Sự cần thiết ban hành Luật người cao tuổi

1. Việc xây dựng Dự án Luật nhằm đáp ứng yêu cầu cấp bách của người cao tuổi về công tác chăm sóc, phát huy vai trò người cao tuổi ở Việt Nam trong tình hình mới.

Theo số liệu của Tổng cục thống kê, tính đến ngày 01/4/2007, cả nước có khoảng 8,05 triệu người cao tuổi, chiếm 9,45% dân số, trong đó:

– Người từ 60 – 69 tuổi là 3,92 triệu, chiếm 4,61% dân số;

– Người từ 70 – 79 tuổi là 2,90 triệu, chiếm 3,41% dân số;

– Người từ 80 tuổi trở lên là 1,17 triệu, trong đó có 9.830 người từ 100 tuổi trở lên[1].

Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam hiện nay là 72, cao hơn mức trung bình của năm 1999 là 3,4 tuổi và của Thế giới là 6 tuổi.

Già hoá dân số là xu thế, là vấn đề bức xúc, thu hút sự quan tâm của nhiều chính phủ. Điều đó vừa là thách thức, vừa là cơ hội. Để chuyển thách thức thành cơ hội, cách tốt nhất là phải trân trọng khai thác khả năng của người cao tuổi.

Người cao tuổi là nền tảng của gia đình, tài sản quý giá, nguồn lực quan trọng của dân tộc, một lực lượng của sự phát triển xã hội, là lớp người có công lớn đối với gia đình, quê hương, đất nước. Số đông người cao tuổi đã có những đóng góp xứng đáng trong hai cuộc kháng chiến cứu nước, giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc; nay tuy tuổi cao, nhưng cßn tiếp tục đem trí tuệ, tài năng, kinh nghiệm tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; vận động gia đình và cộng đồng chấp hành chủ trương, pháp luật của Nhà nước. Lớp người cao tuổi Việt Nam xứng đáng được tôn vinh, chăm sóc và phát huy, là chính sách lớn và nhất quán của Đảng và Nhà nước ta; là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc là nghĩa vụ của từng gia đình, của cộng đồng và toàn xã hội. Chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi là nội dung chủ yếu của công tác vận động người cao tuổi, bộ phận quan trọng của công tác dân vận của Đảng; Xã hội hoá nhằm thu hút sự tham gia tích cực và chủ động của đông đảo các tầng lớp nhân dân và các tổ chức xã hội.

Hội người cao tuổi Việt Nam là một đoàn thể nhân dân, đại biểu lợi ích của lớp người cao tuổi, thành viên Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, chỗ dựa tin cậy của Đảng và Nhà nước, đoàn kết tập hợp rộng rãi người cao tuổi thành một khối thống nhất, chung tay xây dựng đất nước. Quán triệt và vận dụng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về người cao tuổi và tổ chức của người cao tuổi, nhằm xây dựng tổ chức Hội vững mạnh, làm nòng cốt trong phong trào toàn dân chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi, động viên người cao tuổi tham gia tích cực các phong trào quần chúng thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội ở địa phương, góp phần tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững ổn định chính trị- xã hội, phục vụ sự nghiệp đổi mới, phát triển bền vững đất nước.

Trong thời kỳ đổi mới, cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội, người cao tuổi đang tích cực đẩy mạnh phong trào hiến kế, hiến công, đóng góp công sức, kiến thức, kinh nghiệm, tham gia nghiên cứu khoa học, giảng dạy, khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập, xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thực hiện cuộc vận động xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch vững mạnh, nêu gương sáng trên các lĩnh vực sản xuất, xóa đói giảm nghèo, tham gia tư vấn, hoạt động phong trào, hội, đoàn thể… là những tấm gương sáng để giáo dục con cháu, xây dựng xã hội ngày càng tốt đẹp hơn.

Với những đóng góp to lớn, thể hiện vị thế quan trọng của đội ngũ những người cao tuổi Việt Nam đối với gia đình, Nhà nước, cộng đồng xã hội, nhiều cấp uỷ, chính quyền địa phương đã khẳng định “việc nhà, việc làng, việc nước đều cần có người cao tuổi”. Tại Đại hội Người cao tuổi lần II, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã trân trọng trao tặng người cao tuổi Việt Nam bức trướng với 18 chữ vàng cao quý: “Tuổi cao chí càng cao, nêu gương sáng vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đáng khích lệ và những nhân tố tích cực đã nêu trên, thực trạng người cao tuổi và công tác về người cao tuổi hiện vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức:

Thứ nhất, đời sống vật chất, tinh thần của một bộ phận người cao tuổi, nhất là người cao tuổi sống ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, vẫn còn 1/3 số người thuộc diện nghèo và cận nghèo, đời sống vật chất còn nhiều khó khăn; Số người bị bệnh tật còn cao, đi lại khó khăn nên chưa tiếp cận được với các dịch vụ xã hội cơ bản; hiện còn 80.000 người đang phải ở nhà tạm và nhiều người chưa đủ ấm vào mùa đông; tỷ lệ người cao tuổi có sức khỏe kém chiếm khoảng 23%, có sức khỏe tốt khoảng 5 – 7%; Nhiều người có hai, ba bệnh; Vẫn còn một bộ phận có tâm lý sợ phiền hà đến con, cháu, do kinh tế còn khó khăn, mạng lưới y tế cơ sở yếu và thiếu đã làm cho việc khám bệnh và phát hiện bệnh sớm chưa tốt; Vẫn còn tình trạng con, cháu ngược đãi ông bà, cha mẹ, thiếu trách nhiệm trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, bỏ mặc lang thang kiếm sống. Người cao tuổi bị ngược đãi do tâm lý mặc cảm nên không dám tố cáo hay yêu cầu can thiệp của chính quyền, đoàn thể. Đến nay, còn 70.993 người chưa được hưởng trợ cấp xã hội theo quy định của Nghị định 67/CP của Chính phủ, gần 20% chưa được cấp thẻ bảo hiểm y tế. Vẫn còn một số địa phương chưa thực hiện đầy đủ các chế độ đối với người cao tuổi từ 85 tuổi trở lên. Một số xã, phường vẫn thu các khoản đóng góp mà người cao tuổi được miễn. Công tác thống kê, theo dõi về đời sống vật chất của người cao tuổi chưa trở thành trách nhiệm thường xuyên của chính quyền các cấp và cơ quan chức năng nên thông tin, báo cáo, xử lý chưa kịp thời.

Thứ hai, về đời sống tinh thần của người cao tuổi, mặc dù các hoạt động văn hoá – thể thao của người cao tuổi thời gian qua có nhiều tiến bộ. Vào dịp đầu xuân, các xã, phường, thị trấn thường tổ chức mừng thọ. Các chương trình thông tin, tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng dành cho người cao tuổi được quan tâm. Tuy nhiên, nhìn chung đời sống tinh thần của người cao tuổi vẫn còn đơn điệu và có nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu của người cao tuổi nhất là ở vùng sâu, vùng xa.

Thứ ba, việc phát huy vai trò của người cao tuổi đã được quy định trong Pháp lệnh người cao tuổi và một số văn bản quy phạm pháp luật liên quan đã được thực thi nhưng qua khảo sát, đánh giá, thực tế vẫn còn nhiều hạn chế, cần được tiếp tục khắc phục và đẩy mạnh hoạt động này nhằm động viên đội ngũ người cao tuổi trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Người cao tuổi có sức khoẻ muốn tiếp tục tham gia sản xuất, kinh doanh, thành lập các doanh nghiệp, cơ sở tư vấn dịch vụ vẫn chưa được sự giúp đỡ tích cực về vốn. Các ý kiến tham gia góp ý, các sáng kiến của người cao tuổi chưa được chú trọng, tiếp thu và áp dụng trong thực tiễn.

Tóm lại, sở dĩ còn những hạn chế trên là do Nhà nước chưa có chiến lược quốc gia về già hoá dân số trong khi tỷ lệ dân số cao tuổi trong tổng dân số ngày một tăng và đã bước vào giai đoạn dân số già; Nhà nước chưa thiết lập được những dịch vụ đối với người cao tuổi; chưa ban hành văn bản quy phạm pháp luật tạo ra các môi trường thân thiết đối với người cao tuổi như nhà ở, giao thông… Luật Ngân sách quy định trong mục: “Ngân sách đảm bảo xã hội”, không có tiểu mục chi cho công tác người cao tuổi nên việc tổ chức, triển khai công tác này ít được các địa phương quan tâm. Công tác xã hội hoá chăm sóc người cao tuổi đã có mô hình nhưng chưa có cơ chế, chính sách của Nhà nước để phát huy và nhân rộng. Công tác thống kê về người cao tuổi hàng năm của ngành thống kê chưa được quan tâm. Công tác chăm sóc người cao tuổi chưa được đào tạo thành một nghề. Vai trò của người cao tuổi được cộng đồng tôn vinh và kính trọng nhưng Nhà nước chưa có cơ chế chính sách để hợp thức hoá. Nhà nước chưa có chế tài để xử lý các tổ chức, cá nhân vi phạm trong việc thực hiện pháp luật về người cao tuổi. Nhiều người chưa có nhận thức thật đúng về người cao tuổi, nhìn nhận người cao tuổi là đối tượng yếu thế nên không có trách nhiệm. Mức trợ cấp đối tượng đặc biệt khó khăn thấp nên không đáp ứng được yêu cầu tối thiểu của người cao tuổi, đời sống của họ rất khó khăn, vất vả. Nhận thức, hiểu biết về các chính sách đãi ngộ đối với người cao tuổi của một bộ phận cán bộ còn rất hạn chế nhất là cán bộ cấp xã – cấp trực tiếp quản lý đối tượng; Ở cấp cơ sở không có sự công bằng giữa hưởng thụ và đóng góp của lãnh đạo Hội người cao tuổi với các Hội chính trị – xã hội.

2. Việc xây dựng Dự án Luật và ban hành Luật người cao tuổi nhằm tiếp tục thể chế hoá chủ trương chính sách của Đảng về người cao tuổi, thực hiện việc luật hoá và hoàn thiện một bước hệ thống pháp luật về người cao tuổi ở Việt Nam.

Ngay từ những ngày đầu thành lập chính quyền dân chủ nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chú trọng đến vai trò của người cao tuổi đối với sự nghiệp cách mạng. Người đã từng kêu gọi lập tổ chức Phụ lão cứu quốc hội “… Chúng ta là bậc phụ lão, cần phải chân thành đoàn kết trước để làm gương cho con cháu ta. Vậy tôi mong các vị phụ lão ở Hà thành ra xung phong tổ chức Phụ lão cứu quốc hội để cho các phụ lão cả nước bắt chước và để hùn sức giữ gìn nền độc lập của nước nhà”.

Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến người cao tuổi và công tác về người cao tuổi. Chỉ thị số 59-CT/TW, ngày 27/9/1995 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về chăm sóc người cao tuổi đã yêu cầu “các cấp các ngành làm tốt việc chăm sóc vật chất và tinh thần của người cao tuổi và dành ngân sách để chăm sóc người cao tuổi, tạo điều kiện về mọi mặt để Hội người cao tuổi phát huy tốt vai trò nòng cốt trong phong trào toàn dân chăm sóc người cao tuổi, “..góp phần thực hiện tốt chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước, giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc”. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, trong phần nội dung về chính sách an sinh và ưu đãi xã hội cũng chỉ rõ: “… Vận động toàn dân tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn đối với các lão thành cách mạng, những người có công với nước, người hưởng chính sách xã hội. Chăm sóc vật chất và tinh thần của người già, nhất là những người già cô đơn, không nơi nương tựa…”.

Nhằm thể chế hoá các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để quản lý hoạt động của người cao tuổi và hoạt động của Hội người cao tuổi có hiệu quả trong thực tiễn. Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ số 117/TTg ngày 27/2/1996 về chăm sóc người cao tuổi và hỗ trợ hoạt động cho Hội Người cao tuổi Việt Nam; Pháp lệnh người cao tuổi số 23/2000/PL-UBTVQH10, ngày 28/4/2000 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; Nghị định của Chính phủ số 30/2002/NĐ-CP, ngày 26/3/2002 quy định và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh người cao tuổi; Nghị định số 120/2003/NĐ-CP của Chính phủ về việc sửa đổi Điều 9 của Nghị định số 30/2002/NĐ-CP nói trên và các văn bản quy phạm pháp luật khác quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh người cao tuổi do các Bộ, cơ quan ngang Bộ, ban hành đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc quản lý và thực hiện công tác người cao tuổi ở nước ta những năm qua; Những kết quả đạt được đã khẳng định điều này. Sau 8 năm thực hiện Pháp lệnh người cao tuổi, các tỉnh, thành phố đã triển khai thực hiện chế độ trợ cấp cho người cao tuổi. Tính đến cuối năm 2008, cả nước có 527.866 người cao tuổi từ 85 tuổi trở lên được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng tại cộng đồng với mức 120.000 đồng/người/tháng. Số người bị tàn tật, cô đơn, không nơi nương tưạ từ 60 tuổi đến dưới 85 tuổi được hưởng trợ cấp theo Nghị định 67 là 121.032 người và nhiều người cao tuổi khỏc được nuôi dưỡng tại các Trung tâm bảo trợ xã hội với mức sinh hoạt phí từ 240.000 đồng/người/tháng. Hiện có 05 tỉnh thực hiện trợ cấp cao hơn mức quy định tối thiểu của Chính phủ từ 150.000 đồng trở lên (Hải Phòng, Quảng Ninh, Hà Nội, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh).

Đến cuối năm 2008, nhiều xã, phường đã hình thành 3 loại quỹ dành cho người cao tuổi, là: Quỹ toàn dân chăm sóc người cao tuổi; Quỹ của Hội người cao tuổi và Quỹ phụng dưỡng ông bà, cha mẹ do con cháu trong gia đình, họ tộc đóng góp. Các nguồn quỹ này đã có tác dụng trợ giúp người cao tuổi khi khó khăn, bệnh tật.Việc hỗ trợ sửa chữa hoặc làm mới nhà ở cho người cao tuổi được nhiều tỉnh, thành phố tích cực hỗ trợ, đầu tư bằng nhiều nguồn vốn.

Các văn bản quy phạm pháp luật về người cao tuổi hiện hành chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước trong việc thực hiện các chính sách đối với người cao tuổi đó là:

Thứ nhất, Hiến pháp năm 1992, Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân, Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình… có đề cập đến người cao tuổi ở một số điều luật. Pháp lệnh người cao tuổi và nhiều văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ quy định về chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi. Các quy định của pháp luật hiện hành chưa bao quát đầy đủ, toàn diện về quyền và nghĩa vụ; phụng dưỡng, chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi; trách nhiệm của cơ quan Nhà nước đối với công tác người cao tuổi trong điều kiện đất nước phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế Quốc tế. Ngoài ra, một số quy định về cụng tỏc tổ chức Hội chưa được thống nhất trong cách hiểu và vận dụng trong thực tiễn rất khác nhau.

Thứ hai, mặc dù Pháp lệnh người cao tuổi và các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động của người cao tuổi đã được ban hành và tổ chức thực hiện nhưng các văn bản đó đều là các văn bản dưới luật, thiếu hệ thống và đồng bộ; các điều luật nặng về tuyên bố nên gặp rất nhiều khó khăn, hạn chế khi tổ chức thi hành trong thực tiễn. Hơn nữa, Pháp lệnh người cao tuổi ra đời trong điều kiện kinh tế đất nước còn khó khăn, tỷ lệ người cao tuổi mới chiếm trên 8% dân số. Vì thế, việc nghiên cứu xây dựng và ban hành Luật người cao tuổi, trên cơ sở kế thừa Pháp lệnh người cao tuổi và các văn bản hiện hành sẽ góp phần thể chế hoá đầy đủ, toàn diện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về các nội dung trực tiếp liên quan đến người cao tuổi ở nước ta hiện nay.

3. Việc xây dựng và ban hành Dự án Luật người cao tuổi nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và góp phần thực thi các Công ước quốc tế liên quan đến người cao tuổi mà Việt Nam là thành viên, đáp ứng yêu cầu mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế về người cao tuổi của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập, đáp ứng yờu cầu những vấn đề đặt ra trong thời kỳ già hóa dõn số ở Việt Nam.

Hoạt động của người cao tuổi được pháp luật các quốc gia tôn trọng và bảo hộ. Việc thực thi các cam kết của Việt Nam khi tham gia Hội nghị quốc tế về người cao tuổi được tổ chức tại Mađrit – Tây Ban Nha, năm 2002 đòi hỏi từng bước luật hóa các hoạt động của người cao tuổi.

– Khẳng định cam kết của Việt Nam đối với Hội nghị Mađrit trong việc thực thi chương trình hành động mà Việt Nam tham gia, bảo vệ quyền lợi theo thông lệ quốc tế, đồng thời góp phần thúc đẩy tiến trình mở rộng quan hệ, hợp tác quốc tế của Việt Nam trong lĩnh vực chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi kể cả trong nước và ngoài nước.

– Kinh nghiệm hoạt động của người cao tuổi ở những nước đã ban hành Luật người cao tuổi khẳng định rằng: gia đình, xã hội và Nhà nước cùng chung tay chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi sẽ tốt hơn.

4. Việc xây dựng và ban hành Dự án Luật người cao tuổi nhằm khắc phục thách thức mới đang nảy sinh, tạo cơ sở pháp lý cơ bản, toàn diện và bền vững trong việc thực hiện xã hội hóa công tác người cao tuổi, để toàn dân chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi.

Trong những năm qua, hoạt động của người cao tuổi đã phát triển sâu rộng, góp phần ổn định xã hội, củng cố niềm tin của người cao tuổi vào sự nghiệp đổi mới, tích cực thực hiện chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước, đề cao các giá trị nhân văn truyền thống của dân tộc. Thực tế cho thấy, do hậu quả chiến tranh để lại, người cao tuổi cần được hỗ trợ, giúp đỡ, trải đều trên diện rộng ở khắp các vùng miền trong cả nước, đặc biệt là vùng núi và vùng dân tộc ít người.

Việc chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi phải trên cơ sở pháp lý cơ bản, toàn diện, vừa đáp ứng được nhu cầu trước mắt, đồng thời có giá trị cho sự phát triển lâu dài. Nhiều điều trong dự án Luật người cao tuổi đã thể hiện được tinh thần xã hội hoá công tác người cao tuổi đồng thời thu hút người cao tuổi tiếp tục cống hiến, góp phần quan trọng vào việc giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, hoà giải mâu thuẫn ở cộng đồng dân cư.

Tóm lại, việc xây dựng và ban hành Luật người cao tuổi là rất cần thiết nhằm thể chế hóa đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về hoạt động chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi, đáp ứng yêu cầu thực tiễn và tiếp tục hoàn thiện pháp luật về người cao tuổi, đồng thời khẳng định cam kết của Việt Nam trong việc thực thi chương trình hành động Mađrit mà Việt Nam tham gia, thúc đẩy tiến trình hội nhập, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế của Việt Nam về người cao tuổi.

(Trích trong Tờ trình dự án Luật người cao tuổi của Hội người cao tuổi Việt Nam, ngày 03/2/2009)


[1] Theo kết quả Tổng điều tra dân số Việt Nam, tỉ lệ người cao tuổi so với dân số chung đó tăng từ 6,90% năm 1979 lên 7,20% năm 1989 và 8,12% năm 1999. Trong số 8.050.000 người cao tuổi hiện nay có 6.900 mẹ Việt Nam anh hựng; 7.000 là lão thành cách mạng; 30.000 người là cán bộ cách mạng đó bị địch bắt, giam cầm, tù đày; trên 500.000 người cao tuổi là thương bệnh binh; trên 100.000 người là cựu Thanh niên xung phong; 5.000 người có công với cỏch mạng; trên 1.700.000 người là cựu chiến binh; trên 1.400.000 người hiện đang hưởng chế độ hưu trí, mất sức.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: