Thực trạng An sinh xã hội 2001-2010, phần 5

C. Chính sách trợ giúp xã hội (TGXH) và giảm nghèo

C.1. Chính sách TGXH

TGXH với hai nhóm chính sách là trợ giúp đột xuất và trợ giúp thường xuyên đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ thu nhập thường xuyên và đột xuất cho các đối tượng dễ bị tổn thương như người khuyết tật, người cao tuổi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn v.v.. góp phần ổn định cuộc sống, nâng cao năng lực phòng chống rủi ro cho họ.

a. TGXH thường xuyên:

Điều kiện để được hưởng chính sách TGXH thường xuyên từng bước được cải tiến theo hướng mở rộng đối tượng được hưởng nên số đối tượng gia tăng nhanh, từ 416 nghìn đối tượng vào năm 2005 đã tăng lên trên 1,25 triệu đối tượng vào năm 2009.

Đặc biệt, nghị định 13/2010/NĐ-CP ngày 27/2/2010 về sửa đổi bổ sung một số điều của nghị định 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội đã mở rộng tới các đối tượng tàn tật nặng không có khả năng lao động không chỉ ở các hộ nghèo.

Theo ước tính số đối tượng bảo trợ xã hội năm 2010 sẽ tăng lên 1,6 triệu người. Cuộc sống của các đối tượng được cải thiện do mức chuẩn để tính trợ cấp tăng và tăng nguồn kinh phí được đảm bảo bởi ngân sách Nhà nước.

Nhiều mô hình TGXH được xây dựng phù hợp với nhu cầu của từng nhóm đối tượng. Phong trào xã hội hóa chăm sóc đối tượng được mở rộng đã bổ sung một phần cho nguồn lực còn hạn chế từ ngân sách. Số cơ sở bảo trợ xã hội tăng nhanh. Tính đến tháng 12/2008, cả nước có khoảng 571 cơ sở bảo trợ xã hội. Các cơ sở bảo trợ xã hội trên nuôi dưỡng khoảng 14.613 đối tượng. Hơn 1/3 trong số đó là các cơ sở ngoài Nhà nước.

Tồn tại:

Đối tượng hưởng TGXH thường xuyên còn thấp, chỉ chiếm khoảng 1,23% dân số (tỷ lệ này của nhiều nước trong khu vực, khoảng 2,5-3%).

Những qui định về tiêu chí và điều kiện được hưởng còn quá chặt.

Mức chuẩn để tính mức trợ cấp còn thấp, chỉ bằng 32,5% so với chuẩn nghèo và chưa bảo đảm nhu cầu trợ cấp của đối tượng.

Công tác xác định đối tượng cũng như chi trả cũng còn nhiều bất cập. Chưa tách bạch rõ nhiệm vụ xác định đối tượng và chi trả. Trợ cấp còn chưa kịp thời đối với một số đối tượng ở vùng sâu, vùng xa, miền núi. Nhiều đối tượng vẫn chưa được biết thông tin về chính sách.

Nhiều cơ sở chăm sóc đối tượng được hình thành nhưng khu vực tư nhân, đối tác xã hội chưa tham gia nhiều vào triển khai hoạt động chăm sóc đối tượng. Các mô hình chăm sóc đối tượng dựa vào cộng đồng chưa phát triển.

b. TGXH đột xuất:

Những rủi ro bất thường xảy ra ngày càng nhiều và trên diện rộng . Công tác cứu trợ đột xuất đã được triển khai tương đối kịp thời do có sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ nước ta. Đã huy động được phong trào tương thân, tương ái của mọi tầng lớp nhân dân, của các tổ chức quần chúng, các doanh nghiệp, các tổ chức quốc tế và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, nhờ đó đã đóng góp được một phần đáng kể cho những thiếu hụt từ ngân sách Nhà nước.

Tồn tại:

Phạm vi hỗ trợ còn hẹp, mới tập trung chủ yếu cho đối tượng bị rủi ro do thiên tai, chưa bao gồm các đối tượng bị những rủi ro kinh tế và xã hội.

Mức trợ cấp còn quá thấp, mới chỉ bù đắp được khoảng 10% thiệt hại của hộ gia đình.

Công tác quản l‎ý hoạt động trợ giúp từ cộng đồng xã hội còn nhiều bất cập, khó kiểm soát và điều phối các nguồn hỗ trợ từ cộng đồng và các đối tượng cần trợ cấp.

C.2. Các chính sách, chương trình giảm nghèo

Các chính sách, chương trình giảm nghèo trong thời gian qua đã đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm ASXH cho người nghèo, hộ nghèo và địa bàn nghèo. Hệ thống chính sách giảm nghèo tương đối toàn diện, tập trung vào các vùng đặc thù, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc, miền núi.

Giảm nghèo được thực hiện đồng thời trên cả ba phương diện, gồm: (i) Tăng cường tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục, dạy nghề, trợ giúp pháp lý, nhà ở và nước sinh hoạt; (ii) hỗ trợ phát triển sản xuất thông qua các chính sách tín dụng ưu đãi, đất sản xuất cho hộ nghèo dân tộc thiểu số, khuyến nông-lâm-ngư, phát triển ngành nghề, xuất khẩu lao động; và (iii) phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu cho các xã đặc biệt khó khăn.

Các chương trình giảm nghèo đã hướng đến các địa bàn nghèo nhất. Người nghèo đã dễ dàng tiếp cận với tín dụng ưu đãi, thủ tục vay đã được đơn giản. Chính sách hỗ trợ y tế và giáo dục đã đem lại lợi ích thực sự cho người nghèo. Hỗ trợ nhà ở đã góp phần quan trọng ổn định cuộc sống các hộ nghèo, đặc biệt là các hộ đồng bào dân tộc thiểu số.

Nguồn lực huy động cho công tác xóa đói giảm nghèo ngày càng tăng. Môi trường pháp lý để huy động sự tham gia của cộng đồng, xã hội và doanh nghiệp trong hỗ trợ người nghèo ngày càng hoàn thiện.

Các chính sách đã tập trung hỗ trợ cả hộ cận nghèo nhằm thoát nghèo bền vững, giảm thiểu tình trạng tái nghèo.

Kết quả là tỷ lệ nghèo đã giảm nhanh, từ 29% năm 2002 giảm xuống còn 15,9% năm 2006 và 11,3% vào cuối năm 2009 . Hộ nghèo được tăng cường tiếp cận chính sách. Trong 3 năm 2006-2008, gần 4,2 triệu hộ được vay vốn; gần 2,1 triệu lượt người nghèo được hướng dẫn làm ăn, chuyển giao kỹ thuật; 60 nghìn người nghèo được miễn, giảm phí học nghề; mỗi năm hỗ trợ được 30 nghìn người học nghề; khoảng 7,8 triệu lượt học sinh nghèo được miễn giảm học phí và các khoản đóng góp xây dựng trường; 99,54% người nghèo được cấp thẻ BHYT năm 2008; 340 nghìn hộ nghèo được hỗ trợ xóa nhà tạm. Hệ thống cơ sở hạ tầng ở những địa bàn khó khăn đã được cải thiện đáng kể.

Tồn tại:

Triển khai các chính sách, chương trình giảm nghèo còn bất cập do nhiều cơ quan, tổ chức cùng tiến hành dẫn đến chồng chéo về đối tượng, nguồn lực phân tán.

Công tác lập kế hoạch giảm nghèo còn yếu. Quan niệm về nghèo đói chỉ giới hạn vào nghèo đói thu nhập, xác định chuẩn nghèo, xác định đối tượng còn nhiều thiếu sót. Nhiều tiêu chí như hộ nghèo không được sử dụng nước sạch, trẻ em bỏ học, trẻ em bị suy dinh dưỡng trong các hộ nghèo chưa được đưa vào hệ thống chỉ tiêu đánh giá.

Một bộ phận hộ nghèo không được hưởng lợi nhiều từ các chính sách do bị hạn chế về điều kiện tham gia. Các chính sách hỗ trợ giảm nghèo thiên về hỗ trợ trực tiếp bằng tiền mặt hoặc hiện vật hơn là tạo cơ hội và điều kiện để người nghèo tự nâng cao năng lực vươn lên thoát nghèo bền vững . Chính sách hỗ trợ giáo dục đã miễn, giảm học phí, hỗ trợ đồ dùng học tập, chi phí ăn, ở cho học sinh, sinh viên thuộc hộ gia đình nghèo, nhưng các phần chi phí liên quan đến giáo dục do hộ gia đình đảm nhiệm còn cao so với khả năng chi trả của hộ nghèo nên một bộ phận con em hộ nghèo vẫn chưa hoàn thành chương trình phổ cập giáo dục . Hỗ trợ về y tế còn nhiều bất cập.

Sự minh bạch của các thông tin về cơ chế chính sách còn hạn chế. Một số đối tượng chưa biết thông tin về các chính sách, dự án từ đó làm giảm hiệu quả của chương trình còn thấp.

Công tác theo dõi, giám sát, đánh giá hiệu quả giảm nghèo còn yếu; chất lượng.

C.3. Hệ thống dịch vụ xã hội

Hệ thống cung cấp dịch vụ xã hội công đã góp phần nâng cao tiếp cận của người dân tới các dịch vụ y tế, giáo dục, nhà ở, đường, điện sinh hoạt, nước sinh hoạt, vệ sinh môi trường, thông tin và tư vấn, trợ giúp pháp lý.

Về y tế: song song với phát triển dịch vụ khám chữa bệnh, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại các vùng nghèo, đối với hộ nghèo ngày càng phát triển dưới nhiều hình thức như việc thiết lập các tổ, đội y tế lưu động đi khám, chữa bệnh, thực hiện các hoạt động phòng bệnh theo định kỳ ở các thôn, bản.

Về giáo dục: các mô hình giáo dục tập trung, trường bán trú dân nuôi, giáo dục từ xa, từng bước được mở rộng dưới nhiều hình thức với sự tham gia của nhiều đối tác xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho sự tham gia của người dân ở cả khu vực thành thị và nông thôn, vùng sâu, vùng xa.

Về điện sinh hoạt: hệ thống cung cấp điện sinh hoạt cho người dân các vùng sâu, vùng xa đã từng bước được đầu tư nâng cao hiệu quả và mở rộng phạm vi bao phủ của điện lưới quốc gia.

Về nước sạch và vệ sinh môi trường: Hệ thống cung cấp nước sinh hoạt cho người dân, nhất là người dân nông thôn vùng sâu, vùng xa được cải thiện thông qua các chương trình nước sạch quốc gia, chương trình nước sạch của UNICEF và các tổ chức phi chính phủ hỗ trợ.

Tình hình vệ sinh môi trường ngày càng được cải thiện. Tỷ lệ người dân mắc các bệnh truyền nhiễm, dịch bệnh… giảm nhanh.

Về nhà ở và đất sản xuất: Chương trình 134 (Quyết định 134/2004) về hỗ trợ nhà ở và đất sản xuất cho đồng bào dân tộc và Quyết định 167 về hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo đã giải quyết được cơ bản nhu cầu về nhà ở và đất sản xuất cho hộ nghèo nhất.

Về giao thông, đường sá: thông qua Chương trình 135 hỗ trợ các xã đặc biệt khó khăn, Chương trình hỗ trợ 62 huyện nghèo, Chương trình cho các xã bãi ngang, tình hình giao thông trong các xã được hưởng thụ nói riêng và nông thôn nói chung được cải thiện đáng kể, góp phần làm giảm chi phí sản xuất, giảm cách biệt về địa l‎ý của các vùng nghèo, xã nghèo.

Về tư vấn và trợ giúp pháp lý: Chính sách tư vấn và hỗ trợ pháp lý cho người nghèo đã tăng cường tiếp cận thông tin và thực hiện quyền tiếp cận tới các dịch vụ của Nhà nước.

Các tổ chức xã hội, cộng đồng ngày càng đóng vai trò quan trọng và tham gia tốt hơn trong các hoạt động hỗ trợ và cung cấp các dịch xã hội cho hộ nghèo. Nhiều mô hình dịch vụ hỗ trợ người nghèo, nhóm đối tượng dễ bị tổn thương (người già, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn) dựa vào cộng đồng được hình thành phát triển có hiệu quả, có khả năng nhân rộng.

Tồn tại:

Hệ thống dịch vụ xã hội trong khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng.

Mặc dù hầu hết các xã đã có trạm y tế nhưng chất lượng còn hạn chế, mới có 46% xã có trạm y tế đạt chuẩn quốc gia; khoảng 11,7% số xã chưa có nhà trẻ, mẫu giáo; Trường học cho học sinh các cấp nhất là ở vùng cao còn tạm bợ. Đội ngũ y bác sĩ, giáo viên ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa còn thiếu, chất lượng còn thấp, các trang thiết bị phục vụ chuyên môn còn thô sơ, lạc hậu, không đảm bảo chất lượng.

Việc tiếp cận nước sạch trong sinh hoạt hàng ngày vẫn còn là một thách thức. Tỷ lệ tiếp cận dịch vụ của người dân tộc thiểu số thấp hơn đáng kể so với người Kinh, Hoa. Còn khoảng 45% hộ dân tộc thiểu số chưa có nước sinh hoạt, 30% chưa có điện so với 12% và 3% ở người Kinh, Hoa . Đại bộ phận dân cư nông thôn vẫn còn phải sử dụng các nguồn nước không đảm bảo và sống trong điều kiện vệ sinh thấp kém (điều đó có nghĩa là mục tiêu 100% sử dụng nước sạch vào năm 2020 của Chiến lược Quốc gia về nước sạch và vệ sinh nông thôn khó có khả năng đạt được).

Nhiều xã nghèo thuộc Chương trình 135 không đạt được các mục tiêu phát triển hạ tầng cơ sở.

Khả năng tiếp cận tới dịch vụ xã hội của nhóm đối tượng dễ bị tổn thương thấp, đặc biệt là nhóm người di cư nghèo ra đô thị và dân tộc thiểu số còn thấp. Xu hướng thương mại hóa trong cung ứng dịch vụ xã hội làm gia tăng bất bình đẳng xã hội giữa các nhóm dân cư.

Sự tham gia của khu vực tư nhân trong việc cung cấp các dịch vụ xã hội vẫn còn hạn chế.

Thiếu đội ngũ cán bộ làm công tác xã hội chuyên nghiệp. Chưa xây dựng được chức danh, tiêu chuẩn và các chính sách về tiền lương, đãi ngộ cho cán bộ làm công tác xã hội.

(Dự thảo Chiến lược An sinh xã hội 2011-2020)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: