Chương 2: Công tác xã hội-Lý thuyết và thực hành

VNSW xin trân trọng giới thiệu Chương 1 với tiêu đề Một số vấn đề với ngành Công tác xã hội ở Việt Nam, trong Tập tài liệu Công tác xã hội: Lý thuyết và thực hành của tác giả Trần Đình Tuấn, ĐH San Jose, Hoa Kỳ:

Những cải tổ từ đầu thập niên 90 đến nay đã giúp Việt Nam đạt được một số thành tích ngoạn mục về phát triển kinh tế, nâng cao đời sống người dân. Bên cạnh những tiến bộ này, nhiều vấn nạn điển hình của các xã hội phát triển và đang phát triển cũng nảy sinh: ma túy, đĩ điếm, trộm cắp, gia đình đổ vỡ… Những vấn nạn cổ điển của các xã hội chậm phát triển vẫn còn đó: bạo hành trong gia đình, cửa quyền, bè phái, tham nhũng, quan liêu, hách dịch… Chính vì vậy, song song với việc phát triển kinh tế để đưa nước Việt Nam ra khỏi thân phận nhược tiểu, xây dựng và phát triển ngành CTXH để góp phần giải quyết vấn nạn xã hội, tạo điều kiện cho đời sống người dân, đặc biệt là người nghèo, khuyết tật, yếu thế, được sống yên vui là việc làm cần thiết. Mặc dù xây dựng sau, ngành CTXH Việt Nam có lợi thế là có thể tận dụng được những thành tựu mới nhất của CTXH thế giới một cách không mấy khó khăn. Những tiến bộ kỳ diệu về khoa học kỹ thuật ngày nay có thể giúp chúng ta đi rất nhanh. Túi khôn của nhân loại chỉ cách chúng ta một vài cái “click” ngắn gọn trước máy điện toán. Ngoài ra, chúng ta còn có lợi điểm là nhờ đi sau, chúng ta có thể học được kinh nghiệm xây dựng CTXH ở các nước phát triển sau nhưng đi trước chúng ta, đặc biệt là kinh nghiệm của Trung quốc.
Trong nửa cuối của thế kỷ 20, các nước đang phát triển ở Á châu và trung Đông đã lần lượt xây dựng nền CTXH dựa trên kiến thức và kinh nghiệm của Âu Mỹ để giải quyết những vấn nạn xã hội gây ra do tình trạng phát triển bộc phát về kinh tế và công nghiệp. Dựa trên kinh nghiệm của những nước này, Walto và Abo El Nasr (1988) đã chỉ ra quá trình ba giai đoạn xây dựng CTXH:
1) Giai đoạn nhập cảng kiến thức từ các nước phương Tây/transmission stage: ở giai đoạn này kiến thức mới về CTXH phương Tây được du nhập vào các nước đang phát triển bất kể những dị biệt về văn hóa. Lý luận của giai đoạn này là CTXH có tính khoa học và vì vậy có thể giải quyết những vấn nạn giống nhau của con người trong tất cả các nền văn hóa.
2) Giai đoạn địa phương hóa/indigenization stage: ở giai đoạn này các nước đang phát triển nhận ra sự quan trọng của yếu tố văn hóa và bắt đầu chỉnh sửa các mô hình CTXH nhập cảng từ Tây phương cho phù hợp với văn hóa địa phương.
3) Giai đoạn hoàn chỉnh nền CTXH đặc thù/authentization stage: các nước đang phát triển phát huy sáng kiến, kiện toàn nền CTXH để phù hợp với nhu cầu cụ thể, tình trạng phát triển và văn hóa đặc thù của quần chúng.
Trung quốc, nước láng giềng có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam về văn hóa, chính trị và kinh tế, đã khởi công xây dựng nền CTXH theo kiểu Tây phương từ đầu thập niên 70. Mặc dù vậy, 20 năm sau, nhiều học giả Trung quốc vẫn còn hồ nghi và thậm chí còn tin không thể áp dụng những lý thuyết CTXH phương Tây vào xã hội Trung quốc (Yan 1991). Một số học giả Trung quốc còn cho rằng Trung quốc đã có sẵn nền CTXH đặc thù của mình (Wang, 1991; Gao, 1999; Guo, 1999): công việc của các đoàn thể phụ nữ, thanh niên, công nhân, phụ lão… rất giống với CTXH phương Tây. Ngoài ra, cho đến nay, giới học thuật Trung quốc không có cố gắng đáng kể nào trong việc phân tích kinh nghiệm xây dựng CTXH của các nước đang phát triển. Đóng góp vào công việc này là cố gắng của các học giả gốc Trung quốc ở Âu Mỹ, Singapore, và Hong Kong, những học giả này đang có ảnh hưởng mạnh mẽ đến giai đoạn địa phương hóa CTXH đang diễn ra ở Trung quốc.
Sau đây là một vài ý kiến về xây dựng ngành CTXH Việt Nam.
1) KHUNG LUẬT PHÁP
Điều cần xây dựng càng sớm càng tốt là soạn thảo và ban hành bộ luật an sinh xã hội quốc gia trong khuôn khổ kinh tế và văn hóa độc đáo của Việt Nam. Bên cạnh các luật gia, chúng ta cần có những nhân viên CTXH trong công tác nghiên cứu và phác thảo bộ luật này sau khi nghiên cứu luật an sinh xã hội của các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước trong vùng Á châu và đông nam Á. Bộ luật an sinh xã hội sẽ bảo đảm việc thực thi và bảo vệ những quyền cơ bản của người dân đã được hiến pháp thừa nhận, và là nền tảng pháp lý cho mọi hoạt động của ngành CTXH.
2) XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN MẠNG LƯỚI CTXH CÔNG VÀ TƯ
Một mạng lưới CTXH công cần được xây dựng từ trung ương đến các địa phương. Ở California, tổ chức chính quyền có Bộ Xã Hội tiểu bang/Department of Social Services và Cơ Quan Xã Hội/Social Services Agency ở các Hạt. Bộ Xã Hội tiểu bang phụ trách phần trợ giúp tài chính, soạn thảo chính sách, huấn luyện và kiểm tra việc thi hành chính sách. Cơ Quan Xã Hội Hạt trực tiếp cung cấp dịch vụ cho người dân trong khuôn khổ chính sách. Bộ Xã Hội không có thẩm quyền về hành chính nhân sự đối với Cơ Quan Xã Hội. Dịch vụ CTXH công thường là bảo vệ trẻ em, bảo vệ người già, bảo vệ nạn nhân của bạo hành trong gia đình, trợ giúp tài chính cho người nghèo, nạn nhân của thiên tai… Cấp tỉnh và thành phố của Việt Nam có thể là đơn vị hành chính thích hợp để trực tiếp đảm nhiệm vai trò CTXH trong khu vực công và nên được giao quyền tổ chức bộ máy an sinh xã hội thích hợp với hoàn cảnh văn hóa, kinh tế của địa phương. Một số tỉnh có thể gom thành vùng để bớt gánh nặng về quản trị cho trung ương.
Bên cạnh mạng lưới CTXH công là mạng lưới CTXH tư do các tổ chức tư nhân thiết lập và điều hành. Ngân khoản tài trợ bao gồm đóng góp của tư nhân, quốc tế, và ngân sách nhà nước. Dịch vụ CTXH tư thường đa dạng: lớp học nghệ thuật làm cha mẹ, lớp học cho người bạo hành trong gia đình, trung tâm cai nghiện, huấn nghệ cho những người hoàn lương, cố vấn tâm lý, cung cấp chỗ ăn ở tạm cho người vô gia cư, dịch vụ giúp đỡ thiếu niên nghèo không nơi nương tựa, dịch vụ cho người già, trợ giúp cấp thời cho nạn nhân của thiên tai…
Mạng lưới CTXH công và tư sẽ là nơi thực tập và cung cấp công ăn việc làm cho sinh viên tốt nghiệp khoa CTXH tại các đại học và sẽ tạo áp lực để ngành giáo dục CTXH không ngừng cải thiện chất lượng giáo dục để toàn thể khu vực CTXH vươn lên.
3) ĐÀO TẠO VÀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ NHỮNG NGƯỜI LÀM CTXH
Công tác đào tạo nhân viên CTXH đã được tái thực hiện từ 2003 tại viện đại học Đà Lạt và hiện nay đã có bộ môn CTXH tại hầu hết các đại học lớn của Việt Nam. Một số đại học cũng đã tranh thủ được sự hợp tác của quốc tế. Công tác đào tạo còn nhiều khó khăn, một phần do thiếu mạng lưới tổ chức CTXH để sinh viên thực tập, thiếu sách giáo khoa, thiếu tài liệu tham khảo… nhưng khó khăn lớn hơn có lẽ là xây dựng được một chương trình đào tạo CTXH độc đáo, phù hợp với hoàn cảnh kinh tế, văn hóa, chính trị của Việt Nam.
Dựa trên kinh nghiệm xây dựng nền giáo dục CTXH của các nước đang phát triển như Do Thái, Ấn Độ, Ai Cập và các nước khác, một số học giả đã đề ra những chỉ dẫn sau (Prager, 1985; Hammond, 1988; Walton và Abo El Nasr, 1988; Ragab, 1990; Nagpaul, 1993; Osei-Hwedie, 1993; Ho, 1998; Nimmagadda và Cowger, 1999):
1) Giáo dục CTXH phải được xây dựng trên nền tảng địa phương, bao gồm triết học, lý thuyết, nguyên lý làm việc, cách tiếp cận vấn đề, và tài liệu học hỏi, vì lẽ công việc với con người đòi hỏi kỹ năng cũng như phương pháp của địa phương.
2) Giáo dục CTXH phải góp phần tạo nên phương pháp riêng phù hợp với những nét đặc thù về kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa và tâm lý của địa phương.
3) Giáo dục CTXH phải xác định được trọng tâm của nền CTXH, căn bản kiến thức và những giá trị của CTXH địa phương. Những kiến thức và giá trị xây dựng từ các nước phương Tây dựa trên văn hóa phương Tây chưa chắc đã phù hợp với văn hóa địa phương.
4) Giáo dục CTXH phải dựa trên kinh nghiệm văn hóa và lịch sử của địa phương, và tôn trọng những niềm tin về văn hóa, những giá trị, những truyền thống, những mục tiêu và hoài bão của người dân ở địa phương.
5) Giáo dục CTXH phải chú trọng vai trò đắc lực của các cộng đồng và các nguồn tài nguyên địa phương. Thực hành CTXH phải phản ánh ý kiến đóng góp và tham gia của địa phương.
Song song với công tác đào tạo, việc xây dựng đội ngũ những nhân viên CTXH có khả năng, có tâm huyết, và trong sạch, để hoàn thành đúng đắn chức năng của CTXH cũng cần thiết không kém. Để thực hiện công việc quan trọng này, có ba điều kiện cơ bản sau đây:
• Mức lương của nhân viên CTXH phải hợp lý, nghĩa là phải tương đương với mức lương của những người tốt nghiệp đại học làm việc trong khu vực kinh tế tư.
• Rèn luyện tác phong đạo đức và trách nhiệm nghề nghiệp của nhân viên CTXH. Công tác này không chỉ thực hiện trong phạm vi đại học mà cả ở các cơ quan CTXH công cũng như tư. Trách nhiệm bồi thường dân sự nếu được thực thi đúng đắn sẽ buộc các cơ quan thuê mướn nhân viên CTXH phải bảo đảm phẩm chất của nhân viên.
• Kỷ luật nghiêm minh. Ngành CTXH Việt Nam cần xây dựng cơ chế tự quản để nâng cao kiến thức, tranh đấu cho quyền lợi, và thi hành kỷ luật đối với hội viên. Ở Mỹ, cơ chế tự quản này là Hội Những Người Làm CTXH/National Association of Social Workers, có trụ sở trung ương ở thủ đô Washington và chi nhánh ở tất cả các tiểu bang, các vùng của nước Mỹ. Một trong những trách nhiệm của Hội là tổ chức thi và cấp chứng chỉ hành nghề CTXH Lâm Sàng (LCSW, Licensed Clinical Social Worker), và thi hành các biện pháp chế tài đối với những hội viên vi phạm Nội Quy Đạo Đức do hội soạn thảo và ban hành. Kỳ thi lấy chứng chỉ hành nghề CTXH do hội Những Nhân viên CTXH Quốc Gia Mỹ tổ chức mỗi năm 2 lần, dành cho những người tốt nghiệp Thạc Sỹ CTXH (Master of Social Work) và có ít nhất 4 năm hành nghề dưới sự hướng dẫn của một nhân viên CTXH có chứng chỉ hành nghề CTXH Lâm Sàng. Ở Mỹ chỉ những người có chứng chỉ hành nghề CTXH Lâm Sàng mới được mở văn phòng tư vấn tâm lý, làm chuyên viên hoà giải cho toà án gia đình trong các vụ ly dị tranh quyền nuôi con, làm chuyên viên CTXH thần kinh tâm trí cho bệnh nhân tâm thần…
4) VẤN ĐỀ BẠO HÀNH TRONG GIA ĐÌNH
Bạo hành trong gia đình không phải là vấn nạn riêng của Việt Nam mà là vấn nạn chung của hầu hết các dân tộc, các nền văn hóa. Trong khu vực đông và đông nam Á, vấn nạn này đặc biệt trầm trọng ở Trung Quốc, Triều Tiên, và Việt Nam. Có hai nguyên nhân giải thích tình trạng này:
• Bản chất tự nhiên của con người: mạnh được yếu thua, đây là bản chất tự nhiên của mọi sinh vật.
• Xã hội dung thứ: khi nào các “chuyên gia tâm lý” trên truyền thanh truyền hình còn khuyên nạn nhân “nhẫn nhịn để bảo vệ truyền thống văn hóa gia đình Việt Nam” “khuyên nhủ anh ấy” “hy sinh cho con cái”… và xã hội cũng chỉ có biện pháp khuyên can, tệ nạn bạo hành trong gia đình sẽ còn tiếp diễn và sẽ còn là nỗi ám ảnh của mọi gia đình có con gái đến tuổi lập gia đình.
Bên cạnh các biện pháp uốn nắn, giáo dục cưỡng bách như các lớp dạy cách đối phó với sự căng thẳng/stress management, đối phó với sự nóng giận/anger management, phương pháp giải quyết mâu thuẫn/problem solving skills, nghệ thuật làm cha mẹ/parenting, cần có luật pháp nghiêm cấm hành vi bạo hành trong gia đình. Đây là một trong những điều cơ bản của một xã hội văn minh: không ai được phép bạo hành, kể cả Nhà Nước (lực lượng công an cảnh sát cũng chỉ được phép sử dụng vũ lực để trấn áp tội phạm khi có hành vi chống cự). Ở California, người bạo hành, bất kể là chồng hay vợ, nếu có chứng cớ, đều bị cảnh sát bắt giữ và truy tố.
5) NUÔI DẠY CON CÁI
Tệ nạn đánh đập con cái cũng không phải là vấn nạn riêng của Việt Nam mà là vấn nạn chung của các nước phát triển sau. Việt Nam có câu “Thương thì cho roi cho vọt, Ghét thì cho ngọt cho bùi”, Âu Mỹ cũng có câu “Cất roi đi thì làm hư con cái”/Spare the rod, Spoil the child. Khi các nước Âu Mỹ phát triển lên, khoa tâm lý giúp họ nhìn ra những tai hại của biện pháp roi vọt, và họ cố gắng tìm ra các biện pháp uốn nắn, kỷ luật trẻ em một cách nhân bản và hữu hiệu hơn. Ngày nay, ở Âu Mỹ người ta nghiêm cấm cả những hành vi đánh đập, độc ác, với thú vật. Điều khó khăn là trái với khi bỏ tiền ra mua một cái tủ lạnh, một cái TV, hay một chiếc xe máy… chúng ta đều được tặng cho một cuốn cẩm nang dạy cách giữ gìn, bảo quản máy cho tốt; nhưng đối với sự kiện quan trọng gấp bội, quý hóa gấp bội, là khi ở nhà bảo sanh ra với em bé trong tay, không bà mẹ nào, ông bố nào được tặng cho một cuốn cẩm nang về nghệ thuật làm cha mẹ. Chính vì vậy khi gặp khó khăn, khi bị căng thẳng trong cuộc sống, người ta dễ trở nên bạo động. Biện pháp giải quyết tệ nạn này là sự ngăn chặn gắt gao của pháp luật và lớp giáo dục nghệ thuật làm cha mẹ do các cơ quan CTXH công và tư tổ chức rộng khắp các địa phương.
Ngoài vấn đề bạo hành, một số giá trị truyền thống khác trong quan hệ cha mẹ con cái của văn hóa Việt Nam có lẽ cũng cần xem lại vì có thể không còn thích hợp:
Vâng lời: cha mẹ nào cũng muốn được con cái vâng lời, nhưng không cần nhìn đâu xa, chỉ cần nhìn sang nhà hàng xóm là đã có thể thấy ngay những điều ông bà hàng xóm dạy con và muốn con nghe theo, có khi ngược với điều mình dạy và muốn con mình nghe theo. Có lẽ chỉ nên muốn con cái vâng lời ở tuổi thơ ấu, và ngay từ tuổi thơ ấu đã nên dạy cho con cái biết tự suy nghĩ, phân biệt đúng sai theo những tiêu chuẩn chung của loài người (thí dụ lễ phép, thật thà, lương thiện, giữ lời hứa, biết xếp hàng, không xả rác bừa bãi, đúng giờ, không trộm cắp…) và đặt câu hỏi khi chưa hiểu rõ hoặc khi bất đồng ý kiến.
Hy sinh tất cả cho con cái: giá trị này quá lý tưởng, vì vậy có thể gây ra một gánh nặng cho cả cha mẹ lẫn con cái. Khi cha mẹ hy sinh quá nhiều cho con cái thì có khuynh hướng trông đợi con cái phải có hành vi tương xứng. Con cái rất ít khi có thể thương cha mẹ bằng cha mẹ thương con cái, vì vậy không thể nào chăm sóc, hy sinh cho cha mẹ như cha mẹ chăm sóc và hy sinh cho con cái. Nếu cha mẹ bớt hy sinh cho con cái đi một chút, để ý đến nhu cầu của bản thân mình hơn một chút, quan hệ cha mẹ con cái có lẽ sẽ bớt nặng nề hơn, trở nên thoáng hơn, thực tế hơn, tốt đẹp hơn. Trong văn hóa cá nhân chủ nghĩa rất thực tế của Âu Mỹ, tình trạng cha mẹ hy sinh tất cả cho con cái, lấy thành công của con cái làm thành công của mình, hạnh phúc của con cái là hạnh phúc của mình bị xem là quấn chằng chịt vào nhau/enmeshed, tức là một tình trạng gia đình hết sức không lành mạnh. Âu Mỹ không nhắm đến quan hệ gia đình rất cao, rất lý tưởng, rất khó đạt được trong văn hóa Khổng Mạnh, trong Nhị Thập Tứ Hiếu… mà chỉ nhắm những giá trị trung bình, thực tế, dễ đạt được như công bằng, tôn trọng lẫn nhau. Cha mẹ có nguồn vui, nguồn hạnh phúc riêng của cha mẹ, con cái có nguồn vui, nguồn hạnh phúc riêng của con cái, không ai là gánh nặng của ai.
6) BẢO VỆ CÁC CỘNG ĐỒNG THIỂU SỐ
Những nhóm thiểu số và yếu thế như người già, phụ nữ, người đồng tính, người dân tộc… cần được bảo vệ để không bị kỳ thị, ngược đãi. Ở Việt Nam, cũng như ở các nước chậm phát triển khác, đồng tính vẫn còn bị đa số quần chúng coi là một “bệnh”. “Bệnh” là một tình trạng vật chất hay tâm lý có thể gây ra tử vong, hoặc làm suy yếu, hoặc đau đớn, hoặc ảnh hưởng đến khả năng làm việc, giải trí và sinh hoạt bình thường của con người. Tình trạng đồng tính không gây ra bất cứ triệu chứng nào kể trên, người đồng tính hiện diện từ thượng cổ, trong mọi văn hóa, và khả năng sống, giải trí, làm việc của họ không có gì khác biệt so với người dị tính. Chính vì vậy, từ năm 1973 Cẩm Nang Chẩn Đoán và Thống Kê bệnh tâm thần (DSM, hiện nay là DSM IV-TR) của Mỹ, được sử dụng cho ngành thần kinh tâm trí tại nhiều nước trên thế giới, đã loại bỏ đồng tính ra khỏi cẩm nang này và khoa thần kinh tâm trí hiện nay chủ trương chỉ những người đồng tính, do ảnh hưởng của văn hóa và tôn giáo, đau khổ và che dấu dục vọng đồng tính tự nhiên của mình, mới cần được giúp đỡ để công khai nhìn nhận và vui sống bình thường với dục tính đó.
Văn hóa của đồng bào sắc tộc đóng góp vào tính chất phong phú của văn hóa Việt Nam. Đồng bào sắc tộc cần được giúp đỡ để nâng cao đời sống vật chất, cải thiện vệ sinh, và phòng chống bệnh tật, tuy nhiên sự giúp đỡ này phải được thực hiện trong khuôn khổ tôn trọng truyền thống văn hóa địa phương, tránh tình trạng người kinh mang tôn giáo, văn hóa, của người kinh đến truyền bá và hủy hoại văn hóa, tôn giáo phong phú của đồng bào sắc tộc. Ở Mỹ, tình trạng tuyệt chủng về thể chất hoặc về văn hóa của nhiều bộ tộc da đỏ sau khi người da trắng chiếm cứ Mỹ châu là một bài học đắng cay mà chúng ta có thể học và tránh được.
Giáo dục là một trong những biện pháp hữu hiệu để nâng cao ý thức con người và bảo vệ các cộng đồng thiểu số. Khi được giáo dục, quần chúng sẽ ý thức được giá trị của tính đa dạng trong văn hóa, của nhân phẩm, và sẽ không còn hưởng ứng những thói diễu cợt rẻ tiền chế diễu người đồng tính, người yếu thế… như chúng ta thường thấy từ xưa đến nay trên các phương tiện truyền thông đại chúng ở Việt Nam và trong các cộng đồng Việt Nam hải ngoại.
Lực lượng nòng cốt để thực hiện các công việc lớn lao, khó khăn, và cao đẹp trên đây không ai khác hơn là đội ngũ những nhân viên CTXH rất trẻ trung của Việt Nam.
(Xin đọc tiếp chương 3)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: