đồng tính vì lối sống của họ bị coi là “tội lỗi”. Suy nghĩ này sẽ dẫn đến cách cư xử khác với cư xử của một nhân viên CTXH chuyên nghiệp vốn được huấn luyện để chế ngự thành kiến, tôn trọng khách hàng, không thương và không ghét (thương và ghét đều là những tà kiến ngăn cản nhân viên CTXH hoàn thành đúng đắn công việc của mình). Hiểu biết về những ứng xử khác nhau do ảnh hưởng của nhiều yếu tố, nhân viên CTXH hiểu được sự khác biệt giữa mình và khách hàng, tránh được những phán xét một chiều, tạo được mối quan hệ tích cực và vì vậy giúp được khách hàng.

2. Đạo đức và hệ thống giá trị

Đạo đức là cái giúp người ta phân biệt hành động đúng sai, thí dụ:  làm ăn dối trá, lọc lừa để làm giàu là sai; làm ăn lương thiện, tạo ra sản phẩm hay dịch vụ tốt cho khách hàng là đúng. Hệ thống giá trị là những điều người ta trân trọng và muốn đạt được, thí dụ chung thủy, thật thà, cần mẫn… Cũng như cách suy nghĩ, ứng xử của con người, các yếu tố văn hóa, tôn giáo, hoàn cảnh cá nhân làm cho người ta có những tiêu chuẩn đạo đức và hệ thống giá trị khác nhau. Thí dụ tiêu chuẩn đạo đức và hệ thống giá trị của một người không nhà, nghiện hút, sống ở gầm cầu, sẽ khác với tiêu chuẩn đạo đức và hệ thống giá trị của một người có gia đình, nhà ở và công ăn việc làm ổn định.

3. Gia đình và gốc rễ văn hóa

Mỗi người có một gốc gác gia đình và văn hóa riêng. Có người trân trọng, muốn bảo tồn, có người không cảm thấy thoải mái với gốc rễ gia đình và văn hóa của mình và muốn tạo dựng một văn hóa mới. Dù trong trường hợp nào, gia đình và gốc rễ văn hóa cũng giữ một vai trò quan trọng trong ứng xử của con người và cần được hiểu rõ trong CTXH. Phương pháp hiệu quả để tìm hiểu gốc rễ gia đình và văn hóa của khách hàng là vẽ lại cây gia đình/genogram trong ít nhất ba thế hệ. Những chi tiết như số con, tên, thứ tự trong gia đình, mối quan hệ xấu hay tốt, tuổi lúc mất và lý do mất, tôn giáo, nghề nghiệp, lối sống của các thành viên… sẽ giúp nhân viên CTXH hiểu rõ được ảnh hưởng của gốc rễ văn hóa và gia đình đối với khách hàng.

4. Kinh nghiệm sống

Là những diễn biến quan trọng xảy ra trong cuộc đời liên quan đến hoàn cảnh sống: mất mát người thân, kinh nghiệm thời đi học, lập gia đình, kinh nghiệm làm việc… tất cả những kinh nghiệm sống này không ngừng ảnh hưởng đến cá tính và cách ứng xử của con người.

5. Nhu cầu cá nhân

Tùy theo giới tính, văn hóa, tôn giáo, chủng tộc, sức khỏe, tuổi tác… mỗi người, trong mỗi giai đoạn phát triển, có những nhu cầu khác nhau. Khi nói đến nhu cầu, người ta thường nghĩ đến nhu cầu vật chất như nhà ở, thực phẩm, quần áo, sự an toàn… tuy nhiên, ngoài những nhu cầu vật chất, con người còn có nhu cầu tinh thần (xem lại kim tự tháp nhu cầu của Maslow): được thương yêu, được tôn trọng, được học hỏi, được đóng góp, được thực hành đức tin về tôn giáo, được có cảm giác viên mãn… Ứng xử của con người có khuynh hướng tiến đến mục tiêu thỏa mãn nhu cầu của cá nhân, ngược lại tình trạng được thỏa mãn hay không, thỏa mãn nhiều hay ít, là những yếu tố có thể chi phối cá tính và cách ứng xử của con người. Hiểu rõ nhu cầu của mình, của người, chú tâm thỏa mãn những nhu cầu chính đáng, nhân viên CTXH dễ dàng nhận ra được những sai lệch, tránh lỗi lầm trong nghề nghiệp và hoàn tất được nhiệm vụ giúp đỡ khách hàng. Thí dụ: trong quá trình làm việc với khách hàng, nhân viên CTXH có thể có cảm giác thỏa mãn vì được khách hàng tôn trọng và cần đến mình. Nếu cho phép cảm giác thỏa mãn này ảnh hưởng đến công việc để có lợi cho bản thân mình (thí dụ kéo dài thời gian giúp đỡ một cách không chính đáng, không phục vụ quyền lợi cao nhất của khách hàng), nhân viên CTXH đã phạm phải một trong những lỗi lầm nghiêm trọng của nghề CTXH, đó là phục vụ lợi ích của mình chứ không phải của khách hàng.

II. LÀ NGƯỜI GIÚP ĐỠ CHUYÊN NGHIỆP

Nhân viên CTXH đến với khách hàng trong vai trò của người giúp đỡ chuyên nghiệp. Có nhiều khác biệt giữa người giúp đỡ và người giúp đỡ chuyên nghiệp. Người giúp đỡ hành động theo lương tâm và cảm tính cá nhân; có thể hoàn toàn bất vụ lợi hoặc trông đợi được trả ơn (trực tiếp từ đối tượng được giúp đỡ, hoặc gián tiếp từ các đấng quyền năng trong tôn giáo). Người giúp đỡ chuyên nghiệp vận dụng kiến thức và kỹ năng trong khuôn khổ đạo đức và hệ thống giá trị của CTXH, và được trả lương từ cơ quan, tổ chức CTXH, hoặc lệ phí từ khách hàng. Hảo tâm là đặc tính chung của người giúp đỡ. Người giúp đỡ chuyên nghiệp có những đặc tính sau: có kiến thức và khả năng chuyên môn; thân thiện; đáng tin cậy; có khả năng sử dụng cái tôi chân thật của mình để động viên, khuyến khích, gây ảnh hưởng đến khách hàng (đây là phần quan trọng nhất trong công việc của nhân viên CTXH); biết cách dùng ngôn ngữ để truyền đạt ý kiến, khai thác và phân tích thông tin; biết gầy dựng tự tin cho khách hàng để dần dần khách hàng có thể tự giúp, không cần đến người khác.

1. Trách Nhiệm và Thẩm Quyền của người giúp đỡ chuyên nghiệp

Trong công việc của mình, nhân viên CTXH có trách nhiệm giúp khách hàng thăng tiến, thay đổi, để có cuộc sống tốt đẹp hơn; và thẩm quyền hành động để đạt được mục tiêu đó. Trách nhiệm và thẩm quyền của nhân viên CTXH hiện hữu song song với quyền tự quyết của khách hàng và những giới hạn của quyền tự quyết đó. Nhân viên CTXH không thể vin vào trách nhiệm và thẩm quyền của mình để quyết định thay cho khách hàng, mà chỉ có thể giúp khách hàng tìm hiểu, phân tích vấn nạn, tìm kiếm các tài nguyên từ cá nhân, gia đình, và cộng đồng, thăm dò các giải pháp và hậu quả có thể xảy ra của từng giải pháp để khách hàng tự quyết định. Câu hỏi đặt ra ở đây là trong những trường hợp khách hàng cố ý chọn giải pháp xấu, nhân viên CTXH phải làm gì?  Đối với những trường hợp này, nhân viên CTXH vẫn phải tôn trọng quyền tự quyết của khách hàng, vì quyền tự quyết đi liền với trách nhiệm chấp nhận hậu quả. Quyền tự quyết có một số giới hạn sau đây (những giới hạn này nhân viên CTXH phải truyền đạt cho khách hàng hiểu rõ):

–                     Khách hàng có những quyết định có thể gây hại cho bản thân hay cho người khác. Trong trường hợp này nhân viên CTXH có trách nhiệm bảo vệ sự an toàn của khách hàng và xã hội, và có thẩm quyền hành động để điều nguy hại đó không xảy ra (án lệ Tarasoff). Tại California, đối với bệnh nhân tâm thần, điều 5150 của luật An Sinh Xã Hội tiểu bang cho phép một số người hành nghề chuyên môn, trong đó có nhân viên CTXH, được phép tạm cưỡng chế khách hàng vào nhà thương để được chăm sóc nếu khách hàng có thể có hành vi cụ thể nguy hại đến bản thân (thí dụ tôi sẽ tự tử, nhà tôi có sẵn thuốc chuột), nguy hại đến người khác (thí dụ tôi sẽ giết ông X, hàng xóm, vì tôi đi đâu ông ta cũng theo dõi), hoặc không tự chăm sóc lấy bản thân một cách nghiêm trọng (thí dụ tự nhốt mình trong phòng, không ăn uống, tắm rửa trong nhiều ngày).

–                     Khách hàng không có khả năng trí tuệ để tự quyết định (thí dụ trẻ em hoặc người mắc bệnh tâm thần). Ở Mỹ những bệnh nhân tâm thần nặng thường được toà án bổ nhiệm một người bảo hộ/conservator, người này có thể là thân nhân hoặc là nhân viên bảo hộ của Nha Xã Hội trong chính quyền Hạt. Trẻ em do Toà Án quản lý vì bị ngược đãi hoặc không có thân nhân chăm sóc (thí dụ trẻ mồ côi, trẻ có cha mẹ vi phạm pháp luật bị tước quyền làm cha mẹ hoặc bị giam giữ), cũng được toà án bổ nhiệm một thân nhân hoặc một nhân viên của Nha Xã Hội làm người giám hộ/guardian. Đối với những khách hàng này, nhân viên CTXH sẽ cùng với người bảo hộ hoặc giám hộ có quyết định thay cho khách hàng.

2. Kỹ năng của người giúp đỡ chuyên nghiệp

1. Kỹ năng truyền thông

Truyền thông là một vấn đề phức tạp. Truyền thông có thể được thực hiện bằng lời nói, chữ viết, giáng điệu, cử chỉ, vẻ mặt, thần sắc… Trong khi nói chuyện, người ta không ngừng phân tích các thông tin, lượng định các hậu quả của việc truyền thông, và chọn lọc các thông tin truyền đi để làm thế nào đạt được lợi ích cao nhất cho bản thân.

Trong CTXH, Lawrence Shulman (2006) đề ra bốn yếu tố sau đây có thể gây trở ngại cho truyền thông của khách hàng:

  • Mặc cảm tự ti hoặc tự tôn: không tự mình giải quyết được vấn nạn, phải nhờ đến xã hội là “yếu”, để tránh mặc cảm này, khách hàng có thể giảm thiểu tầm quan trọng thực sự của vấn nạn.
  • Yếu tố văn hóa: một số điều nhạy cảm của truyền thống văn hóa làm cho khách hàng không thể cung cấp những thông tin trung thực liên quan đến tình dục, tiền bạc, gia đình, tôn giáo, quyền lực… Thí dụ những chuyện xấu trong gia đình hàng xóm thì ai cũng có thể nói rõ ràng tỷ mỷ được, nhưng chuyện xấu trong gia đình bản thân thì ít người muốn phô bày ra cho người ngoài.
  • Cảm xúc tiêu cực gắn liền với sự kiện nào đó: khách hàng có thể có những cảm xúc bồn chồn khó chịu hoặc giận dữ, chán nản… vì một sự kiện nào đó và tránh không muốn đề cập đến sự kiện đó, hoặc đề cập không đúng sự thực, hoặc chối bỏ cảm xúc tiêu cực khi đề cập đến sự kiện.
  • Bản thân mối quan hệ giữa nhân viên CTXH và khách hàng: khách hàng biết nhân viên CTXH có một số quyền lực và có thể làm cho khách hàng đạt được hoặc không đạt được một mục tiêu nào đó, vì vậy khách hàng chỉ cung cấp những thông tin họ nghĩ là có lợi.

Chính vì những yếu tố kể trên, truyền thông bằng ngôn ngữ thường không thật bằng truyền thông vô ngôn như nhịp thở, ánh mắt, dáng điệu, cử chỉ, điệu bộ, thần sắc (hơi thở dồn dập, đổi sắc mặt…).

Trong truyền thông có hai phần nghe (nhận thông tin) và nói (cho thông tin). Nhân viên CTXH không ngừng chú ý quan sát khách hàng trong lúc nghe để nhận ra, phân tích, và giải mã những tín hiệu của truyền thông không lời. Phương pháp nghe đúng kỹ năng, không chỉ là nghe chăm chú, mà còn có phần đóng góp quan trọng của truyền thông vô ngôn kèm theo để truyền đạt sự thông cảm, hỗ trợ tinh thần, làm cho khách hàng được khích lệ để chia xẻ, cung cấp thông tin cần thiết. Phương pháp nói đúng kỹ năng không chỉ đơn thuần là truyền đạt rõ ràng mạch lạc ý kiến của người nói, mà làm cho người nghe được thuyết phục. Trong kỹ năng nghe và nói, phần hình thức (nghe chăm chú, nói rõ ràng mạch lạc) là phụ. Ở toà án, người ta nghe hết sức chăm chú để bắt bẻ lẫn nhau, và nói hết sức rõ ràng mạch lạc để đối phương hết đường cãi. Kỹ năng nghe và nói của nhân viên CTXH không giống kỹ năng nghe và nói của luật sư, mà là kỹ năng có phần nội dung riêng. Nội dung này xuất phát từ sự hiểu biết cặn kẽ ứng xử của khách hàng, sự tôn trọng, không phán xét khách hàng, và từ mục tiêu duy nhất giúp khách hàng có được thay đổi phù hợp nhất với thực tế của họ.

2) ( sao lai dung dâu ngoăc ) Kỹ năng thiết lập và duy trì được mối quan hệ nghề nghiệp với khách hàng

Kỹ năng này đòi hỏi trình độ đạo đức nghề nghiệp, khả năng hiểu biết, thông cảm, tôn trọng, và động viên được khách hàng của nhân viên CTXH. Kỹ năng này giúp nhân viên CTXH:

– Biết cách nghe khách hàng một cách có hiệu quả, làm cho khách hàng muốn chia xẻ; biết phân tích thông tin trong khi nghe và biết đặt câu hỏi thích hợp để động viên và hướng khách hàng đến việc chia xẻ những thông tin có ích cho việc tìm hiểu vấn nạn và giúp khách hàng tìm phương thức giải quyết vấn nạn đó.

– Động viên để khách hàng tham gia vào việc tìm kiếm giải pháp và tích cực hợp tác để giải quyết vấn nạn của họ.

– Đề cập và thảo luận được những vấn đề tế nhị (thí dụ vấn nạn liên quan đến tình dục hay loạn luân) với khách hàng.

– Làm trung gian môi giới được cho các thành phần liên quan đến vấn nạn làm việc với nhau để giải quyết vấn nạn.

Kỹ năng này cũng giúp nhân viên CTXH luôn gắn bó với lợi ích cao nhất của khách hàng và tránh được những “tai nạn nghề nghiệp” thí dụ rơi vào những mối quan hệ khác, ngoài quan hệ chuyên môn, không có mục đích phục vụ cho quyền lợi cao nhất của khách hàng (thí dụ quan hệ mua bán, trao đổi; quan hệ tình cảm…). Kỹ năng này được thể hiện ở sự tôn trọng khách hàng, trung thực, chính xác trong cách đối xử và trong ngôn ngữ, và luôn luôn đặt lợi ích của khách hàng lên hàng ưu tiên.

3)  Kỹ năng phân tích và vận dụng chính sách

Có nhiều chính sách liên quan đến CTXH, có chính sách ở cấp thành phố, tỉnh, quốc gia, và có chính sách của cơ quan, tổ chức, đoàn thể. Nhân viên CTXH phải biết chính sách, hiểu được và phân tích được chính sách để có thể bênh vực và đấu tranh hiệu quả cho khách hàng của mình. Trong hoàn cảnh chính sách còn thiếu như ở Việt Nam, nhân viên CTXH còn phải biết kỹ năng vận động và tư vấn cho chính quyền các cấp để có được những chính sách nhằm giải quyết các vấn nạn của xã hội.

4)  Kỹ năng khảo cứu

Công tác khảo cứu là một bộ phận không thể thiếu của tất cả các khoa học. Khảo cứu cần thiết cho việc mở rộng kiến thức nền tảng của khoa CTXH, đánh giá hiệu quả của các chương trình, chính sách xã hội, và hỗ trợ cho việc đề ra những chính sách mới. Công tác khảo cứu gồm lựa chọn mô hình; soạn thảo công cụ; thu nhặt, so sánh, phân tích thông tin; và trình bày kết quả khảo cứu. Chính vì vai trò quan trọng của nó, khảo cứu là một trong ba phần chính trong các chương trình đào tạo CTXH trên thế giới (hai phần kia là lý thuyết và thực tập).

Kỹ năng này giúp nhân viên CTXH tạo ra một không gian an toàn, một mối quan hệ đáng tin cậy, để từ đó khách hàng không còn bối rối, có thể bình tâm mạnh dạn làm những việc mới mà trước kia họ không tự cho có khả năng làm được. (Xem them chương 9: Đánh Giá)

5)  Kỹ năng hành động

Cùng với khách hàng lập kế hoạch hành động, tìm tài nguyên, huấn luyện khách hàng, giới thiệu khách hàng đến những cơ quan, tổ chức xã hội khác; đấu tranh, vận động để khách hàng được hưởng những dịch vụ, những quyền lợi trong cộng đồng.

III. HỮU HIỆU TRONG MỌI VĂN HÓA

Phương tiện giao thông và liên lạc văn minh làm cho thế giới càng ngày càng nhỏ lại. Các cộng đồng nhân loại đều trở nên đa dạng, phong phú về văn hóa, tôn giáo, lối sống… Nhân viên CTXH phải có khả năng làm việc với khách hàng thuộc các văn hóa khác biệt, nhất là văn hóa thiểu số, thí dụ đồng bào sắc tộc, người già, người tàn tật, người nghiện hút, người vi phạm pháp luật, người đồng tính … Tất cả những hình thức kỳ thị, dù là kỳ thị tôn giáo, chủng tộc, địa phương, văn hóa, tính dục, tuổi tác, nam nữ… đều đi ngược lại những giá trị cơ bản nhất của CTXH, đó là tôn trọng, không phán xét, và chấp nhận tính thiện của con người. Nhân viên CTXH phải luôn luôn cảnh giác, không để văn hóa của bản thân ảnh hưởng đến công việc. Trong trường hợp không thể cưỡng được những ảnh hưởng đó, nhân viên CTXH phải có trách nhiệm giới thiệu khách hàng đến các cơ quan khác hay đồng nghiệp khác để bảo vệ lợi ích cao nhất của họ.

IV. HOẠT ĐỘNG TRONG KHUÔN KHỔ TRÁCH NHIỆM NGHỀ NGHIỆP/ACCOUNTABILITY

Trách nhiệm nghề nghiệp là một khái niệm rộng rãi, bao trùm đạo đức nghề nghiệp, trách nhiệm dân sự và hình sự của người làm bất cứ nghề nào dù thuộc khu vực công hay tư trong xã hội. Trách nhiệm nghề nghiệp đòi hỏi sự trả lời công khai (trừ một số trường hợp công việc có liên quan đến an ninh quốc gia, phải trả lời cơ quan điều tra kín) minh bạch về phương cách sản phẩm hay dịch vụ đã được cung cấp như thế nào và chất lượng của sản phẩm. Những sai phạm, thiếu sót về trách nhiệm nghề nghiệp dẫn đến các biện pháp chế tài của cơ quan thuê mướn người sai phạm, tổ chức quản lý nghề nghiệp, và của toà án. Ngoài ra, ở các nước phát triển còn có những tổ chức bảo vệ người tiêu dùng hay bảo vệ quyền của người dân. Những tổ chức này được sự tài trợ của tư nhân lẫn tiền thuế do quần chúng đóng góp vào ngân quỹ nhà nước, và hoạt động hoàn toàn độc lập, không chịu sự điều động của chính quyền, có mục đích điều tra và truy tố những hoạt đông dối trá, lừa đảo trong khu vực tư nhân và tham nhũng, lạm dụng quyền thế, chức vụ, trong khu vực công quyền. Những tổ chức này được gọi là “chó canh gác”/watch dogs giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì trách nhiệm nghề nghiệp của tất cả mọi người trong xã hội và gìn giữ phẩm chất của các quan chức trong guồng máy nhà nước.

Tính cách liên đới của tinh thần trách nhiệm nghề nghiệp đòi hỏi sự làm việc nghiêm túc của tất cả các cấp nhân sự trong mọi ngành nghề tư cũng như công. Thí dụ sau đây là một minh hoạ về trách nhiệm nghề nghiệp: ở một trường tiểu học tại Gil Roy, hạt Santa Clara, bang California, vào khoảng năm 2000, một nữ học sinh mắc bệnh khờ mách với huấn luyện viên thể dục là em bị một nhóm nam sinh xâm phạm tình dục trong nhà vệ sinh. Huấn luyện viên này cho là em nữ sinh khờ không nói đúng sự thật và bỏ qua, không có biện pháp can thiệp nào. Kết quả là sau đó em nữ sinh này bị nhóm nam sinh hiếp dâm nhiều lần. Khi nội vụ vỡ lở, gia đình nạn nhân đã kiện, không phải kiện trường tiểu học nơi xảy ra nội vụ, mà kiện học khu (là cơ quan quản lý nhiều trường học trong một khu vực địa lý rộng lớn). Huấn luyện viên liên quan bị sa thải, hiệu trưởng trường tiểu học liên hệ bị khiển trách, và học khu phải bồi thường cho nạn nhân một số tiền khá lớn.

Trong CTXH, trách nhiệm nghề nghiệp đòi hỏi nhân viên CTXH tuân theo nội quy về đạo đức nghề nghiệp của hội nhân viên CTXH. Nội quy này minh định vai trò và mối quan hệ chuyên nghiệp giữa nhân viên CTXH với khách hàng, với thượng cấp, với cơ quan chủ quản, với đồng nghiệp, với nghề CTXH, và với xã hội (xem phụ bản A).

Đối với CTXH, trong khu vực CTXH công, trách nhiệm chuyên nghiệp quan trọng vì công chúng là những người đóng thuế để chính phủ có tiền tổ chức mạng lưới cung cấp dịch vụ xã hội, và vì thế có quyền được biết tiền thuế do họ đóng góp đã được chi tiêu như thế nào, hiệu quả hay không và tại sao. Trong khu vực CTXH tư, số tiền liên quan có thể là tài trợ từ ngân sách Nhà Nước, từ các tổ chức từ thiện tư nhân, hoặc từ lệ phí do người tiêu dùng trực tiếp trả cho cơ quan hay cá nhân nhân viên CTXH. Trong một số trường hợp, tài chính của cơ quan CTXH bao gồm cả ba phần thuế, tài trợ tư và phí tư nhân. Dù bất cứ có nguồn gốc tài chính nào, cơ quan CTXH cũng phải có trách nhiệm chuyên nghiệp đối với khách hàng, nghĩa là dịch vụ cung cấp phải công bằng, không phân biệt đối xử đối với khách hàng, và được cung cấp bởi những nhân viên có trình độ chuyên môn nhất định đúng theo quy định của luật pháp.

Trách nhiệm nghề nghiệp khác với trách nhiệm thông thường/responsibility. Trách nhiệm nghề nghiệp là trách nhiệm với những đối tượng cụ thể và chế tài cụ thể nếu để xảy ra sai phạm. Trách nhiệm nghề nghiệp là điều không thể thiếu trong tất cả các tổ chức xã hội, và được áp dụng cho tất cả mọi người làm việc, từ người thợ trong phân xưởng sản xuất đến tổng giám đốc công ty; từ nhân viên thấp nhất trong guồng máy hành chánh đến cấp lãnh đạo cao nhất của một quốc gia. Trách nhiệm nghề nghiệp vô cùng quan trọng vì nó giúp mọi người làm việc nghiêm túc, có thể nói nơi nào trách nhiệm nghề nghiệp không được thi hành một cách thẳng thắn và rốt ráo, nơi đó sẽ xảy ra lạm quyền, tham nhũng, thối nát.

Trong CTXH, nhân viên CTXH có trách nhiệm nghề nghiệp với khách hàng, với cơ quan thuê mướn, với tổ chức tự quản của nghề CTXH, và với luật pháp. Vi phạm trách nghiệp nghề nghiệp xảy ra khi nhân viên CTXH có hành vi sơ sót hay sai quấy gây thiệt hại cho khách hàng. Sau đây là một số vi phạm trách nhiệm nghề nghiệp có thể xảy ra:

1. Để lộ thông tin về khách hàng

Bảo mật/confidentiality là một trong những nền tảng cho mối quan hệ nghề nghiệp giữa khách hàng và nhân viên CTXH, thiếu nó sẽ không có sự tin cậy và CTXH sẽ không thể tồn tại. Tất cả các thông tin liên quan đến mối quan hệ nghề nghiệp giữa khách hàng và nhân viên CTXH đều phải được giữ kín, hồ sơ khách hàng phải được lưu trữ thế nào để những người không liên quan không thể chạm đến. Thông tin chỉ được tiết lộ khi có giấy cho phép của khách hàng, khi có trát đòi của toà án, và khi sự tiết lộ thông tin cần thiết cho an toàn của khách hàng, của người khác hay của xã hội. Thí dụ khi khách hàng tiết lộ họ đang bị hành hạ ngược đãi về thể chất hay về tình dục, nhân viên CTXH phải thông báo cho cơ quan xã hội liên hệ (sở Bảo Vệ Người Già, sở Bảo Vệ Trẻ Em, cơ quan công an…) dù khách hàng không muốn. Trách nhiệm bảo mật này, và những ngoại lệ, phải được thông báo cho khách hàng bằng văn bản, với chữ ký của khách hàng ngay từ đầu và lưu trong hồ sơ khách hàng.

2. Thiếu sót trong công việc

Thí dụ khách hàng có nhu cầu và cộng đồng có nguồn tài nguyên liên hệ, nhưng nhân viên CTXH không giới thiệu, gây thiệt hại cho khách hàng. Thí dụ khách hàng chỉ biết dạy con bằng cách đánh đập nhưng nhân viên CTXH không giới thiệu đến lớp huấn luyện nghệ thuật làm cha mẹ do hội phụ nữ địa phương tổ chức, để cho tình trạng đánh đập con cái tiếp diễn. Điều cần lưu ý ở đây là cho dù biết trước khách hàng sẽ không hợp tác, nhân viên CTXH vẫn phải giới thiệu các dịch vụ cần thiết và ghi trong hồ sơ. Khách hàng có quyền tự quyết và chịu hậu quả do quyết định của họ gây ra (thí dụ không được toà án trả con).

3. Lợi dụng khách hàng

Trong CTXH, nhân viên CTXH có thể giúp khách hàng đạt được những kết quả rất tốt đẹp. Sai trái sẽ xảy ra khi nhân viên CTXH đặt điều kiện, và nhận quà cáp, hối lộ, trao đổi (tôi giúp anh xin được trợ cấp X., anh sửa xe cho tôi miễn phí…) từ khách hàng để giúp khách hàng đạt được điều thuận lợi nào đó.

4. Quan hệ bất chính với khách hàng

Rủi ro này dễ xảy ra trong lĩnh vực cố vấn tâm lý. Ở lĩnh vực này quan hệ giữa nhân viên CTXH (tư vấn tâm lý) và khách hàng là quan hệ rất gần gũi và bất bình đẳng. Nhân viên CTXH giỏi là người có uy tín, kiến thức, hiểu rõ và luôn luôn tôn trọng khách hàng, giúp khách hàng phục hồi và thăng tiến những ưu điểm của mình để vươn lên. Những đặc tính này rất gần với đặc tính của một người yêu lý tưởng. Bên cạnh con người lý tưởng này là khách hàng có những vấn đề khúc mắc, đổ vỡ, cô đơn, đau khổ… Vì vậy tình trạng khách hàng, qua quá trình làm việc gần gũi, phát sinh tình cảm quyến luyến đối với nhân viên CTXH, rất dễ xảy ra. Trong thực tế rất nhiều khách hàng trải qua đổ vỡ luôn khao khát một người yêu lý tưởng đã không đạt được trong tuổi dậy thì. Đến khi gặp người cố vấn tâm lý thì phóng chiếu những tình cảm trong quá khứ vào hiện tại, và coi người cố vấn như người yêu lý tưởng. Freud gọi hiện tượng này là “phóng chiếu”/transference, hiện tượng này giúp người cố vấn phát hiện được những uẩn khúc, những vết thương tinh thần trong quá khứ của khách hàng; tức là những nguyên nhân làm cho khách hàng đau khổ, thất bại, không hạnh phúc; từ đó giúp được khách hàng phân biệt quá khứ với hiện tại và lành được vết thương. “Phản phóng chiếu”/counter transference là cảm xúc của nhân viên CTXH đối với khách hàng bắt nguồn từ những nhu cầu không được thỏa mãn trong quá khứ. Phóng chiếu và phản phóng chiếu có thể là những cảm xúc tích cực hoặc tiêu cực. Thí dụ khách hàng ghét cố vấn tâm lý vì cố vấn tâm lý giống hệt ông bố nghiêm khắc đã từng hành hạ, đánh đập mẹ của khách hàng. Hoặc cố vấn tâm lý yêu khách hàng vì khách hàng có đôi mắt buồn tha thiết  y như đôi mắt của người yêu xưa đã lên xe hoa từ 20 năm trước… Phóng chiếu có thể có lợi cho công việc chuyên môn của nhân viên CTXH, phản phóng chiếu luôn có hại và là điều nhân viên CTXH phải hết sức chú ý để tự cảnh giác, không để những ẩn ức trong quá khứ của mình ảnh hưởng đến mối quan hệ chuyên nghiệp với khách hàng. Sai phạm nghiêm trọng về trách nhiệm nghề nghiệp sẽ xảy ra khi nhân viên CTXH có quan hệ bất chính, thí dụ quan hệ tình dục với khách hàng.

5. Hậu quả của sai phạm về trách nhiệm nghề nghiệp

Ở những nước có ngành CTXH phát triển như Mỹ, sai phạm về trách nhiệm nghề nghiệp có thể dẫn đến sa thải, mất chứng chỉ hành nghề (đối với cố vấn tâm lý), và truy tố trước toà án. Cơ quan thuê mướn người vi phạm trách nhiệm nghề nghiệp cũng có thể bị khách hàng nạn nhân thưa ra toà để đòi bồi thường thiệt hại.

V. KHẢ NĂNG LÀM VIỆC TRONG NHÓM

Giải quyết vấn nạn của khách hàng nhiều khi đòi hỏi sự đóng góp của nhiều người, nhiều nguồn tài nguyên khác nhau. Vì vậy nhân viên CTXH phải có kiến thức rộng về tất cả các tài nguyên có thể vận dụng để giới thiệu cho khách hàng, từ đó sẽ hình thành một nhóm những người cùng làm chung công việc giúp đỡ khách hàng. Những người này có thể là thân nhân của khách hàng, hoặc những người giúp đỡ chuyên môn thuộc nhiều ngành nghề khác nhau, thí dụ nhân viên CTXH, y tá, bác sĩ, người bảo hộ cho bệnh nhân tâm thần, người giám hộ cho trẻ em, thân nhân của khách hàng… Thành viên của nhóm có thể là những nhân viên của một cơ quan hoặc nhiều cơ quan khác nhau và được hình thành để phối hợp công việc giúp đỡ, chia xẻ khó khăn và tiến triển của khách hàng để điều chỉnh chương trình làm việc của riêng từng thành viên và của toàn nhóm. Tùy theo trường hợp, bản thân khách hàng cũng có thể là một thành viên của nhóm giúp đỡ. Sau đây là một thí dụ:

Nhóm những người giúp đỡ chuyên nghiệp họp tại các bệnh viện tâm thần ở Mỹ, gồm: đại diện bệnh viện tâm thần (bác sĩ, y tá, nhân viên CTXH trong bệnh viện), đại diện cơ quan bảo hộ thuộc Nha Xã Hội địa phương (nhân viên bảo hộ), đại diện cơ quan y tế ngoại chẩn cộng đồng (nhân viên CTXH), thân nhân bệnh nhân. Các buổi họp này do nhân viên CTXH trong bệnh viện triệu tập trước khi cho bệnh nhân xuất viện, để thảo luận và quyết định những vấn đề sau:

–     Bệnh nhân đã tiến triển như thế nào, khi nào có thể xuất viện.

–     Những việc cơ quan y tế ngoại chẩn, người bảo hộ và thân nhân có thể làm để bảo đảm bệnh nhân xuất viện sẽ có chỗ ăn ở, được gặp bác sĩ ngoại chẩn định kỳ và nhận thuốc men cần thiết, được giúp làm đơn xin hoặc nhận lại tiền cấp dưỡng hàng tháng dành cho người tật nguyền không có khả năng đi làm (khi bệnh nhân nhập viện số tiền này, khoảng 875 mỹ kim một tháng ở hạt Santa Clara, California, vào năm 2008, sẽ được Nhà Nước trừ vào chi phí bệnh viện và bệnh nhân không được lãnh đồng nào).

Do luôn luôn phải làm việc với nhiều người trong nhóm giúp đỡ, nhân viên CTXH phải có kiến thức và kỹ năng nhóm. Kiến thức bao gồm kiến thức tổng quát về các ngành nghề liên quan đến CTXH, kiến thức về các quá trình nhóm (hình thành, sinh hoạt, giải tán). Kỹ năng nhóm bao gồm kỹ năng thực hiện và thúc đẩy quá trình nhóm, kỹ năng hướng dẫn thảo luận, kỹ năng hoà giải mâu thuẫn, kỹ năng tạo lập và duy trì các mối quan hệ hợp tác thân thiện giữa các thành viên… Kỹ năng nhóm giúp nhân viên CTXH hoàn thành được nhiệm vụ của mình nghĩa là giúp khách hàng đạt được những mục tiêu đã đề ra.

(Trích từ Tập tài liêu: Công tác xã hội-Lý thuyết và thực hành, TrầnĐình Tuấn)

Vài nét về Claude Lévi-Strauss và lý thuyết nhân loại học của ông

Claude Lévi-Strauss là nhà nhân loại học xã hội người Pháp, một lý thuyết gia hàng đầu của thuyết cấu trúc, vốn là thuyết được áp dụng vào việc phân tích các hệ thống văn hóa (như: các hệ thống quan hệ họ hàng và các hệ thống huyền thoại) dựa vào các quan hệ cấu trúc giữa các yếu tố của chúng. Thuyết cấu trúc không chỉ ảnh hưởng đến khoa học xã hội thế kỷ 20 mà còn đến các lĩnh vực khác: nghiên cứu triết học, tôn giáo so sánh, văn chương, điện ảnh.

Sau khi học triết học và luật học tại Universités de Paris [Viện Đại học Paris] (1927-1932), Lévi-Strauss đi dạy học ở một trường trung học ở Pháp, rồi sau đó được bổ nhiệm làm giáo sư xã hội học Viện Đại học São Paulo, Brazil (1934–37), và trên cương vị này, ông chuyên nghiên cứu về các các cộng đồng dân tộc bản địa ở Brazil. Từ năm 1941 đến 1945, ông là giáo sư thỉnh giảng tại trường New School for Social Reseach ở Thành phố New York, và ở đây ông quan tâm sâu sắc đến các công trình ngôn ngữ học của Roman Jakobson. Từ năm 1950 đến 1974, ông là giám đốc trường École Pratique des Hautes Études [Trường Cao đẳng Nghiên cứu Thực hành] thuộc Viện đại học Paris, và năm 1959, ông được bổ nhiệm chức giáo sư nhân loại học xã hội trường Collège de France (một cơ sở đào tạo cấp cao danh giá nhất nước Pháp). Năm 1973, ông được bầu vào Viện Hàn lâm Pháp. Claude Lévi-Strauss từ trần vào ngày 30 tháng 10 năm 2009, hưởng thọ 101 tuổi.

Các công trình nghiên cứu của ông thật phong phú và đồ sộ đến mức sẽ là một thử thách cực kỳ khó khăn cho bất cứ ai có tham vọng muốn tổng hợp toàn bộ sự nghiệp của ông, trong đó ta có thể kể đến một số công trình quan trọng nhất của ông: Les Structures élémentaires de la parenté [Cấu trúc sơ đẳng của quan hệ họ hàng, 1949], Race et Histoire [Chủng tộc và lịch sử, 1952],Tristes tropiques [Nhiệt đới buồn, 1955], Anthropologie structurale [Nhân loại học cấu trúc, 1958], Le Totémisme aujourd’hui [Tôtem giáo ngày nay, 1962], La pensée sauvage [Tư duy hoang dã, 1962]. Mythologies [Huyền thoại học, gồm 4 quyển: Le cru et le cuit / Cái sống và cái chín (1964), Du miel aus cendres / Từ mật đến tro (1967), L’Origine des manières de table / Nguồn gốc của phép tắc ăn uống (1968) và L’Home nu / Con người trần truồng (1971)], Anthropologie structurale deux / Nhân loại học cấu trúc, quyển II (1973), v.v..

Thuyết cấu trúc của Lévi-Strauss là một nỗ lực rút gọn một lượng khổng lồ các thông tin về các hệ thống văn hóa vào các quan hệ hình thức giữa các yếu tố của chúng. Ông xem các nền văn hóa như là các hệ thống giao tiếp và tiến hành xây dựng các mô hình dựa trên ngôn ngữ học cấu trúc, lý thuyết thông tin để giải thích chúng.

Vào những năm 1940, Lévi-Strauss đề xuất ý kiến rằng lĩnh vực nghiên cứu riêng của các nhà nhân loại học không phải ở việc tìm hiểu xem các cộng đồng dân tộc đã đưa thế giới của họ vào các phạm trù ra sao, mà ở việc xét xem những khuôn mẫu nền tảng của tư duy nhân loại tạo ra những phạm trù về thế giới như thế nào. Theo đuổi công việc tìm kiếm này, ông dành cả quãng đời còn lại để tiến hành các nghiên cứu xuyên-văn hóa về quan hệ họ hàng, các huyền thoại, và tôn giáo trong một nỗ lực hiểu cho được cái cấu trúc nền tảng của nhận thức của con người.

Lý thuyết của Lévi-Strauss về văn hóa dựa vào tâm lý học, nhưng khác với Sigmund Freud, ông không tin rằng cái cấu trúc tâm lý học là cái quy định văn hóa. Thay vào đó, Lévi-Strauss tin rằng những quá trình lôgic làm cơ sở cho việc cấu trúc toàn bộ tư duy con người vận hành trong những ngữ cảnh văn hóa khác nhau. Kết quả là, các hiện tượng văn hóa không mang tính đồng nhất, mà chúng chỉ là những sản phẩm của một khuôn mẫu tư duy phổ quát làm cơ sở. Nhân loại học của ông là một cố gắng tìm cách vạch ra cái khuôn mẫu này.

Thuyết cấu trúc của ông chịu ảnh hưởng sâu sắc của thế hệ các nhà bác học tiền bối người Pháp là Émile Durkheim và Marcel Mauss. Nhan đề của công trình chủ yếu đầu tiên của ông, Các cấu trúc sơ đẳng của quan hệ họ hàng (1949), mang âm hưởng của nhan đề một công trình vĩ đại của Durkheim về tôn giáo, Các hình thức sơ đẳng của đời sống tôn giáo (1912). Cái gọi là Trường phái Prague (Prague School) trong ngôn ngữ học cấu trúc, được tổ chức vào năm 1926, cũng đóng một vai trò quan trọng trong sự hình thành lý thuyết của ông. Nhóm các nhà bác học này, do nhà ngôn ngữ học Roman Jakobson (1896-1982) và Nikolai Troubetzkoy (1890-1938) sáng lập, nhấn mạnh phương diện đồng đại (mô tả) chứ không phải phương diện lịch đại (lịch sử) của nghiên cứu ngôn ngữ và cổ xúy cho lý thuyết rằng nghĩa của ngôn ngữ được xây dựng trên những sự đối lập giữa các âm, hay các âm vị. Các hội viên của Trường phái Prague đã định nghĩa và xác định tính chất cho việc nghiên cứu âm vị học về các ngôn ngữ. Việc làm này đã mang lại cho Lévi-Strauss khái niệm “các đối lập nhị phân”, vốn là khái niệm nền tảng trong quá trình ông xây dựng thuyết cấu trúc của mình.

Có lẽ cách đơn giản nhất để giải thích cơ sở lý luận của thuyết cấu trúc là đối sánh nó với ngôn ngữ học. Tất cả các ngôn ngữ đều được kết hợp từ các nhóm âm tố có tính chất võ đoán gọi là các âm vị. Bản thân các âm vị là không có nghĩa. Chỉ khi nào được kết hợp thành những đơn vị lớn hơn (các hình vị, các từ, các ngữ, v.v..) theo những mô hình nhất định (các quy tắc về cú pháp và ngữ pháp) thì các âm vị mới tạo thành những đơn vị có nghĩa (lời nói). Vì phần đông những người nói ở một ngôn ngữ không thể nối khớp các quy tắc làm cơ sở cho việc cấu trúc nên cách sử dụng các âm vị của họ và việc tạo ra một sự giao tiếp có nghĩa, thế nhưng tất cả họ đều có thể sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp với nhau một cách có hiệu quả. Vì thế, ở cấp độ tiềm thức, ta phải “biết” các quy tắc cấu trúc nên việc sử dụng ngôn ngữ của ta. Công việc của một nhà ngôn ngữ học là phải vượt khỏi sự sử dụng bề ngoài của ngôn ngữ và phát hiện ra các nguyên tắc vô thức này. Theo cùng cách như vậy, Lévi-Strauss cố gắng thiết kế một kỹ thuật nghiên cứu các nguyên tắc vô thức cấu trúc nên văn hóa của con người.

Với Lévi-Strauss, văn hóa, cũng như ngôn ngữ, về cơ bản là một tập hợp các biểu trưng có tính chất võ đoán. Ông không quan tâm đến nghĩa riêng biệt của các biểu trưng đến mức giống như nhà ngôn ngữ học quan tâm đến những âm vị của một ngôn ngữ. Đúng hơn, ông chú ý đến việc tạo khuôn mẫu cho các yếu tố, tức phương cách mà các yếu tố văn hóa quan hệ với nhau để tạo thành hệ thống tổng thể.

Một thức nhận then chốt của Trường phái Prague đó là các từ được xây dựng trên các đối lập (các đối lập nhị phân) giữa các âm vị chứ không phải đơn thuần là giữa các nhóm âm. Theo mô hình ngôn ngữ học này, Lévi-Strauss đề xuất ý kiến là khuôn mẫu nền tảng của tư duy nhân loại cũng sử dụng các đối lập nhị phân như đen-trắng, đêm-ngày, nóng-lạnh, v.v.. Thức nhận này rất trùng hợp với đề nghị của Durkheim và Hert rằng những sự phân biệt như thiêng-phàm, phải-trái đều là những bộ phận nền tảng của ý thức tập thể.

Công trình chính yếu đầu tiên của Lévi-Strauss là Các cấu trúc sơ đẳng của quan hệ họ hàng (1949). Ông dùng khái niệm cấu trúc nhị phân của tư duy con người để phân tích mối quan hệ họ hàng trong khi sử dụng công trình của Marcel Mauss. Trong Essai sur le don. Forme et raison de l’échange dans les sociétés archaïques [Bàn về quà tặng. Hình thức và lý do của sự trao đổi trong các xã hội nguyên thủy, 1925], Mauss cố chứng minh rằng hiện tượng trao đổi trong các xã hội nguyên thủy không phải do những động cơ kinh tế thúc đẩy mà do các quy tắc trao đổi lẫn nhau, mà sự liên kết xã hội lại phụ thuộc vào quy tắc này, thúc đẩy. Trong Các cấu trúc sơ đẳng của quan hệ họ hàng, Lévi-Strauss lấy quan niệm của Marcel Mauss về quan hệ có qua có lại và áp dụng nó vào vấn đề hôn nhân trong các xã hội nguyên thủy khi cho rằng phụ nữ là một hàng hóa có thể được mang đi trao đổi. Lévi-Strauss thừa nhận rằng một trong những phân biệt đầu tiên và quan trọng nhất của một ai đó là sự phân biệt giữa cái tôi và người khác. Sự phân biệt nhị phân “có tính chất tự nhiên” này dẫn đến sự hình thành việc cấm kị loạn luân, bắt buộc việc chọn vợ chọn chồng phải là người ngoài gia đình. Theo cách này, sự phân biệt nhị phân giữa họ hàng và không họ hàng được giải quyết bằng sự trao đổi những người phụ nữ lẫn nhau và sự hình thành mạng lưới họ hàng trong các xã hội nguyên thủy.

Mối quan tâm của Lévi-Strauss đến huyền thoại ở chỗ ông tin rằng việc nghiên cứu các huyền thoại của các cộng đồng dân tộc nguyên thủy sẽ cho phép ông khảo sát được cái khuôn mẫu ý thức phổ quát của tư duy nhân loại trong hình thức chưa bị vấy bẩn của nó. Trong quan niệm của ông, huyền thoại của các cộng đồng dân tộc nguyên thủy gần với các nguyên tắc phổ quát này hơn là với niềm tin của người phương Tây, bởi lẽ sự đào tạo mà ta tiếp nhận trong xã hội Tây phương sẽ chôn vùi cái cấu trúc lôgíc mà ông tìm kiếm dưới các lớp “giao thoa văn hóa” do môi trường xã hội Tây phương tạo ra.

Trong công trình nghiên cứu về các truyện huyền thoại, truyện kể dân gian và tôn giáo, Huyền thoại học, Lévi-Strauss mở rộng quan niệm rằng nhận thức của con người được cấu trúc thành các đối lập nhị phân. Ông cho rằng đặc trưng cơ bản của tư duy con người là mong muốn tìm ra một trung điểm giữa các đối lập ấy. Trong quan niệm của Lévi-Strauss, các yếu tố của truyện huyền thoại, giống như các âm vị của ngôn ngữ, chỉ có nghĩa khi chúng được sắp đặt theo các quan hệ cấu trúc nhất định. Kết quả là, nhà cấu trúc luận khảo sát các quy tắc quy định mối quan hệ giữa các yếu tố của truyện huyền thoại, bằng cách cố gắng phân giải truyện thành những yếu tố cấu thành và vạch ra cái nghĩa vô thức được tìm thấy trong các quan hệ nhị phân giữa chúng. Cái lõi cấu trúc ẩn giấu này sẽ vén mở những yếu tố chính yếu của tư duy nhân loại.

Để ghi nhớ những gì ông đã đóng góp cho văn hóa nhân loại, nhất là cho sự thông hiểu lẫn nhau giữa các vũ trụ văn hóa, chúng tôi sẽ lần lượt phiên dịch để giới thiệu rộng rãi cho bạn đọc yêu quý của trang web Doxa trong vài tuần tới hai bài viết mẫu mực của ông: một là bài “Phân tích cấu trúc trong ngôn ngữ học và trong nhân loại học”, một trong những bài viết kinh điển đầu tiên của Lévi-Strauss, công bố lần đầu vào năm 1945, trong đó ông dựa vào quan niệm của Mauss về quan hệ có qua có lại để phác thảo lý thuyết của mình về quan hệ dòng họ; hai là bài “Bốn huyền thoại của người Winnebago – một phác thảo cấu trúc” (1960), trong đó ông phác họa những phương diện cơ bản của phương pháp phân tích huyền thoại của ông bằng cách so sánh bốn câu chuyện huyền thoại của người Mỹ bản địa do Paul Radin sưu tập.

(Đinh Hồng Phúc tổng lược từ các tài liệu nước ngoài, http://doxa.com.vn)

Phân tích chức năng trong nghiên cứu xã hội

VNSW xin trân trọng giới thiệu bài viết “Phân tích chức năng trong nghiên cứu xã hội” của tác giả Bùi Thế Cường. Bài viết này đư­a ra một trình bày tóm tắt về lịch sử của phư­ơng pháp phân tích chức năng trong xã hội học, đề cập theo trình tự thời gian một số khuynh hướng và tác giả chính. Đây là một chuyên đề trong Đề tài KX.02.10 “Các vấn đề xã hội và môi trư­ờng của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (2001-2005).

1. NHẬP ĐỀ

Trong ngôn ngữ lý luận xã hội học, khi nói đến chức năng người ta có thuật ngữ then chốt là functionalism, đôi khi được dịch là chủ nghĩa chức năng (một từ hay gây hiểu nhầm do cái hàm nghĩa “chủ nghĩa” trong văn cảnh ngôn ngữ Việt). Bên cạnh đó lý luận xã hội học còn một loạt cụm từ tương đương hoặc gần gũi: lý thuyết chức năng, phân tích chức năng, quan điểm chức năng, … Trong bài này, thuật ngữ then chốt trên được dùng với những từ khác nhau như: chủ nghĩa chức năng, quan điểm chức năng, cách nhìn chức năng, chức năng luận, lý thuyết (thuyết, lý luận) chức năng, tuỳ thuộc văn cảnh tiếng Việt.

Một số tác giả phân biệt, còn một số tác giả khác lại không phân biệt, giữa cái tạm gọi là chủ nghĩa chức năng với cách phân tích chức năng. Có vẻ như cả hai đều có lý đúng và không đúng. Cách phân tích chức năng khó thoát ra khỏi một mức độ “chủ nghĩa” nào đó. Nhưng đến một thời, chủ nghĩa chức năng không còn nữa, nó bị vượt qua, song cái còn lại là cách phân tích chức năng. Trong bài diễn văn Chủ tịch Hội Xã hội học Mỹ năm 1964, G. C. Homans phân biệt rõ giữa phân tích chức năng như là phương pháp với lý thuyết chức năng. Ông nói: “Nơi mà chức năng luận thất bại không phải là ở những mối quan tâm thực nghiệm của nó, mà là ở chỗ nó tự coi mình là lý thuyết đại cương… Trong Diễn văn Chủ tịch gần đây, Kingsley David cho rằng tất cả chúng ta hiện giờ đều là những nhà chức năng. Theo một nghĩa nào đó, ông hoàn toàn đúng. Nhưng cần nhớ rằng ông đang nói về sự phân tích chức năng. Một nhà nghiên cứu tiến hành phân tích chức năng khi, xuất phát từ sự tồn tại của một thiết chế cụ thể, anh ta cố gắng tìm ra sự khác biệt nào mà thiết chế ấy đóng góp cho những khía cạnh khác của cấu trúc xã hội. Nghĩa là, anh ta đang thực hiện thao tác thực nghiệm của chức năng luận. Vì tất cả chúng ta đều đã học cách tiến hành phân tích chức năng, nên theo nghĩa này chúng ta đều là nhà chức năng luận cả. Nhưng phân tích chức năng, với tính cách là một phương pháp, không đồng nhất với lý thuyết chức năng. Và nếu như tất cả chúng ta đều là nhà phân tích chức năng, thì chắc chắn không phải ai cũng là nhà lý thuyết chức năng. It nhất thì cũng đừng tính tôi vào số đó” (Homans, 1964, trang 811).

Với tính cách là một quan điểm (cách nhìn), một lý thuyết, một phương thức phân tích (mode of analysis), chủ nghĩa chức năng được xem là lâu đời nhất và phổ biến nhất trong xã hội học. Phân tích xã hội bằng phương pháp loại suy (analogy) với cơ thể sinh học và đánh giá các thiết chế xã hội về mặt vai trò mà chúng đóng trong đời sống xã hội là những giả thuyết chính của lý thuyết chức năng. Chúng thuộc về những hình thái cổ nhất của việc lý thuyết hóa xã hội, có thể tìm thấy trong di sản tư tưởng Hy Lạp cổ đại, cũng như phương Đông cổ đại.

Nhà triết học Hy Lạp cổ Plato (428-348 B.C.) cho rằng con người là một sinh vật có ba nhu cầu cơ bản để tồn tại: ăn, ở và mặc. Họ tổ chức nhau lại thành những nhóm để thoả mãn các nhu cầu. Từ đó nảy sinh các nhóm nghề nghiệp, chẳng hạn những người chuyên săn bắn hay hái lượm, kết quả là diễn ra sự phân công lao động. Hàm chứa trong lập luận của Plato là quan niệm rằng xã hội là kết quả của việc con người liên minh với nhau để thoả mãn các nhu cầu cơ bản. Vì họ có những nhu cầu cơ bản nên con người xây dựng nên sự hài hoà xã hội hay các giá trị chung, điều tạo nên cái gọi là “tinh thần xã hội” (social mind), liên kết xã hội. Tư tưởng Hy Lạp cổ điển về cơ thể hữu cơ đã xuyên qua thời gian ảnh hưởng đến triết học xã hội thời kỳ Khai sáng, tư tưởng xã hội thế kỷ XIX, và tới tận ngày nay.

Các nhà xã hội học cổ điển trong thời kỳ mở đầu xã hội học (thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX) đều ít nhiều sử dụng tiếp cận xã hội học hữu cơ trong đó bao hàm cách giải thích chức năng. Thuyết chức năng đạt tới vị trí phổ biến, được chấp nhận như là lý luận của xã hội học hiện đại trong xã hội học Mỹ những năm trước và sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Nhưng rồi đã bị phê phán mạnh trong thập niên 1960-1970. Vào thập niên 1980, nó lại phục hưng với cái nhãn “tân chức năng luận” (neo-functionalism). Bằng cách giữ lại một vài giả định của lý thuyết chức năng truyền thống, loại bỏ một vài cái khác, vay mượn một số cách nhìn của các tiếp cận khác, các nhà lý thuyết tân chức năng cố gắng tiếp thêm sinh lực cho chức năng luận để tiếp tục là một công cụ của phân tích xã hội học đương đại.

2. Ý TƯỞNG CƠ BẢN CỦA QUAN NIỆM CHỨC NĂNG

Trong một thời gian dài thời trung cổ châu Âu, ngành giải phẫu học phát triển mạnh, có lẽ do nhu cầu của chiến tranh và hội họa. Việc chạy chữa cho thương binh cũng như việc vẽ tranh đều khiến người ta cần hiểu biết tốt hơn về cấu tạo cơ thể người, muốn thế phải tiến hành giải phẫu cơ thể. Cần nói thêm, vào thời đó việc giải phẫu tử thi là điều cấm kỵ của Nhà thờ, có thể chịu những hình phạt nặng nề nhất. Nhưng có lẽ đây là nhu cầu bức thiết, thậm chí phục vụ cho cả những điều mong muốn của Nhà thờ (phát triển hội họa, điêu khắc ở các công trình kiến trúc), nên ngành giải phẫu học đã có những bước tiến rất sớm. Giải phẫu có nghĩa là đặt ra những câu hỏi nghiên cứu chủ chốt: có những cơ quan nào trong cơ thể, các cơ quan đó làm cái gì, hoạt động như thế nào, chúng có chức năng gì đối với toàn cơ thể. Việc trả lời những câu hỏi trên đã làm hình thành nên quan điểm chức năng, với thời gian nó được sử dụng trong rất nhiều ngành khoa học. Có thể nói quan điểm chức năng là một phương thức phân tích cổ nhất và phổ biến nhất trong khoa học xã hội.
/* Style Definitions */
table.MsoNormalTable
{mso-style-name:”Table Normal”;
mso-tstyle-rowband-size:0;
mso-tstyle-colband-size:0;
mso-style-noshow:yes;
mso-style-parent:””;
mso-padding-alt:0in 5.4pt 0in 5.4pt;
mso-para-margin:0in;
mso-para-margin-bottom:.0001pt;
mso-pagination:widow-orphan;
font-size:10.0pt;
font-family:”Times New Roman”;
mso-ansi-language:#0400;
mso-fareast-language:#0400;
mso-bidi-language:#0400;}

Việc phân tích xã hội bằng cách loại suy nó với cơ thể hữu cơ sinh học và xem xét các thiết chế xã hội trong vai trò của chúng đóng góp cho xã hội, đây là tiền đề cơ bản của cách phân tích chức năng trong xã hội học.

Có thể tóm tắt tư tưởng cơ bản của chức năng luận như sau. Bất kỳ một hệ thống ổn định nào cũng bao gồm những bộ phận khác nhau nhưng liên hệ với nhau, chúng cùng nhau vận hành để tạo nên cái toàn bộ, tạo nên sự ổn định hệ thống. Có thể xem là hiểu được một bộ phận trong hệ thống khi hiểu được cái cách mà nó đóng góp vào sự vận hành của hệ thống. Sự đóng góp vào việc vận hành ổn định của hệ thống được gọi là chức năng. Các bộ phận có tầm quan trọng chức năng khác nhau đối với hệ thống.

3. CHỨC NĂNG LUẬN CỦA SPENCER

Herbert Spencer (1820-1903) là một trong những học giả của thời kỳ xã hội học cổ điển sử dụng phép loại suy hữu cơ để so sánh một cách có hệ thống giữa xã hội với cơ thể sống. Nhưng chính ông cũng đã nhấn mạnh sự khác nhau giữa chúng, do đó ông gọi xã hội là một loại cơ thể siêu hữu cơ (superorganic body). Loại suy của ông bao hàm cả việc so sánh sự tương đồng cũng như khác biệt giữa hai loại hình ấy.

Sự tương đồng thể hiện ở chỗ cả hai loại cơ thể đều tăng lên về kích cỡ và cấu trúc, qua thời gian chúng trở nên phức thể và khác biệt hóa. Khác biệt hóa của các cấu trúc đi liền với khác biệt hóa các chức năng. Mỗi cấu trúc được khác biệt hóa phục vụ cho những chức năng nhất định để duy trì đời sống/sự tồn tại của cái tổng thể. Các cấu trúc và chức năng được khác biệt hóa đòi hỏi sự liên kết thông qua sự phụ thuộc lẫn nhau. Mọi cấu trúc chỉ có thể tồn tại và vận hành thông qua sự phụ thuộc của chúng vào những cấu trúc khác. Mỗi cấu trúc đã khác biệt hóa, đến lượt nó, lại cũng là một tổng thể riêng biệt bao gồm những thành tố tạo nên nó. Mỗi tổng thể lớn hơn bao giờ cũng chịu sự tác động của những quá trình diễn ra trong các thành tố của nó.

Ngược lại, sự khác biệt giữa hai loại cơ thể hữu cơ và siêu hữu cơ là ở mức độ kết nối giữa các thành tố với cái toàn thể. Trong loại cơ thể siêu hữu cơ, sự kết nối này ít trực tiếp hơn và mang tính khuyếch tán hơn. Phương thức tiếp xúc giữa các thành tố trong cơ thể siêu hữu cơ chủ yếu dựa nhiều hơn vào biểu trưng. Mọi thành tố trong cơ thể siêu hữu cơ đều là có ý thức, tìm kiếm mục tiêu và có khả năng phản tỉnh. Điều này chỉ có ở một đơn vị thành tố trong cơ thể hữu cơ.

Điểm nổi bật trong quan điểm của Spencer là ông phát triển cái gọi là chức năng luận “yêu cầu” (requisite). Cả hai loại cơ thể đều phải phát hiện những nhu cầu hay đòi hỏi (requisite) phổ quát cơ bản mà phải được thoả mãn để các cơ thể này có thể thích ứng với môi trường. Những nhu cầu hay đòi hỏi mà các cấu trúc phải thoả mãn bao gồm việc bảo đảm và phân bố nguồn lực, sản xuất ra các vật chất cơ bản, điều chỉnh và liên kết các hoạt động bên trong thông qua quyền lực (power) và biểu trưng. Những diễn tiến căn bản của mọi hệ thống đều xoay quanh các quá trình mà chúng vận hành để đáp ứng các đòi hỏi phổ quát nói trên. Mức độ thích ứng với môi trường của xã hội được quyết định bởi mức độ mà nó đáp ứng được các đòi hỏi mang tính chức năng đó.

Như vậy, theo Spencer, việc phân tích các cơ thể hữu cơ và siêu hữu cơ là xem xét các quá trình quyết định việc liên kết các phần được khác biệt hóa, các nhu cầu cho việc duy trì các bộ phận, các nhu cầu cho việc sản xuất và phân phối thông tin và vật chất, các nhu cầu cho việc điều chỉnh và kiểm soát chính trị.

Trong những kiểu cơ thể đơn giản, các nhu cầu này được đáp ứng bởi mọi thành tố của hệ thống. Trong những kiểu cơ thể đã tăng trưởng và phức thể hơn thì các nhu cầu được đáp ứng bởi các kiểu đặc thù, chuyên môn hóa. Có sự song hành giữa tính phức thể tăng lên của hệ thống với việc chia nhỏ hơn các kiểu nhu cầu cần đáp ứng, chuyên môn hóa hơn các cấu trúc đặc thù để đáp ứng nhu cầu. Logic của hình thái chức năng luận “yêu cầu” này đã chỉ đạo sự phân tích của Spencer và vẫn còn là bản chất của các phân tích chức năng hiện nay. Danh sách các nhu cầu cơ bản thì khác nhau nhưng cách phân tích thì là một, đó là xem xét các kiểu của các quá trình và cấu trúc xã hội mà chúng đáp ứng những nhu cầu hay đòi hỏi (requisite).

4. CHỨC NĂNG LUẬN CỦA DURKHEIM

Mặc dù một số nhà xã hội học cổ điển đã khởi xướng chức năng luận trước ông, Emile Durkheim (1858-1917) vẫn được coi là người đầu tiên xây dựng khái niệm chức năng một cách có hệ thống và áp dụng vào nghiên cứu khoa học chặt chẽ đối với đời sống xã hội. Ông phát triển chức năng luận như là một cách thức phân tích xã hội học. Durkheim rất hay sử dụng mô hình hữu cơ trong phân tích. Mô hình này nhìn xã hội như một tổng thể hữu cơ, mỗi bộ phận hợp thành của nó hoạt động để duy trì các bộ phận còn lại, cũng giống như các bộ phận của cơ thể hoạt động để duy trì cả cơ thể. Tư tưởng này là cơ sở cho quan niệm của ông về gắn kết hữu cơ.

Quan điểm cơ bản của Durkheim thể hiện ở chỗ ông xem xã hội là một tổng thể “trong bản thân nó” mà khác biệt với các bộ phận hợp thành, và không thể quy giản về các bộ phận hợp thành. Phân tích xã hội học phải đặt ưu tiên vào cái tổng thể xã hội ấy. Việc phân tích các thành tố bộ phận có nghĩa là xem xét chúng hoàn thành các chức năng, nhu cầu, đòi hỏi cơ bản của cái toàn thể như thế nào. Xã hội có thể tồn tại trong trạng thái khoẻ mạnh/bình thường hoặc là ốm yếu/bất bình thường, điều này liên quan đến “các nhu cầu mang tính chức năng”. Để tồn tại một cách mạnh khoẻ hay bình thường, các hệ thống xã hội có những nhu cầu mà chúng phải được đáp ứng. Các hệ thống có những điểm cân bằng, ở đó diễn ra sự vận hành bình thường (mô hình cân bằng của xã hội).

Durkheim phân biệt cách giải thích chức năng và cách giải thích lịch sử, và cho rằng cả hai đều cần thiết. Kiểu giải thích đầu tìm cách lý giải sự tồn tại của một hiện tượng hay một hành động bằng cách chỉ ra đóng góp của nó vào việc duy trì một tổng thể xã hội. Giải thích chức năng về tình trạng tội phạm có thể cho rằng tác dụng của tình trạng đó là vạch rõ cái ranh giới của những ứng xử được và không được chấp nhận về mặt xã hội. Thiết chế tôn giáo tồn tại là để tạo ra và duy trì sự cố kết xã hội. Cách giải thích lịch sử lý giải sự phát triển theo trình tự thời gian của cùng một hiện tượng hay hoạt động.

Công trình “Những hình thái sơ đẳng của đời sống tôn giáo” (Les formes élémentaires de la vie religieuse) là một ví dụ rõ rệt nhất về phân tích chức năng như là một công cụ của xã hội học của Durkheim. Trong công trình này, ông nghiên cứu chức năng của tôn giáo đối với xã hội. Theo ông, sự tồn tại của tôn giáo trong xã hội chứng tỏ nó có một chức năng: góp phần duy trì sự thống nhất đạo đức trong xã hội. Những nghi lễ tôn giáo góp phần củng cố sự đoàn kết các thành viên trong một xã hội: chúng chỉ ra cho các thành viên thấy rằng tất cả họ là phần tử của cùng một xã hội, cùng có chung những quy tắc cơ bản về đạo đức, mong đợi và trách nhiệm (R. Collins, 1992. Xem một trích đoạn trong: Bùi Thế Cường, 2006).

5. NHÂN CHỦNG HỌC CHỨC NĂNG NỬA SAU THẾ KỶ XX

Truyền thống chức năng luận Durkheim được tiếp nối trong nhân chủng học nửa đầu thế kỷ XX chủ yếu ở Anh với hai đại diện nổi bật: Alfred R. Radcliffe-Brown (1881-1955) và Bronislaw Malinowski (1884-1942).

Một trong những điểm yếu của chức năng luận khiến nó bị phê phán là ở chỗ cách phân tích chức năng dễ mang tính mục đích luận (teleology). Tính mục đích luận thể hiện ở lập luận: hệ quả của một sự kiện là nguyên nhân tạo ra sự kiện đó, mọi cái toàn thể đều có “dự định, mục đích” và nhu cầu duy trì cái toàn thể đã là nguyên nhân tạo ra sự tồn tại của các thành tố của nó. Durkheim cũng đã thấy điểm yếu này, ông nhấn mạnh cần phân biệt rõ nguyên nhân của một hiện tượng với các mục tiêu mà hiện tượng đó phải phục vụ. Nói cách khác, Durkheim yêu cầu phân tích chức năng phải phân biệt “nguyên nhân” và “chức năng”. Tuy nhiên, như các nhà phê bình đã chỉ ra, nhiều nghiên cứu chức năng luận thường rơi vào cái bẫy mục đích luận.

Để khắc phục hạn chế nói trên, Radcliffe-Brown thay thế khái niệm “nhu cầu” của hệ thống bằng khái niệm “các điều kiện cần thiết để tồn tại”. Như vậy, không có những nhu cầu mang tính phổ quát, thay vào đó là một câu hỏi mang tính thực nghiệm: các điều kiện nào cần cho sự tồn tại của một hệ thống cụ thể đang được nghiên cứu. Thêm nữa, ông cũng nhấn mạnh các điều kiện như thế có thể là rất đa dạng. Radcliffe-Brown cho rằng một điều kiện tất yếu cho sự tồn tại của một xã hội là ở chỗ phải có một sự liên kết tối thiểu các thành tố của nó. Khái niệm chức năng liên quan đến những quá trình duy trì sự liên kết cần thiết này. Như vậy, trong một xã hội, các đặc trưng cấu trúc có thể được xem là những đặc trưng đóng góp vào việc duy trì sự liên kết. Do đó, phân tích chức năng đối với một hiện tượng xã hội, theo Radcliffe-Brown, là tìm kiếm xem nó có đóng góp gì vào việc duy trì liên kết của xã hội. Radcliffe-Brown đã thực hiện những phân tích chức năng luận trong thực nghiệm, chẳng hạn về hệ thống phân chia đất theo dòng họ (lineage system). Các hệ thống này là một cách thức điều chỉnh xung đột, duy trì sự đoàn kết xã hội.

Malinowski chú trọng vận dụng ý tưởng của Spencer về các cấp độ khác nhau của hệ thống: sinh học, cấu trúc xã hội và biểu trưng. Trong mỗi cấp độ có những nhu cầu cơ bản hoặc những yêu cầu mang tính sống còn mà nhất thiết phải được đáp ứng để đảm bảo cho sự tồn tại mang tính sinh học, sự liên kết về mặt cấu trúc xã hội và sự thống nhất văn hóa. Các cấp độ này tạo nên một kết cấu mang tính thứ bậc: từ hệ thống sinh học ở cấp độ cơ bản bên dưới, tiếp đến là cấp độ cấu trúc xã hội, và trên cùng là hệ thống biểu trưng. Cách thức mà các nhu cầu ở cấp độ hệ thống bên dưới được thoả mãn sẽ chi phối cách thức thoả mãn nhu cầu ở cấp độ bên trên. Tuy nhiên, việc thoả mãn nhu cầu ở mỗi cấp độ về cơ bản là có tính độc lập tương đối.

Đóng góp quan trọng của Malinowski là ông nhấn mạnh đến tầm quan trọng của phân tích thiết chế và đưa ra một khung phân tích thiết chế mà ngày nay vẫn có thể ứng dụng tốt. Theo ông, thiết chế là những cách thức chung và tương đối ổn định để tổ chức các hoạt động của con người trong xã hội nhằm đáp ứng hay thoả mãn những nhu cầu hay yêu cầu cơ bản của xã hội. Những đặc trưng chung nhất của mọi thiết chế bao gồm: điều lệ (charter), con người tham gia, chuẩn mực, cơ sở vật chất, hoạt động, chức năng. Phân tích thiết chế là phân tích 6 khía cạnh đó trong sự vận hành của chúng (cấu trúc và quá trình). Đối với Malinowski, ở cấp độ cấu trúc (xã hội) có 4 yêu cầu cơ bản mang tính phổ quát: sản xuất và phân phối vật phẩm tiêu dùng, kiểm soát và điều chỉnh hành vi, giáo dục (xã hội hóa), tổ chức và điều hành các quan hệ quyền lực. Những yêu cầu này được đáp ứng bởi những thiết chế tương ứng.

6. MÔ HÌNH PHÂN TÍCH MERTON

Đối với Robert K. Merton (1910-2003), chức năng luận là một chiến lược để xếp đặt các khái niệm vào trật tự và lựa chọn những cái có ý nghĩa khỏi các quá trình và hiện tượng không có ý nghĩa. Merton cho rằng cần đặt lại vấn đề đối với ba định đề của chức năng luận trước đó. Định đề thứ nhất: liên kết xã hội là một nhu cầu tất yếu của hệ thống xã hội để tồn tại. Theo Merton, ở một mức độ nào đó, điều này là đúng. Nhưng nếu cho rằng toàn bộ xã hội phải đạt được sự thống nhất chức năng ở mức cao, thì như vậy đã bỏ qua một loạt thực tế kinh nghiệm: có những mức độ, hình thái và kiểu loại liên kết khác nhau cho những lĩnh vực khác nhau.

Định đề thứ hai: nếu tồn tại một sự kiện hay sự vật xã hội (social item) trong một hệ thống, thì nó phải có những hệ quả tích cực đối với sự liên kết của hệ thống xã hội đó. Theo Merton, trên thực tế có một loạt khả năng. Thứ nhất, một sự kiện có thể không chỉ có chức năng tích cực đối với một hệ thống hay các sự kiện khác trong hệ thống. Nó cũng có thể là phản chức năng (dysfunctional) hoặc với toàn bộ hệ thống hoặc với những sự kiện khác trong hệ thống. Thứ hai, một vài hệ quả, dù là có tính chức năng hay phản chức năng, có thể là được dự định và có tính biểu lộ (được thừa nhận theo cách thông thường). Một số hệ quả khác lại là không được dự định và tiềm ẩn (không được công nhận theo cách thông thường).

Như vậy, Merton đề nghị chức năng luận phải là sự phân tích đa dạng các hệ quả hay chức năng của các sự kiện văn hóa xã hội, xem chúng là tích cực hay tiêu cực, biểu lộ hay tiềm ẩn, và chúng là như thế với những chủ thể xã hội nào. Và xa hơn nữa, việc phân tích phải đưa ra được một sự tính toán cân bằng ròng các hệ quả của các sự kiện với nhau và với toàn bộ hệ thống.

Định đề thứ ba liên quan đến tính tất yếu không thể tránh khỏi: thứ nhất, các hệ thống xã hội có những đòi hỏi hoặc nhu cầu nhất thiết phải được đáp ứng; thứ hai, có những cấu trúc cơ bản mang tính tất yếu để đáp ứng những chức năng tất yếu. Merton đồng ý với khía cạnh đầu tiên của định đề này, nhưng ông cho rằng việc phân tích các đòi hỏi/nhu cầu mang tính chức năng phải đứng vững trên cơ sở thực nghiệm đối với những hệ thống cụ thể, cần tránh chiều hướng đi ngược từ những giả định trừu tượng có thể áp dụng cho mọi hệ thống, mọi trường hợp. Đối với khía cạnh thứ hai của định đề, Merton cho rằng bằng chứng thực nghiệm hoàn toàn không xác nhận như thế. Có những cấu trúc khác hẳn nhau có thể đáp ứng cho cùng một đòi hỏi/nhu cầu chức năng trong những hệ thống giống nhau hoặc rất khác nhau. Vì vậy, phân tích chức năng phải tính đến những kiểu loại khác nhau mà Merton gọi là “những thế lựa chọn chức năng khác” (functional alternatives), “những ngang giá về chức năng” (functional equivalents), “những thay thế chức năng” (functional substitutes) trong một hệ thống.

Nói cách khác, chức năng luận không được nhìn nhận các sự kiện xã hội của một hệ thống là những gì tất yếu không tránh khỏi về mặt chức năng. Nó phải tìm hiểu được một loạt những lựa chọn chức năng tiềm tàng, vì sao trong một loạt khả năng như thế cái lựa chọn hiện tại đã được thực hiện, điều đó là do những bối cảnh và giới hạn cấu trúc nào. Đây phải là một phần của phân tích chức năng khi nhà nghiên cứu tìm hiểu những quá trình cụ thể khiến cho một sự kiện nổi lê

Việc phân tích xã hội bằng cách loại suy nó với cơ thể hữu cơ sinh học và xem xét các thiết chế xã hội trong vai trò của chúng đóng góp cho xã hội, đây là tiền đề cơ bản của cách phân tích chức năng trong xã hội học.

Có thể tóm tắt tư tưởng cơ bản của chức năng luận như sau. Bất kỳ một hệ thống ổn định nào cũng bao gồm những bộ phận khác nhau nhưng liên hệ với nhau, chúng cùng nhau vận hành để tạo nên cái toàn bộ, tạo nên sự ổn định hệ thống. Có thể xem là hiểu được một bộ phận trong hệ thống khi hiểu được cái cách mà nó đóng góp vào sự vận hành của hệ thống. Sự đóng góp vào việc vận hành ổn định của hệ thống được gọi là chức năng. Các bộ phận có tầm quan trọng chức năng khác nhau đối với hệ thống.

Lý thuyết tương tác biểu trưng

Với tư cách là một viễn tượng xã hội học riêng biệt, thuyết tương tác biểu trưng nổi lên từ truyền thống triết học dụng hành Mỹ. Cách tiếp cận này được xây dựng vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 trong các bài viết của Charles S. Pierce, William James và John Dewey (1859-1925). Các nhà tư tưởng này đã thách thức thế giới quan cơ học và những giả định nhị nguyên của thuyết duy lý cổ điển, vốn là triết học đã ngự trị tư tưởng Tây phương từ thế kỷ 17.

Triết học dụng hành (pragmatism) đi vào xã hội học hầu như là trực tiếp qua các bài viết và các bài giảng của Georg Herbert Mead, là người tìm cách biến những thức nhận của các nhà tư tưởng dụng hành thành một lý thuyết và phương pháp cho các khoa học xã hội. Khi làm như vậy, Mead đã tìm thấy nguồn cảm hứng lớn nhất của mình từ các công trình triết học của John Dewey, một người bạn và là đồng nghiệp của ông tại trường Đại học Chicago. Dựa trên những ý niệm rất có ảnh hưởng của Dewey, Mead phát triển một nghiên cứu xã hội học một cách sâu sắc về ý thức, sự ích kỷ và hành vi của con người – một nghiên cứu hiểu và giải thích những hiện tượng này như là những sản phẩm của các quá trình xã hội, đặc biệt là các quá trình tương tác và giao tiếp.

Mead đưa những lý thuyết có tính chất đột phá của mình về ý thức, tính tự kỷ và hành vi vào chung một giáo trình tâm lý học xã hội mà ông dùng để giảng tại Chicago – giáo trình dành cho các sinh viên đại học ngành xã hội học cũng như ngành triết học. Trong giáo trình này và trong cuốn sách nổi danh của Mead, Mind, Self, and Society/ Tâm thức, bản ngã và xã hội (1934), vốn được nảy sinh từ các ghi chép của học trò về những lời ông giảng, các lý thuyết của ông đã khơi nguồn cảm hứng cho nhiều sinh viên. Một trong những sinh viên ấy là Herbert Blumer, trở thành một nhà xã hội học kiệt xuất, là người đấu tranh cho những công lao và tính khả dụng của các lý thuyết của Mead đối với phân tích xã hội học. Vào cuối những năm 1960 Blumer tập hợp một số bài viết riêng của mình (sử dụng và bàn rộng thêm những ý niệm của Mead) thành một quyển sách có nhan đề Symbolic Interactionism/ Thuyết tương tác biểu trưng (1969). Quyển sách này sớm được thừa nhận như là phát ngôn chính cho viễn tượng thuyết tương tác biểu trưng.

Thoạt đầu, Blumer đặt ra thuật ngữ “thuyết tương tác biểu trưng” vào năm 1937 khi viết một tiểu luận về tâm lý học xã hội cho một quyển sách giáo khoa khoa học xã hội. Trong tiểu luận này Blumer nhấn mạnh đến việc công trình của Mead đã đưa ra cái cơ sở cho một tiếp cận tâm lý học xã hội mới, là tiếp cận đã tổng hợp và vượt lên những tiếp cận ngự trị đương thời: thuyết hành vi và lý thuyết tiến hóa, như thế nào. Blumer có nói đến điều này: tiếp cận mới như là “thuyết tương tác biểu trưng”. Vì điều này, Mead thường được coi là người sáng lập của viễn tượng thuyết tương tác biểu trưng (còn gọi là Trường phái Chicago trong xã hội học) cho dù phân tích của Blumer sử dụng một cách nặng nề những ý niệm của các nhà lý thuyết khác: Robert Park, W. I. Thomas, và Ernest Burgess, và theo một số nhà phê phán, những ý niệm ấy khác với các bài viết của Mead trên những phương diện quan trọng.

Trong khi nhận diện Mead như là nhà sáng lập ra thuyết tương tác, chính Blumer đã giữ vai trò là người đề xuất chủ chốt cho viễn tượng này. Cùng với một trong các đồng nghiệp của mình là Everett Hughes, ông có một sự ảnh hưởng quan trọng đến một nhóm sinh viên mà ông đào tạo tại trường Đại học Chicago vào những năm 1940 và đầu những năm 1950. Nhóm người này, gồm cả một số học giả trứ danh như: Howard Becker, Erving Goffman, và Anselm L. Strauss, đã phát triển hơn nữa viễn tượng thuyết tương tác biểu trưng và được biết đến là Trường phái Chicago thứ hai. Cũng như những người ủng hộ cho những viễn tượng trí tuệ khác với mức độ mến mộ và thâm niên nào đó, các nhà tương tác biểu trưng thường xuyên tranh luận về những niềm tin cốt lõi, những lý giải lý thuyết, và sự thích hợp của những phương pháp, những chủ đề hay những phong cách nghiên cứu có tính chất đặc thù. Cho dù những lĩnh vực của họ còn bất đồng ý kiến, nhưng các nhà tương tác luận vẫn chia sẻ những cách nhìn và những giả định chung nào đó. Trung tâm cho viễn tượng của họ là ba tiền đề được Blumer phát biểu sau đây: “Tiền đề thứ nhất là con người hành động hướng về những sự vật trên cơ sở của những nghĩa mà các sự vật ấy có đối với họ … Tiền đề thứ hai là nghĩa của những sự vật ấy được phái sinh từ, hay nảy sinh từ, sự tương tác xã hội của con người ta với những người đồng hội của mình. Tiền đề thứ ba là những nghĩa này được xử lý, và được thay đổi, trong một tiến trình lý giải của ai đó khi xử lý những sự vật mà mình gặp phải.” (1969: 2)

Trong khi những tiền đề này giữ vai trò như là một nguồn cảm hứng chung, các nhà tương tác luận luận chứng về việc làm thế nào để lý giải chúng một cách đúng đắn. Chẳng hạn, một số người nhấn mạnh rằng toàn bộ nghĩa được thương lượng trong sự tương tác và các cấu trúc xã hội thoạt đầu giữ vai trò là một phông nền cho sự tương tác này – tức là, các cấu trúc là cái gì đó mà người ta xét đến khi họ tạo ra, thương lượng và hành động theo những nghĩa trong những sự tương tác đang diễn ra ở họ. Những người khác lại ngả về một quan niệm cấu trúc luận hơn, nhấn mạnh rằng các cấu trúc xã hội lắng đọng lại thành sự tương tác, áp đặt những cưỡng chế lên sự sáng tạo và thương lượng về các nghĩa. Đoạn văn của Blumer có thể được hiểu là ủng hộ cho cả hai quan niệm trên. Vượt khỏi những hàm ý của đoạn văn này, những tranh luận sôi nổi diễn ra về những tiền giả định nào là không thể thiếu đối với phân tích tương tác luận biểu trưng về những chủ đề như: bản ngã, xúc cảm, tương tác, quyền lực, tổ chức, và hành động tập thể. Thế nhưng ngay cả khi trong khí nóng của sự tranh luận này, các nhà tương tác luận đều đồng ý với nhau về một điểm then chốt: ba tiền đề của Blumer đã cung cấp phần cốt lõi cho viễn tượng lý thuyết của họ.

Cho dù những tiền đề này giữ vai trò là những viên đá đặt nền cho viễn tượng thuyết tương tác, thì một số giả định mặc nhiên khác thấm nhuần và dẫn dắt viễn tượng này, bằng cách mang lại cho nó những nền tảng triết học.

Con người là những sinh vật có một không hai vì năng lực sử dụng các biểu trưng của mình. Khi rút ra những thức nhận của Mead, các nhà tương tác luận biểu trưng nhấn mạnh ý nghĩa của những năng lực biểu trưng của con người. Vì con người sử dụng và dựa vào những biểu trưng, nên thông thường họ không phản ứng lại sự kích thích theo một phương cách trực tiếp và tự động; thay vào đó, họ gán cho sự kích thích những nghĩa mà họ kinh nghiệm và sau đó hành động dựa theo những nghĩa này. Hành vi của họ vì thế là khác một cách rõ rệt với hành vi của những cơ thể sinh vật khác, là những cơ thể hành động theo một phương cách mang tính bản năng hơn hay phương cách dựa trên sự phản xạ. Như Blumer nhấn mạnh, những sự vật không tự mình mà có nghĩa. Đúng hơn, các nghĩa của sự vật phái sinh từ và xuất hiện thông qua sự tương tác xã hội. Con người biết được các sự vật có nghĩa gì khi họ tương tác với nhau. Khi làm như vậy, họ đặt nặng vào ngôn ngữ và các quá trình giao tiếp mà nó tạo điều kiện thuận lợi. Qua các quá trình này, con người học được cách làm thế nào để xác định và hành động hướng tới những đối tượng, những sự kiện, và những kinh nghiệm tạo thành môi trường của họ. Về thực chất, họ học cách để xem và phản ứng lại những thực tại được trung giới một cách biểu trưng – những thực tại được cấu tạo về mặt xã hội.

Con người trở nên người hơn qua việc họ tương tác với nhau. Các nhà tương tác luận biểu trưng cho rằng con người sở đắc những phẩm tính người rất riêng, và có thể có hành vi mang tính người rất riêng, chỉ qua việc họ liên đới với những người khác. Theo các nhà tương tác luận, những phẩm tính và những hành vi người có một không hai này bao gồm năng lực sử dụng những biểu trưng, tư duy và vạch ra những kế hoạch, đảm nhiệm vai trò của những người khác, phát triển một ý thức về bản ngã, và năng lực tham dự vào những hình thái phức tạp hơn của sự giao tiếp và sự tổ chức xã hội. Các nhà tương tác luận không tin rằng người ta sinh ra đã là người. Thay vào đó họ cho rằng con người ta phát triển thành những tồn tại mang tính người rất riêng khi họ tham gia vào sự tương tác xã hội. Trong khi thừa nhận rằng con người ta được sinh ra với những thứ “phần cứng” về sinh học (chẳng hạn như có một hệ thần kinh phát triển cao), là cái đã ban cho họ tiềm năng trở thành người hoàn toàn, thì các nhà tương tác luận nhấn mạnh rằng việc họ dính líu với xã hội là thiết yếu cho việc thực hiện hóa tiềm năng này.

Con người là những hữu thể có ý thức, biết tự-phản tư, và luôn chủ động định hướng hành vi của mình. Những năng lực quan trọng nhất mà con người phát triển qua việc họ dính líu với xã hội, hay sự tương tác xã hội, là “tâm thức” và “bản ngã”. Như Mead quan sát thấy, khi phát triển năng lực xem mình như là những đối tượng và phản ứng lại với mình cũng như là những đối tượng, các cá đang học cách tương tác với bản thân mình, hay học cách tư duy. Trong lúc tư duy, con người nhào nặn ra nghĩa của những đối tượng, bằng cách chấp nhận, bác bỏ, hay thay đổi chúng cho phù hợp với những định nghĩa ấy và những hành vi theo sau. Rồi sau đó, hành vi là một sự tác động qua lại giữa các kích thích xã hội và những phản ứng lại các kích thích ấy. Khi đưa ra khẳng định này, các nhà tương tác luận mang lấy một hình ảnh ý chí luận của hành vi con người. Họ cho rằng con người ta rèn luyện một yếu tố tự chủ quan trọng trong những hành động của mình. Đồng thời, các nhà tương tác luận hiểu rằng một loạt các nhân tố xã hội như: ngôn ngữ, văn hóa, chủng tộc, tính sắc tộc, tầng lớp xã hội, và giới cưỡng ép các lý giải và các hành vi của con người ta. Vì thế, các nhà tương tác luận có thể được xem là những nhà duy nhiên cẩn trọng hay các nhà quyết định luận ôn hòa; họ tiền-thiết định rằng các hành động của con người chịu ảnh hưởng chứ không phải là bị quy định bởi những sự kiện trước đó hay bởi những lực xã hội hay những lực sinh học.

Con người là những sinh vật hành động trong những hoàn cảnh và theo những hoàn cảnh có chủ đích. Theo các nhà tương tác luận, con người không thể nào thoát khỏi hành vi của mình, như độ căng trong một thanh lò xo, trong sự phản ứng lại những xung năng sinh học, những nhu cầu tâm lý hay những mong đợi xã hội. Nói đúng hơn, con người hành động theo những hoàn cảnh. Nói cách khác, con người kiến tạo hành vi dựa trên nghĩa mà họ gán cho cái hoàn cảnh đặc thù trong đó họ nhận ra chính mình. Nghĩa, hay sự định nghĩa về hoàn cảnh, này nảy sinh từ những sự tương tác đương diễn ra với người khác. Tức là, con người xác định nghĩa nào được gán cho một hoàn cảnh và cách thức hành động theo hoàn cảnh qua việc họ xét tới những ý đồ, những hành động và những thể hiện của người khác đang bộc lộ ra. Các tác nhân (actors) nhận lấy, thương lượng và xác lập những định nghĩa về một hoàn cảnh thông qua các tiến trình của sự tương tác biểu trưng.

Xã hội người là ở chỗ con người ta tham gia vào sự tương tác biểu trưng. Các nhà tương tác luận khác với các nhà xã hội học khác trong quan niệm của mình về xã hội và mối quan hệ giữa xã hội với cá nhân. Theo Blumer, các nhà tương tác luận quan niệm xã hội như là một quá trình hay thay đổi nhưng được cấu trúc hóa, đó chính là quá trình các cá nhân đang tương tác với nhau. Quá trình này được có căn cứ ở năng lực giả định những viễn tượng của nhau, điều chỉnh và phối kết những hành vi đang bộc lộ ra, và năng lực giao tiếp về mặt biểu trưng và lý giải những hành vi giao tiếp này nơi các cá nhân. Việc nhấn mạnh xã hội chính là con người hành động và tương tác trên bình diện biểu trưng cho thấy các nhà tương tác luận không cùng quan điểm với các lý thuyết tâm lý học ở chỗ các thuyết này xem xã hội như là cái hiện hữu tiên khởi trong đầu ta, hoặc dưới dạng những lịch sử thưởng phạt (reward histories) hoặc dưới dạng những nhận thức được định hướng về mặt xã hội. Các nhà tương tác luận cũng rời khỏi những viễn tượng cấu trúc luận, là những viễn tượng xem xã hội là một tồn tại vật chất khi cho rằng xã hội tồn tại độc lập với các cá nhân và quy định các hành động thông qua những quy tắc, những vai trò, những vị thế, hay những cấu trúc mà nó áp đặt. Trong khi thừa nhận rằng những cá nhân được sinh ra trong một xã hội, vốn là cái định ra khung khổ cho những hành động qua các mô hình về nghĩa và sự thưởng phạt, thì các nhà tương tác luận nhấn mạnh rằng con người chủ động định hình những bản sắc và những hành vi trong việc đưa ra những bản thiết kế, tìm kiếm những mục tiêu, và tương tác với người khác trong những hoàn cảnh riêng biệt. Họ cũng nhấn mạnh rằng xã hội và cấu trúc là những sản phẩm của con người, được xây dựng trên sự hành động chung (joint action). Vì thế, như Charles Horton Cooley lưu ý trong Bản tính con người và trật tự xã hội (Human Nature and Social Order), “xã hộicá nhân không biểu thị những hiện tượng tách riêng” (1902: 36-37). Con người sở đắc tính cá nhân (hay tính bản ngã) của mình, hiện thực hóa chúng qua sự tương tác, và đồng thời duy trì hay làm biến cải xã hội.

Hành vi xã hội hẳn là đơn vị nền tảng nhất của sự phân tích tâm lý học. Các nhà tương tác luận đồng lòng rằng hành vi xã hội, hay cái mà Blumer gọi là sự hành động chung, phải là mối quan tâm chính của tâm lý học xã hội. Một hành vi xã hội là hành vi xét đoán theo cách nào đó về những người khác và được dẫn dắt bởi những gì họ làm; nó được hình thành sao cho phù hợp với hành vi của người khác, nhóm khác, hay tổ chức xã hội khác. Nó phụ thuộc vào các quá trình giao tiếp và lý giải và cũng xuất hiện thông qua các quá trình này.

Điều này che đậy một loạt hành vi khác nhau của con người, từ cái bắt tay thân mật, cái hôn, cái nháy mắt, và trận đấu tay đôi cho đến buổi tiệc bia, trò chơi đá bóng, và sự gầy dựng lại niềm tin tôn giáo. Mỗi khi con người ta hướng mình đến với những người khác và những hành động của họ, không nghĩ đến việc có phải họ đang cố gắng làm tổn thương người khác, giúp đỡ người khác, làm biến đổi hay hủy diệt người khác hay không, là họ tiến hành một hành vi xã hội. Các cá nhân cố gắng làm cho những cách xử sự của mình tương xứng và phù hợp với người khác. Khi làm như vậy, họ có thể hành động như là những cá nhân hay như là những đại diện của một nhóm hay một tổ chức như nhà thờ, trường đại học, tập đoàn, hay chính quyền. Bằng việc đặt tiêu điểm vào các hành vi xã hội, các nhà tương tác luận không bị giới hạn vào việc khảo sát hành vi của những cá nhân hay thậm chí của những nhóm nhỏ, mà còn xét đến cả ứng xử xã hội của các đám đông, các ngành công nghiệp, các đảng phái chính trị, các trường học, các bệnh viện, các giáo phái tôn giáo, các nhóm nghề nghiệp, các phong trào xã hội, và truyền thông đại chúng. Được Blumer khơi nguồn cảm hứng, các nhà tương tác luận xem lĩnh vực xã hội học – và tổng quát hơn là khoa học xã hội – như là “được cấu tạo một cách chính xác bởi việc nghiên cứu về hành động chung và các tập thể tham gia vào hành động chung” (1969: 17)

Để hiểu những hành vi xã hội của con người, các nhà xã hội học cần phải sử dụng những phương pháp cho phép nhận biết tường tận các nghĩa mà con người gán cho những hành động này. Như đã lưu ý, các nhà tương tác luận nhấn mạnh ý nghĩa của sự kiện rằng con người, với tư cách là những sinh vật biết dùng các biểu trưng, hành động trên cơ sở các nghĩa mà họ gán cho các sự vật trong thế giới của mình. Đến lượt mình, các nhà tương tác luận tin rằng điều thiết yếu là phải hiểu các thế giới ấy của nghĩa và phải xem chúng như là những cá nhân hay những nhóm đang điều tra xem xét mình. Để phát triển cái nhìn của người trong cuộc này, các nhà nghiên cứu phải đồng cảm với – hay “nhập vai vào” – các cá nhân hay các nhóm mà mình nghiên cứu. Họ cũng phải quan sát và tương tác với các cá nhân hay các nhóm này một cách kín đáo. Qua việc thừa nhận một tiếp cận như vậy, các nhà nghiên cứu có thể có được một sự đánh giá sâu sắc hơn về việc các tác nhân xã hội này định nghĩa, kiến tạo và hành động theo những thực tại cấu tạo nên những thế giới hằng ngày của mình như thế nào.

(Bryan S. Turner (general editor). 2006. The Cambridge Dictionary of Sociology. New York: Cambridge University Press, pp. 619-621.)

Đinh Hồng Phúc dịch, http://www.doxa.com.vn

Chương 4 Công tác xã hội: Lý thuyết và thực hành

VNSW xin trân trọng giới thiệu Chương 4 với tiêu đề Kiến thức, trong Tập tài liệu Công tác xã hội: Lý thuyết và thực hành của tác giả Trần Đình Tuấn, ĐH San Jose, Hoa Kỳ:

Tất cả mọi nghề chuyên môn đều cần kiến thức để suy nghĩ, tìm hiểu, đặt câu hỏi, trả lời, và hành động. Kiến thức tăng dần theo thời gian do sự quan sát, suy nghĩ, và kinh nghiệm của nhiều người góp lại. Nhân viên CTXH vận dụng kiến thức bằng phương pháp suy tư phản biện/critical thinking. Suy tư phản biện là suy tư có những đặc tính sau:

–     Có mục đích.

–     Rốt ráo, chính xác, rõ ràng, sâu và rộng.

–     Người suy tư phản biện luôn bám sát mục tiêu suy nghĩ của mình và thường xuyên tự đặt câu hỏi “Ta đang suy nghĩ từ góc độ nào?” “Tư tưởng nào là tư tưởng trọng tâm?” “Ta đang mặc nhiên chấp nhận điều gì mà không cần kiểm chứng/assuming?” “Những thông tin ta đang sử dụng có đáng tin cậy hay không?” “Ta diễn dịch những thông tin đó như thế nào, có khách quan không?” “Ta đang tiến đến kết luận gì?  Kết luận này sẽ ảnh hưởng thế nào đến hành động của ta?”

Phương pháp suy tư phản biện giúp nhân viên CTXH vận dụng được kiến thức, hiểu được cặn kẽ vấn nạn của khách hàng và nhờ vậy có thể giúp khách hàng tìm ra được giải pháp cho vấn nạn của họ.

CTXH được xây dựng trên hai khối kiến thức: kiến thức của các khoa học khác, và kiến thức của khoa CTXH.

CTXH ban đầu được xây dựng trên kiến thức vay mượn từ các khoa học truyền thống. Chính vì vậy đầu thế kỷ 20 đã có lập luận cho rằng CTXH không phải là một khoa học và một nghề chuyên môn. Lập luận này đã bị đánh đổ từ năm 1917 qua sự ra đời của tác phẩm “Chẩn Bệnh Xã Hội”/ (Social Diagnosis, Mary Richmond). Qua thời gian, CTXH đã vững chắc vươn lên thành một khoa học không những chỉ vay mượn kiến thức của các ngành khác mà còn cho các ngành khác vay mượn kiến thức của mình: Trong tác phẩm “Thành Người”/On Becoming A Person, Carl Roger (1961) đã nhìn nhận suy tư của ông bắt nguồn từ kinh nghiệm tiếp xúc với các nhân viên CTXH trong ngành thần kinh tâm trí/psychiatric socal workers và các tổ chức CTXH chứ không phải bắt nguồn từ khoa tâm lý lâm sàng/clinical psychology. Khái niệm giúp đỡ cá nhân như một thành viên trong gia đình áp dụng rộng rãi trong nhiều ngành nghề kể cả y khoa từ thập niên 1950 bắt nguồn từ “Chẩn Bệnh Xã Hội” của Mary Richmond (1917). Khái niệm “vấn nạn trình bày”/presenting problem, chưa hẳn đã là vấn nạn thực sự, sử dụng rộng rãi trong y khoa, quản trị doanh nghiệp, tư vấn tâm lý, và CTXH, là bắt nguồn từ lý thuyết về gia đình của Virginia Satir. Trên đây chỉ là một vài trong vô số thí dụ minh hoạ sự giao lưu kiến thức giữa CTXH và các khoa học khác. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế, văn hóa, học thuật… toàn cầu hiện nay, sự giao lưu kiến thức này là lành mạnh và tích cực.

Ứng xử của con người vốn vô cùng phức tạp, vì vậy để giúp đỡ khách hàng một cách hiệu quả, nhân viên CTXH cần kiến thức của các khoa học nhân văn cũng như khoa học tự nhiên. Các khoa học nhân văn như xã hội, tâm lý, nhân chủng, sử, chính trị, kinh tế, triết… góp phần phân tích và giải nghĩa bản chất và ứng xử của con người. Các khoa học tự nhiên như sinh vật/ biology, môi sinh/ecology, y khoa, ứng xử của thú vật/ethology… cung cấp phương pháp suy tư khoa học và kiến thức về khía cạnh vật chất của con người. Dựa trên những kiến thức vay mượn này, CTXH có được sự suy tư phản biện có tính rốt ráo và dần dần xây dựng được những lý thuyết riêng, đóng góp vào túi khôn chung của nhân loại.

Sau đây là một số kiến thức căn bản cần thiết cho CTXH

4.1. Thuyết hệ thống môi sinh

4.2. Thuyết phân tâm: Tâm lý học về cái tôi

4.3. Thuyết phân tâm: các mối quan hệ biểu tượng

4.4. Thuyết vai trò

4.5. Thuyết hệ thống tâm lý gia đình

4.6. Thuyết cấu trúc gia đình

4.7. Thuyết ứng xử

4.8. Thuyết tri thức

4.9. Thuyết tri thức ứng xử

4.10. Lý thuyết CTXH trong tình huống khủng hoảng

4.11. Kiến thức về nhóm trong CTXH

4.12. Kiến thức về cộng đồng trong CTXH

4.13. Kiến thức về tổ chức trong CTXH

4.14. Kiến thức về ứng xử con người trong môi trường xã hội

4.15. Chính sách xã hội trong CTXH

(Trích từ Tập tài liêu: Công tác xã hội-Lý thuyết và thực hành, TrầnĐình Tuấn)

Chương 3. Công tác xã hội: Lý thuyết và thực hành

VNSW xin trân trọng giới thiệu Chương 3 với tiêu đề Những giá trị của Công tác xã hội, trong Tập tài liệu Công tác xã hội: Lý thuyết và thực hành của tác giả Trần Đình Tuấn, ĐH San Jose, Hoa Kỳ:

Giá trị là những yếu tố có tính chỉ đạo cho tất cả các nghề và là niềm tự hào của người làm nghề đó. Bên cạnh giá trị nghề nghiệp còn có giá trị xã hội, giá trị nhóm, và giá trị cá nhân. Giá trị xã hội là những giá trị rộng rãi, bao trùm những giá trị khác, thí dụ: công bằng, liêm chính, dân chủ, tự do, độc lập, hạnh phúc… Giá trị nhóm là giá trị của riêng từng nhóm, có thể giống hoặc khác những nhóm khác, thí dụ giá trị của hội những người bị bệnh béo phì có thể không giống với giá trị của hội những chủ nhà hàng thực phẩm ăn nhanh. Giá trị cá nhân đa dạng nhất, tùy theo ý thích và cá tính của mỗi người: thật thà, siêng năng, học giỏi, đẹp, hoạt bát, lương thiện, hiếu thảo, gan lỳ, hiền hậu, hát hay, đúng giờ, được nhiều người ngưỡng mộ… thậm chí có cả những giá trị không hẳn tích cực, thí dụ: uống rượu giỏi, đánh bạc có bản lãnh, đào hoa, v.v…

Trong CTXH, giá trị cá nhân của nhân viên CTXH có thể mâu thuẫn với giá trị của khách hàng và vì vậy có thể gây ra khó khăn. Thí dụ nhân viên CTXH có đức tin tôn giáo mạnh mẽ chống phá thai khi làm việc với khách hàng có thai do bị hiếp dâm và không có điều kiện vật chất cũng như tinh thần để nuôi con.

Để làm việc hiệu quả, nhân viên CTXH phải luôn cảnh giác, sẵn sàng tìm hiểu và chấp nhận những giá trị khác biệt, trừ khi những giá trị đó hoàn toàn ngược lại với giá trị chung của xã hội và gây nguy hại đến con người: thí dụ giá trị của tập quán cắt âm hạch trẻ gái của một số văn hóa Phi châu.

Giá trị của nghề CTXH là những giá trị sau đây, phác thảo bởi Gordon Hamilton  (1940) và đã được bản Quy Định Về Đạo Đức/Code of Ethics của Hội Nhân viên CTXH Quốc Gia (Mỹ) ghi nhận:

1. Công bằng xã hội:

Công bằng xã hội liên quan đến cách xã hội phân chia các tài nguyên cho con người sống trong xã hội đó. Công bằng xã hội là tình trạng lý tưởng trong đó tất cả thành viên của một xã hội đều được hưởng những quyền cơ bản, sự bảo vệ, cơ hội thăng tiến, bổn phận, và phúc lợi giống nhau (Barker, 1999). Bất công xã hội diễn ra khi những quyền cơ bản của người dân, được hiến pháp thừa nhận, bị xâm phạm, một số người bị đối xử với thành kiến hay bị kỳ thị, không được hưởng phúc lợi và cơ hội thăng tiến đồng đều như các thành phần được ưu đãi. Qua công việc ở các tầng khác nhau (thế giới, khu vực, quốc gia, xã hội, cộng đồng, khu xóm, tổ chức, nhóm, gia đình, và cá nhân), nhân viên CTXH góp phần giảm thiểu bất công, nâng cao công bằng xã hội, làm cho cuộc sống con người được an vui.

2. Tôn trọng nhân phẩm và giá trị của khách hàng

Bất kể nguồn gốc chủng tộc, giới tính, lối sống, tôn giáo, địa vị, tuổi tác, giáo dục, quá khứ (kể cả quá khứ phạm pháp), CTXH luôn coi tất cả khách hàng như những con người có nhân phẩm và giá trị. Nguyên tắc có tính chỉ đạo này phải được thể hiện một cách cụ thể qua cung cách đối thoại, tìm hiểu, hướng dẫn, luôn tôn trọng, không đánh giá đúng sai; diễn ra trong suốt quá trình giúp đỡ, cho đến giai đoạn kết thúc mối quan hệ giữa khách hàng và nhân viên CTXH. Tôn trọng và không đánh giá đúng sai không có nghĩa là tán đồng những hành vi sai trái của khách hàng hoặc để cho khách hàng né tránh trách nhiệm về hậu quả lỗi lầm của họ. Trái lại, qua cách cư xử tôn trọng và không đánh giá đúng sai, nhân viên CTXH giúp khách hàng tự nhìn nhận hành vi sai trái và trách nhiệm của họ, từ đó mới có thể chủ động hợp tác để được giúp đỡ nhằm thay đổi và thăng tiến đời sống cá nhân.

Quan điểm chú trọng vào nhân phẩm và giá trị của khách hàng xuất hiện từ thập niên 70 (trước đó người ta chú trọng đến “vấn nạn” và những khiếm khuyết cá nhân). Quan điểm mới này đòi hỏi một cách tiếp cận bao quát, bao gồm sự phân tích, tìm hiểu yếu tố môi trường, tách rời “con người” ra khỏi “vấn nạn”, và tận dụng khả năng tiềm ẩn của khách hàng. Khi được tôn trọng, khách hàng sẽ tự trọng, và từ tự trọng họ sẽ cố gắng phát huy thêm tiềm năng tốt đẹp có sẵn và giải quyết được “vấn nạn”.

Tôn trọng giá trị của khách hàng nghĩa là cùng với khách hàng tham dự vào việc tìm kiếm giải pháp, lập kế hoạch hành động và thi hành kế hoạch đó. Một trong những lỗi lầm ấu trĩ nhất của người làm công tác tư vấn và CTXH kém khả năng là có ý nghĩ mình biết cái gì là giải pháp tốt nhất cho khách hàng. Mathew Dumont (1968) gọi ấu trĩ này là “ảo vọng cứu nhân độ thế”/rescue fantasy.

3. Chấp nhận tính cách độc đáo và cá biệt của khách hàng

Nghĩa là xem khách hàng như một con người độc đáo, có hoàn cảnh sống, nhu cầu, cảm xúc, ước mong, ưu và khuyết điểm riêng biệt. Điều này không phải dễ vì nhiều khách hàng của CTXH là những người có hành vi xấu như bạo hành trong gia đình, hoặc vi phạm pháp luật. Để thực sự chấp nhận khách hàng, nhân viên CTXH cần cảnh giác về những ấn tượng hoặc thành kiến sẵn có của bản thân hoặc của xã hội, tôn giáo.

Giống như trời sinh mỗi người có một dấu tay riêng, mỗi khách hàng là một cá nhân riêng biệt, có hình dáng, cá tính, cảm xúc, ý thích, cách cư xử riêng, không người nào hoàn toàn giống người nào, và vì vậy cần được đối xử một cách riêng biệt. Vấn nạn nảy sinh khi người ta phân loại và dán nhãn cho từng nhóm người và đối xử cùng một cách với từng nhóm. Thí dụ ở một số quốc gia đa chủng, người da đen bị coi là “lười biếng”, người Hồi giáo gốc Trung Đông bị coi là “cuồng tín”, dẫn đến hành vi kỳ thị. Đối với trẻ em, nhất là trẻ em trong lứa tuổi hình thành cá tính, những dán nhãn bừa bãi, lập đi lập lại, thí dụ “ngu như bò”, “lười như hủi” “điên khùng”… có thể dẫn đến rất nhiều tiêu cực cho cá tính của đứa bé đứa bé trong tương lai.

Để thừa nhận được tính cách độc đáo của khách hàng, nhân viên CTXH phải có khả năng đi sâu vào thế giới của khách hàng, tìm hiểu những hoàn cảnh sống trong quá khứ, những kinh nghiệm, cảm xúc, thành công, thất bại, ước vọng, niềm đau, nỗi sợ của họ. Khi đã trải qua thời gian để tạo mối quan hệ và hiểu thấu cuộc đời khách hàng, nhân viên CTXH sẽ thấy được tính cách phong phú và độc đáo của khách hàng đó, và sẽ cùng với khách hàng tìm ra được giải pháp phù hợp với hoàn cảnh riêng của họ.

4. Tôn trọng quyền tự quyết của khách hàng

Trong khuôn khổ luật pháp cho phép và với điều kiện không nguy hại đến ai khác, khách hàng có quyền chọn lựa những giải pháp khả thi khác nhau tùy theo hoàn cảnh, hoặc lối sống để giải quyết vấn nạn của mình. Nhiệm vụ của nhân viên CTXH là giúp khách hàng thấy được những giải pháp khác nhau, thăm dò hậu quả có thể xảy ra của mỗi giải pháp, để khách hàng có thể tự mình chọn lựa. Thí dụ: đối với người phụ nữ nạn nhân của bạo hành trong gia đình, tiếp tục ở lại với người chồng vũ phu, cuộc đời sẽ ra sao?  Giải pháp ly dị sẽ đưa đến khó khăn và thuận lợi như thế nào?  Giải pháp ly thân sẽ ra sao?… Khi được nhân viên CTXH cung cấp đầy đủ thông tin về các tài nguyên vật chất cũng như tinh thần có thể vận dụng được từ bản thân, gia đình, cộng đồng, và xã hội, và được giúp phân tích cặn kẽ ưu khuyết điểm của từng giải pháp, khách hàng nạn nhân sẽ chọn được giải pháp thích hợp nhất cho hoàn cảnh cụ thể của họ.

Giới hạn của quyền tự quyết là khi khách hàng không có khả năng trí tuệ để tự quyết định. Thí dụ khách hàng là trẻ em hoặc người mắc bệnh tâm thần. Trong trường hợp này nhân viên CTXH có thể phải làm việc với người bảo hộ hoặc thân nhân của khách hàng với kim chỉ nam là lợi ích cao nhất của khách hàng/best interest of the client. Trường hợp giới hạn khác là khách hàng có khả năng trí tuệ nhưng bị áp lực của văn hóa, tôn giáo, gia đình… làm hạn chế. Thí dụ không được ly dị, không được làm “nhục nhã gia phong” “xấu hổ ông bà”. Trong những trường hợp này mặc dù không thể quyết định thay cho khách hàng, nhân viên CTXH có thể giúp khách hàng phân tích tỉ mỉ các giải pháp, ngay cả cung cấp lời khuyên để khách hàng tự quyết định. Thông thường nhân viên CTXH tránh cung cấp lời khuyên mà chỉ giúp khách hàng thăm dò và phân tích các giải pháp để họ tự chọn lưa. Trong văn hóa Á châu, nhiều khách hàng, đặc biệt là khách hàng phụ nữ, có thể có thái độ thụ động và trông chờ lời khuyên của nhân viên CTXH. Trong những trường hợp này nhân viên CTXH có thể giữ vai trò chủ động hơn, nhưng nguyên tắc chủ đạo vẫn là tạo năng lực/empower để khách hàng có thể tự quyết định lấy giải pháp tốt đẹp nhất cho hoàn cảnh của họ.

5. Nguyên tắc bảo mật

Trong mối quan hệ giữa nhân viên CTXH và khách hàng, tin cậy là yếu tố rất quan trọng. Nếu không được khách hàng tin cậy, nhân viên CTXH khó có thể làm việc hiệu quả. Tin cậy bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân: khả năng, hình dáng, tuổi tác, bằng cấp của nhân viên CTXH, nhưng quan trọng hơn hết là nguyên tắc bảo mật. Nghĩa là khách hàng phải được bảo đảm những điều mình tiết lộ được giữ bí mật. Ở Mỹ, nguyên tắc này được luật pháp quy định và Hội Những Người Làm CTXH Quốc Gia ghi nhận. Vi phạm nguyên tắc này, ngoài biện pháp chế tài của Hội, nhân viên CTXH và cơ quan chủ quản còn có thể bị khách hàng kiện ra toà. Việc thực thi nguyên tắc bảo mật đòi hỏi những biện pháp an toàn liên quan đến lưu trữ hồ sơ (trong tủ có khóa để chỉ những người có trách nhiệm mới đọc được hồ sơ), trao đổi thông tin giữa những người có trách nhiệm trong cùng cơ quan, và những quy định liên quan đến vấn đề tiết lộ thông tin.

Thông thường, thông tin có thể được tiết lộ nếu có sự chấp thuận sau khi được giải thích/informed consent bằng chữ viết của khách hàng, hoặc có trát toà. Ở California, bên cạnh nguyên tắc bảo mật nhân viên CTXH có trách nhiệm phải tiết lộ thông tin mật trong những trường hợp sau:

Án lệ Tarasoff, (Tối Cao Pháp Viện California, 1976): Tatiana Tarasoff là một nữ sinh viên đại học Berkeley (University of California), cô quen biết với Prosenjit Poddar, một sinh viên cao học gốc Ấn Độ. Mối quan hệ này chỉ kéo dài vài tháng, khi Tarasoff không muốn tiếp tục nữa, Poddar lâm vào tình trạng khủng hoảng và phải nhờ đến dịch vụ cố vấn tâm lý do trường Berkley cung cấp. Trong quá trình tư vấn tâm lý, Poddar tiết lộ có ý định sẽ giết Tarasoff. Bác sĩ Lawrence Moore, cố vấn tâm lý của Poddar thông báo cho cảnh sát đại học Berkeley và Poddar bị bắt giữ trong một thời gian ngắn, sau đó được trả tự do với cảnh cáo không được đến gần Tarasoff. Vài tháng sau Poddar tìm đến nhà Tarasoff và giết chết nạn nhân.

Vì lý do Tarasoff và gia đình cô không hề được cảnh báo về ý định của Poddar, cha mẹ của Tarasoff đã kiện Đại Học California. Án lệ Tarasoff ra đời sau vụ kiện này: khi khách hàng tiết lộ ý định bạo hành hay hãm hại người khác, người làm công tác điều trị, giúp đỡ chuyên môn (bác sĩ, luật sư, tư vấn tâm lý, nhân viên CTXH…) có trách nhiệm phải làm những điều cần thiết để bảo vệ đối tượng của ý đồ bạo hành đó.

Vào giữa thập niên 80, thêm hai quy định được thêm vào luật Tarasoff: trách nhiệm thông báo cho vợ, chồng, hay người chung sống, khi khách hàng có kết quả chẩn đoán mắc bệnh AIDS hoặc nhiễm HIV; và trách nhiệm thông báo cho người thân khi khách hàng tiết lộ ý định tự tử.

6. Cảnh giác đối với những thành kiến của bản thân

Mỗi người đều có một quá khứ, một kinh nghiệm sống, một hoàn cảnh, một cuộc đời riêng biệt. Những riêng biệt này ảnh hưởng đến cách suy nghĩ và ứng xử của con người. Vì vậy, để hoàn thành tốt đẹp công việc của mình, nhân viên CTXH phải luôn tự cảnh giác, không để những ý thương, ghét, những định kiến của mình ảnh hưởng đến nhận xét và đối xử với khách hàng. Muốn đạt được trình độ này, nhân viên CTXH phải tự hiểu mình, phải không ngừng học hỏi, và chấp nhận những cảm xúc, thái độ, tư cách, ứng xử đa dạng của con người, nhờ vậy mới có thể luôn luôn phục vụ được lợi ích cao nhất của khách hàng.

Thí dụ về thiếu cảnh giác đối với bản thân: nam nhân viên CTXH X. đã trải qua một lần ly dị đầy cay đắng. Trong công việc, X. không ngăn được cảm xúc tiêu cực, bi quan đối với phụ nữ, và để cho những cảm xúc cũng như định kiến này ảnh hưởng đến công việc của mình, hướng khách hàng đến những quyết định không hẳn là tốt nhất cho quyền lợi của họ.

Thí dụ khác: nữ chuyên viên CTXH Y. đã từng sống với cha mẹ cho đến khi về nhà chồng vào năm 26 tuổi, và hiện nay, 39 tuổi, vẫn sống với chồng con và mẹ chồng. Khách hàng của Y. là nữ sinh viên Z 19 tuổi, hoàn cảnh gia đình không may mắn: cha nghiện ngập và bạo hành, mẹ buồn bực và than thở triền miên. Z. có công việc làm bán thời gian và có ý muốn thoát ly gia đình. Y. không ngăn được định kiến là con gái trưởng phải có trách nhiệm chăm sóc cha mẹ và các em (cả Y. lẫn Z. đều là con trưởng) mặc dù hoàn cảnh sống của hai người khác hẳn nhau.

Tóm lại, giá trị là những nguyên tắc chỉ đạo, hướng dẫn cách ứng xử đúng đắn của con người. Đây là những nguyên tắc mà người ta tự hào. Cá nhân, gia đình, nhóm, đoàn thể, cộng đồng, đều có những giá trị riêng, giống hoặc khác nhau, những giá trị của cá nhân và tập thể này thường phù hợp với những giá trị bao quát hơn của nền văn hóa, hay của quốc gia, xã hội. Giá trị của nghề CTXH là những nguyên tắc chỉ đạo hướng dẫn mọi hoạt động của nhân viên CTXH đến những gì tốt đẹp nhất cho lợi ích của khách hàng. Tại những nước có nền CTXH phát triển như Mỹ, những giá trị này được ghi rõ trong Quy Định Về Đạo Đức của Hội Những Nhân viên CTXH,  và bao gồm: Công bằng xã hội; Tôn trọng nhân phẩm và giá trị của khách hàng; Chấp nhận tính cách độc đáo và cá biệt của khách hàng; Tôn trọng quyền tự quyết của khách hàng; Nguyên tắc bảo mật, và Cảnh giác đối với những thành kiến của bản thân.

Đề tài thảo luận thêm:

Bạn là một nữ chuyên viên CTXH, có một người thân là nạn nhân của hiếp dâm, bạn sẽ có cảm xúc như thế nào khi làm việc với một khách hàng đã từng ở tù hoặc đang ở tù về tội hiếp dâm?

Tôn giáo của bạn kết án đồng tính luyến ái là “tội lỗi”, mọi người chung quanh bạn đều cho đồng tính luyến ái là “bệnh hoạn”, bạn biết rằng từ năm 1973 cẩm nang thống kê chẩn đoán bệnh tâm thần DSM  đã loại đồng tính luyến ái ra khỏi danh mục bệnh; và khoa tâm lý trị liệu ngày nay nhắm giúp người đồng tính công khai thừa nhận tính dục của mình và vui sống; bạn sẽ có thể tôn trọng và chấp nhận một khách hàng đồng tính luyến ái mang bệnh AIDS như thế nào?

——————

(Trần Đình Tuấn, Đại học San Jose, Hoa Kỳ)