Chương 1: Công tác xã hội Lý thuyết và thực hành

VNSW xin trân trọng giới thiệu Chương 1 với tiêu đề Sự hình thành của nghề Công tác xã hội tại Mỹ, trong Tập tài liệu Công tác xã hội: Lý thuyết và thực hành của tác giả Trần Đình Tuấn, ĐH San Jose, Hoa Kỳ:

1. Từ cổ xưa đến đầu thế kỷ thứ 17

Nhân loại có lẽ đã biết giúp đỡ lẫn nhau từ khi bắt đầu hiện diện trên trái đất. Khuynh hướng giúp đỡ người nghèo, người bệnh, người yếu đuối và người già dường như là bản tính bẩm sinh của con người, và được tất cả các tôn giáo quảng bá. Trong Phật giáo, bố thí là độ đầu tiên trong Lục Độ đưa chúng sinh ra khỏi bến mê đến cõi Niết Bàn[1]. Dựa trên Cựu Ước, vốn là nguồn gốc của Thiên Chúa giáo, Hồi giáo và Do Thái giáo, kinh Talmud của người Do Thái mô tả trách nhiệm của người giàu và quyền của người nghèo trong việc từ thiện. Kinh này cũng mô tả chi tiết sự đóng góp cũng như việc quản lý quỹ từ thiện. Chuyện người Samaritan tốt bụng trong Tân Ước (Luca, chương 10, câu 25-37) là một trong rất nhiều giáo huấn về từ thiện trong Thiên Chúa giáo. Có thể nói truyền thống từ thiện tích cực của Thiên Chúa giáo đã tạo nền tảng cho CTXH hiện đại ở Âu Mỹ và thế giới. Thuế từ thiện, Al-Zakat, là một trong năm tín điều trụ cột của Hồi giáo[2], theo đó tín đồ Hồi giáo đạt mức lợi tức hàng năm tương đương 87,48 gram vàng phải đóng góp 2,5% lợi tức cho từ thiện. Tín điều này quan trọng đến mức ở Saudi Arabia Cục Thuế và Zakat được thiết lập để thực thi từ thiện cưỡng bách. Trong văn hóa Việt Nam, một trong nhiều tục ngữ khuyến khích từ thiện là “Dù xây chín bậc phù đồ, không bằng làm phúc cứu cho một người”.

Khi xã hội loài người phát triển lên thành quốc gia, chính phủ được thành lập, và từ thiện công ra đời. Thí dụ: hai nghìn năm trước công nguyên, vua Hammurabi của Babylonia (Iraq ngày nay) đã ra luật bảo vệ đàn bà góa, trẻ mồ côi, và những người yếu đuối. Ở Việt Nam, khi có thiên tai như bão lụt, mất mùa, đói kém, các vua luôn luôn mở kho gạo cấp phát cho dân chúng. Những vua tồi như vua Lý Cao Tông (1176-1210) cũng thực hành công tác cứu tế này. Những vua hiền như Lý Thánh Tông (1054-1072) còn thương xót cả những tù phạm, và ra lệnh ban cho họ “hai bữa ăn mỗi ngày và chăn, chiếu”[3] .

Ở Âu châu, thế kỷ thứ 16, các tu viện Thiên Chúa giáo là những cơ quan cứu tế cơ bản, đặc biệt là ở vùng nông thôn. Trong thời gian này, sở hữu đất đai thuộc về các vua, quý tộc, và nhà thờ. Một phần lợi nhuận thu được từ đất và đóng góp của giáo dân được dùng để giúp đỡ người nghèo trong cộng đồng. Từ thời Trung Cổ [4] đã xuất hiện một hệ thống bệnh viện. Những bệnh viện này thường được xây dựng cạnh các chủng viện hoặc dọc theo những đường giao thông chính. Những bệnh viện này không chỉ cung cấp thuốc men, chữa trị cho người bệnh mà còn là nơi tạm trú cho những người đi đường nghèo đói, những trẻ mồ côi, người già, v.v… Đến giữa thế kỷ 14, chỉ riêng nước Anh đã có hàng trăm bệnh viện kiểu này.

Vào đầu thế kỷ thứ 13, sự gia tăng nhu cầu về len đã giúp tạo ra kỹ nghệ len. Để tăng sản xuất len, đất đai bắt đầu được rào lại thành những trại nuôi cừu rộng lớn với máy móc tân kỳ và những giống cừu mới. Trước đó, đất được bỏ ngỏ cho tá điền nghèo tận dụng mùa màng còn sót lại trên cánh đồng để nuôi gà, ngỗng, cừu. và lợn. Phong trào rào đất tốt cho kỹ nghệ len nhưng đã đẩy tá điền nghèo đến chỗ cùng khổ [5]. Tệ hơn nữa, ngoài mùa màng thất bát, còn xảy ra dịch hạch kéo dài từ 1347 đến 1351, xuất phát từ Trung quốc, lan sang các nước khác ở Á châu, Âu châu, và Phi châu, tàn sát ½ dân số Trung quốc (123 triệu còn 65 triệu), 1/3 dân số Âu châu (75 triệu còn 50 triệu) và 1/8 dân số Phi châu (80 triệu còn 70 triệu). Riêng ở Anh trong vòng hai năm (1348-1349), bệnh dịch đã giết khoảng 4,2 triệu dân (hơn ¼ dân số).

Những biến cố bi thảm kể trên, cộng thêm sự băng hoại của giáo hội Công giáo La Mã ở Anh, và sự mâu thuẫn giữa vua Henry VIII và Vatican [6] , đã tạo ra bất ổn trầm trọng ở Anh. Nạn nghèo đói, lang thang, thất nghiệp, ăn mày, trộm cắp gia tăng trong khi hệ thống từ thiện truyền thống do nhà thờ thiết lập bị xụp đổ. Vì vậy Chính phủ phải can thiệp và từ thiện công bắt đầu được xây dựng một cách có hệ thống. Năm 1601, Luật Người Nghèo Elizabethan nổi tiếng ra đời và có hiệu lực trong vòng gần 250 năm rất ít thay đổi. Luật này công nhận quyền được giúp đỡ của ba loại người trong xã hội: trẻ em bị bỏ rơi, người khuyết tật, và người mạnh khỏe. Trẻ em bị bỏ rơi được dạy nghề; người khỏe mạnh được cung cấp công ăn việc làm; và người khuyết tật, còn gọi là “người nghèo xứng đáng”/worthy poor được trợ giúp tại nhà hay trong các trại tế bần. Mặt khác, luật quy định biện pháp trừng phạt nặng nề: cha me, ông bà phải chăm sóc con, cháu; những kẻ lang thang khỏe mạnh từ chối làm việc có thể bị bỏ tù, quất roi, đóng dấu, hoặc xử tử. Luật cũng quy định rõ ràng trách nhiệm của chính quyền địa phương trong việc thi hành luật: bổn phận đóng thuế, trừng phạt tội trốn thuế, trách nhiệm của các viên chức địa phương…  Có thể nói luật Người Nghèo Elizabethan 1601 lần đầu tiên đã thiết lập một hệ thống từ thiện công do nhà nước quản lý bên cạnh hệ thống từ thiện truyền thống do nhà thờ tổ chức.

2. Hệ quả của Luật người nghèo Elizabethan 1601:

Khi di cư đến vùng đất mới Mỹ châu, người Anh đã mang theo phong tục,  tập quán của họ, và để giúp người nghèo, họ áp dụng những nguyên tắc của luật Người Nghèo Elizabethan: ở các thành phố lớn như Boston, Philadelphia, họ đặt ra những viên chức có trách nhiệm thu thuế cho công tác từ thiện. Trách nhiệm chính thi hành luật Người Nghèo được giao cho tổ chức chính quyền cấp thấp nhất: thị trấn. Ở các thuộc địa miền Nam, trách nhiệm này thuộc về nhà thờ. Các thị trấn, tuy nhiên, đã có những sáng kiến riêng, thí dụ: mỗi gia đình phải chăm sóc một người nghèo trong một thời gian hạn định mỗi năm. Năm 1687, thị trấn Hadley, bang Massachusetts, đã gửi một góa phụ đến cho nhiều gia đình nuôi, mỗi gia đình nuôi hai tuần lễ. Một tập quán phổ thông khác là đấu giá việc giúp đỡ người nghèo: người ra giá thấp nhất sẽ được giao việc chăm sóc một người nghèo đói nào đó.

Số người nghèo tăng dần theo thời gian. Vào giữa thế kỷ thứ 17, một số cộng đồng bắt đầu cấm di dân nghèo, bệnh, hoặc thất nghiệp. Trong thời gian này, do ảnh hưởng của chủ nghĩa Calvin, ác cảm với người nghèo bắt đầu xuất hiện, nhất là đối với người nghèo mạnh khỏe (“người nghèo không xứng đáng”) trông cậy vào từ thiện công. Người da đen và da đỏ bị coi là con cái của quỷ Satan và không được giúp đỡ. Trẻ em da trắng trong các gia đình nghèo bị tách khỏi bố mẹ và tập trung vào trại tế bần để học nghề.

Cuộc chiến tranh cách mạng (1775-1783) đã làm tăng đáng kể số người cực nghèo, trẻ mồ côi và người khuyết tật. Tình trạng này cùng với phong trào Thức Tỉnh và phong trào Giác Ngộ/Awakening and Enlightenment movements đã khuyến khích nhiều người tham gia vào công cuộc từ thiện.

Phong trào Thức Tỉnh bác bỏ chủ nghĩa Calvin trên ba nền tảng: (a) Không có cái gọi là số phận do Thiên Chúa an bài; (b) Không có một số người hạn định được Thiên Chúa chọn sẵn cho lên Thiên Đàng; (c) Ngược lại, tất cả mọi người đều có thể được Thiên Chúa cứu chuộc với điều kiện duy nhất là tuân theo và sống theo lời dạy của Thiên Chúa. Phong trào Thức Tỉnh biến từ thiện thành việc của mọi người trong xã hội thay vì chỉ của những người giàu. Nhờ sự tham gia của đại chúng, trong thời gian này đã xuất hiện những nhà từ thiện lỗi lạc, có khả năng huy động mọi người đóng góp tiền của vào quỹ từ thiện [7].

Phong trào Giác Ngộ sáng lập bởi những khoa học gia vĩ đại như Isaac Newton, người đã khẳng định vũ trụ không phải do Thiên Chúa tạo dựng trong bảy ngày như mô tả trong Thánh Kinh, nhưng vận hành theo những quy luật cố định mà con người có thể hiểu được; và John Locke, người đã xác quyết không có tội tổ tông, con người sinh ra bình đẳng, chịu ảnh hưởng của môi trường sống, và tất cả mọi người đều có thể được cứu rỗi trên thế gian.

Phong trào Thức Tỉnh và phong trào Giác Ngộ khiến cho đa số người Mỹ tin rằng nạn nghèo khổ không phải là một hiện tượng tự nhiên do Thiên Chúa áp đặt, và vì vậy có thể xóa bỏ được. Phong trào Thức Tỉnh và phong trào Giác Ngộ cũng là nền tảng cho nếp suy nghĩ mới về con người sinh ra bình đẳng, người nghèo cũng có quyền trên tài nguyên phong phú của đất nước như tất cả những người khác, về quyền bỏ phiếu, và về nguyên tắc tách rời giữa nhà thờ và nhà nước.

Sau độc lập, chính phủ liên bang để cho các tiểu bang tự chăm sóc lấy những người cần giúp đỡ. Chính quyền các tiểu bang giao trách nhiệm này cho tư nhân và các tổ chức tôn giáo. Đây là thời kỳ nước Mỹ trẻ trung mở rộng lãnh thổ về miền tây. Tài nguyên cực kỳ phong phú của miền đất mới làm cho nhiều người Mỹ trở nên giàu có, và tham gia từ thiện nhanh chóng trở thành một giá trị được xã hội nhìn nhận.

Từ cuối thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 19, cuộc cách mạng kỹ nghệ (1820-1870) và làn sóng di dân từ Âu châu đã làm tăng nhanh chóng số người cực kỳ nghèo khổ ở Mỹ. Hệ thống từ thiện tư trở nên hết sức không hiệu quả, và tốn phí để duy trì hoạt động của hệ thống này không ngừng gia tăng. Trong khi đó, nhiều kinh tế gia cổ điển nổi tiếng cổ vũ cho nền kinh tế tư bản, tự điều chỉnh bởi luật cung cầu không cần sự can thiệp của nhà nước. Adam Smith, David Ricardo, Thomas Malthus… tất cả đều mạnh mẽ ủng hộ nguyên tắc không can thiệp/laissez faire, theo đó tất cả các biện pháp can thiệp về kinh tế của nhà nước, kể cả các biện pháp làm giảm số người nghèo, hoặc đánh thuế cho quỹ từ thiện, đều không tốt.

Khuynh hướng ghét người nghèo này không chỉ có ở Mỹ mà cả ở Anh. Năm 1834 chính phủ Anh thông qua luật Người Nghèo Cải Cách nhằm kiểm soát chặt chẽ các hoạt động từ thiện. Một cơ quan giám sát cấp quốc gia được thiết lập với thẩm quyền sáp nhập các giáo phận để tái tổ chức các hoạt động từ thiện. Người khỏe mạnh bị cấm không được xin giúp đỡ của hệ thống từ thiện công, thuế được cắt giảm, chi tiêu cho từ thiện bị hạn chế, và mức sống của công nhân lĩnh lương tối thiểu được bảo đảm cao hơn mức sống của những người nhận giúp đỡ của nhà nước. Phù hợp với khuynh hướng chung này của xã hội, Thủ Tướng Bejamin Disraeli tuyên bố “nghèo là một tội phạm” ở nước Anh.

Ở Mỹ, nhờ tài nguyên phong phú, đất đai mênh mông, gần như bất cứ người siêng năng nào cũng có cơ hội làm giàu. Vì vậy ác cảm với người nghèo dễ nảy sinh. Tiêu biểu cho ác cảm này là Nathanial Ware, một triết gia đầu thế kỷ 19, kẻ đã coi những người khỏe mạnh ăn xin hay dựa vào từ thiện nhà nước như thú vật, và “tốt nhất cho xã hội là giết hết bọn ký sinh trùng ấy đi”. Lối suy nghĩ này phổ biến sâu rộng đến nỗi nhiều người Mỹ tin tưởng có thể xóa đói giảm nghèo bằng cách để cho người nghèo chết đi.

Có nhiều yếu tố dẫn đến tình trạng ghét người nghèo. Một trong số những yếu tố đó là đạo đức Tin Lành: người giàu phải giúp người nghèo, nhưng người nghèo phải chăm chỉ làm việc. Đáng tiếc là tất cả những người nghèo mạnh khỏe không có công ăn việc làm đều bị coi là lười biếng, và thương xót hoặc giúp đỡ họ là trái với ý muốn của Thiên Chúa. Một yếu tố khác là cao trào di dân của người Ái Nhĩ Lan và người Đức, mang theo không những một tôn giáo khác (Công giáo La Mã) mà cả lối suy nghĩ cũ của Âu châu (người nghèo có quyền được giúp đỡ vì vậy không cần phải tỏ lòng biết ơn với kẻ giúp đỡ). Những di dân này sống chen chúc trong những khu ổ chuột ở các thành phố lớn. Họ nghèo cực kỳ và lối sống của họ tạo ra những phiền toái: rượu chè, vô kỷ luật, phong tục và tôn giáo khác biệt… tất cả những điều này làm cho người Mỹ có ác cảm với di dân, và cho rằng đánh thuế để gây quỹ từ thiện là trái với Thiên Chúa giáo (tín đồ Thiên Chúa giáo tự nguyện chứ không cần bị bắt buộc đóng góp cho từ thiện).

Trong bối cảnh đó, bản báo cáoYates nổi tiếng được trình bày trước quốc hội bang New York năm 1824 (John VanNesh Yates, Secretary of State, viên chức hành chánh cao cấp nhất tiểu bang). Bản báo cáo này sau đó đã dẫn đến đạo luật Viện Tế Bần Hạt của tiểu bang New York/Poorhouse Act:

(a)          Chấm dứt tất cả các hình thức giúp đỡ người nghèo sống tại nhà họ;

(b)         Xây dựng những viện tế bần cho người cần giúp đỡ;

(c)          Người mạnh khỏe trong hạn tuổi 18-50 không được nhà nước giúp đỡ;

(d)         Đưa trẻ em bị bỏ rơi, người già cần giúp đỡ, người khuyết tật vào các trại tế bần do nhà nước quản lý;

(e)          chỉ định hạt (county), chứ không phải thị trấn là cấp nhà nước mang trách nhiệm chính trong công tác từ thiện công.

Đạo luật Viện Tế Bần Hạt của bang New York đã tạo nên nhu cầu phân loại và tập trung các loại người cần giúp đỡ khác nhau: trại mồ côi, viện dưỡng lão, nhà thương tâm thần, và trại cải tạo thiếu nhi phạm pháp…[8]. Thời gian này xuất hiện những hoạt động cách mạng bền bỉ và khoa học của Dorothy Lynde Dix, đã làm thay đổi toàn bộ việc chăm sóc bệnh nhân tâm thần ở Mỹ. Nhờ những hoạt động này, vào giữa thế kỷ 19 bang Massachusetts đã có luật tự lãnh trách nhiệm xây dựng và điều hành các bệnh viện dành riêng cho bệnh nhân tâm thần. Từ Massachusetts, Dorothy Dix đã phát triển cuộc thánh chiến của bà ra các bang khác, và cổ động nồng nhiệt cho một đạo luật liên bang dành thêm mười triệu mẫu đất[9] cho các tiểu bang, ngoài số 135 triệu mẫu đã cấp, để chi tiêu cho các dịch vụ chăm sóc bệnh nhân tâm thần. Sau cuộc đấu tranh lâu dài, lưỡng viện quốc hội đã thông qua luật này vào năm 1854; tuy nhiên, tổng thống Franklin Pierce đã phủ quyết vì lý do ông tin nó vi phạm hiến pháp. Ông viết “Tôi không thể tìm thấy trong hiến pháp điều khoản nào cho phép chính phủ liên bang trở thành người làm phúc, từ thiện thiện trên khắp nước Mỹ”.

Sau vài năm hoạt động, chẳng bao lâu sau các viện tế bần do nhà nước tiểu bang xây dựng để chăm sóc người già và trẻ em bị bỏ rơi đã trở thành những “mồ chôn người sống”, “nghĩa trang xã hội”… như mô tả chi tiết trong các tác phẩm văn chương đương thời.

Niềm tin vào các nguồn tài nguyên vô hạn của quốc gia, và nạn nghèo đói là hậu quả của suy đồi đạo đức cá nhân: lười biếng, vô đạo đức, trái với tinh thần Thiên Chúa giáo…, đã khuyến khích người Mỹ thuộc gia cấp trung lưu khởi đầu một cuộc thánh chiến để phục hồi đạo đức cho người nghèo. Năm 1843, hội Cải Thiện Tình Trạng Của Người Nghèo (CTTTCNN)/Association for Improving the Condition of the Poor đầu tiên được thành lập ở New York. Đa số hội viên là những người theo đạo Tin Lành khá giả thuộc giai cấp trung lưu. Mục đích giúp đỡ người nghèo của họ không phải là cứu trợ vật chất mà cung cấp tình thương, sự tôn trọng, và đặc biệt là động viên người nghèo tự nâng cao đạo đức, sống thanh bạch, làm việc chăm chỉ, và tuân theo lời dạy của Thiên Chúa, không uống rượu, cờ bạc… để thoát cảnh túng nghèo.

Từ niềm tin nguyên thủy ngây thơ đó, phong trào hội CTTTCNN nhanh chóng lan ra các bang khác. Phong trào cũng nhanh chóng nhận ra suy đồi đạo đức cá nhân không phải là nguyên nhân duy nhất và cũng không phải nguyên nhân chính của nạn nghèo đói; thay vào đó, môi trường kinh tế, xã hội, chính trị… đã là những nguyên nhân chính hoàn toàn nằm ngoài sự kiểm soát của người nghèo. Những tư tưởng gia lớn như Robert Owen, Mathew Carey, Sarah Hale, Joseph Tuckerman, Karl Marx… trình bày cách suy nghĩ mới về nạn nghèo đói. Hội CTTTCNN chẳng bao lâu sau đã bắt đầu có những hoạt động thực tế hơn:

(a)      Xem xét những nguyên nhân môi trường của nạn nghèo đói;

(b)     Cung cấp trợ giúp tài chính, công ăn việc làm, dịch vụ y tế, và nhà tắm công cộng;

(c)      Làm vệ sinh các khu nhà ổ chuột;

(d)     Xây dựng những khu gia cư mới;

(e)      Vận động cho cải cách xã hội.

Những hoạt động này đã đưa đến sự hình thành của một nghề mới: nghề CTXH.

3. Sự ra đời của phong trào từ thiện khoa học

Cuộc nội chiến ác liệt 1861-1865 đã tạo ra nhu cầu vĩ đại cho CTXH ở Mỹ: hàng triệu quả phụ và trẻ mồ côi; cựu binh tàn phế; nô lệ vừa được giải phóng, vô học, không nghề nghiệp, lang thang khắp miền Nam tìm kiếm việc làm và sự trợ giúp… Vì vậy nhu cầu cần giúp đỡ làm cho hệ thống từ thiện từ bị choáng ngộp, và nhà nước bắt buộc phải tham gia công cuộc cứu tế trên quy mô lớn. Tháng ba năm 1865, hai tháng trước khi chấm dứt nội chiến, quốc hội thành lập Sở Tỵ Nạn, Người Mới Được Tự Do, và Đất Bỏ Hoang thuộc Bộ Chiến Tranh. Đây là cơ quan an sinh xã hội đầu tiên của Chính Phủ Liên Bang. Điều đáng tiếc là do bất đồng ý kiến giữa hai ngành hành pháp và lập pháp (Tổng Thống Andrew Jackson liên tiếp phủ quyết luật thành lập cơ quan này, và Quốc Hội liên tiếp bác bỏ phủ quyết của Tổng thống), cơ quan rất hiệu quả này đã bị đóng cửa chỉ sau sáu năm hoạt động. Từ 1872, nước Mỹ trở lại hệ thống cũ các bang tự lo lấy các vấn đề an sinh xã hội. Đây là một bước lùi đáng kể trong lịch sử an sinh xã hội Mỹ. Phải mất hơn 50 năm, đến khi Luật An Sinh Xã Hội 1935 ra đời, Chính Phủ Liên Bang mới lấy lại vai trò chủ đạo trong an sinh xã hội. Vì mỗi bang có luật lệ khác nhau, CTXH đã được tổ chức và phối hợp một cách kém cỏi, xảy ra phổ biến nạn tham nhũng, lãng phí tài nguyên và kém hiệu quả. Tình trạng này buộc các tổ chức từ thiện công cũng như tư phải cải thiện, tái tổ chức, và sáp nhập những tổ chức nhỏ thành tổ chức lớn.

Trong thời gian này tư tưởng nạn nghèo đói là hậu quả trực tiếp của suy đồi đạo đức cá nhân tái xuất hiện. Tư tưởng này được củng cố bởi lý thuyết giả khoa học về “chủ nghĩa Darwin xã hội”/social Darwinism ,hay “sự sống còn của kẻ mạnh”/survival of the fittest của Herbert Spencer, và bởi chủ thuyết “không can thiệp” đả kích mọi hình thức can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế.

Ác cảm với người nghèo và sự thối nát của các tổ chức từ thiện do nhà nước quản lý đã dần dần dẫn đến việc cắt giảm hệ thống an sinh xã hội công. Từ thập niên 1870 nhà nước bang chỉ còn giữ lại trách nhiệm chăm sóc trẻ em bị bỏ rơi, người già, và người khuyết tật trong các trại tế bần. Người cần giúp đỡ sống bên ngoài trại tế bần phải trông cậy vào gia đình, bạn bè, lối xóm, nhà thờ… trước khi được hệ thống từ thiện tư giúp đỡ.

Cuộc khủng hoảng kinh tế của thập niên 1870 làm nổi bật sự khả năng kém cỏi của hệ thống an sinh xã hội và dân chúng nổi loạn khắp nơi. Năm 1877, dân quân bang và quân đội liên bang đã phải được huy động để đối phó với nạn nổi loạn ở nhiều thành phố lớn. Người Mỹ bắt đầu nhận ra những hoạt động từ thiện tổ chức kém cỏi đã làm hại nhiều hơn giúp ích cho xã hội. Lượng định mới này đã dẫn đến phong trào Hội Các Tổ Chức Từ Thiện (HCTCTT)/Charity Organization Society và nguyên lý từ thiện khoa học.

Phỏng theo mô hình HCTCTT Luân Đôn thiết lập vài năm trước đó, Josephine Shaw Lowell, một trong những lãnh tụ của phong trào, đã thành lập HCTCTT New York ở Buffalo vào năm 1882. Đến đầu thế kỷ 20 đã có 138 HCTCTT trên khắp nước Mỹ. Với niềm tin mạnh mẽ cung cấp cứu tế không điều tra cũng giống như bác sĩ cho toa không khám bệnh, HCTCTT gửi những “người thăm viếng thân thiện” đến từng gia đình cần trợ giúp, điều tra từng trường hợp để xác định nguyên nhân gây ra tình trạng bần cùng, và vì vậy biến hoạt động từ thiện thành công việc của trí não thay vì của con tim. Nền tảng của phong trào HCTCTT là niềm tin vào trách nhiệm của cá nhân đối với đời sống riêng tư, và vô đạo đức, lười biếng, cũng như sự giúp đỡ không phân biệt, đều là tội lỗi. Vì lẽ đại đa số lãnh tụ của phong trào cũng là những lãnh tụ trong guồng máy kinh tế, phương pháp quản trị của họ đã được vận dụng vào việc tổ chức và quản lý từ thiện. Phương pháp điều tra sâu rộng từng trường hợp của phong trào HCTCTT đã dẫn đến sự hình thành phương pháp “quản lý trường hợp”/case work và CTXH trong giáo dục đại học ở Mỹ.

Bất mãn với cách tiếp cận cứng rắn và vô cảm của phong trào HCTCTT, một số lãnh tụ khác của từ thiện Mỹ, trong số đó có Jane Addams, thiết lập Hull House ở Chicago năm 1889 (phỏng theo mô hình Toynbee Hall, Luân Đôn 1884). Đây là cơ sở đầu tiên của phong trào Nhà Định Cư (NĐC) ở Mỹ. Để hiệu quả, những người tham gia phong trào NĐC dọn vào những khu ổ chuột, sống trong hoàn cảnh của người nghèo, và làm việc cùng với họ để thay đổi toàn bộ các khu xóm và cải thiện chất lượng cuộc sống của cư dân. Từ Hull House ở Chicago, phong trào nhanh chóng lan rộng. Đến năm 1910 đã có khoảng 400 NĐC trên toàn quốc. Phong trào cải thiện thành công nhiều xóm nghèo, xây dựng nhà trẻ, trường mẫu giáo, phòng đọc sách, lớp dạy thi quốc tịch, văn phòng tìm việc làm… Về sau, phong trào NĐC tham gia vào những hoạt động lớn hơn như tranh đấu cho chế độ làm việc tám giờ/ngày, sáu ngày/tuần; cấm lao động trẻ em; thiết lập toà thiếu nhi đầu tiên trên thế giới ở Hạt Cook, Chicago (có trụ sở đối diện Hull House), v.v…

Do những khác biệt lớn lao về chủ trương và về phương pháp hoạt động, đã có nhiều bất đồng gay gắt giữa hai phong trào. Phong trào HCTCTT chỉ trích hội NĐC là quá cảm tính và không khoa học, ngược lại, phong trào NĐC chỉ trích HCTCTT là lạnh lùng, xa cách, bủn xỉn, cha chú và phán xét… Trong thực tế, mặc dù khác nhau rất xa, cả hai phong trào đã đóng góp vào sự hình thành của phương pháp quản lý trường hợp, và vì vậy, sự ra đời của một nghề mới. Đến đầu thế kỷ 20, hai phong trào bắt đầu hợp tác và trong thực tế đã hội nhập vào “CTXH”.

4. Luật an sinh xã hội  1935

Ra đời trong bối cảnh đại khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1939, Luật an sinh xã hội (ASXH ) 1935 đánh dấu một bước tiến lớn của chính phủ liên bang Mỹ. Đạo luật này chấm dứt hoàn toàn chính sách phủi tay đã có từ trước độc lập, và nhà nước bắt đầu can thiệp vào an sinh xã hội một cách áp đảo, trên quy mô lớn và vĩnh viễn. Đã được mở rộng nhiều lần qua các luật tu chính, Luật ASXH ngày nay bảo đảm một lợi tức tối thiểu và ổn định cho người già, người về hưu, người khuyết tật, bệnh nhân tâm thần, quả phụ, người góa vợ, và trẻ con (con cái của những người đã đóng góp vào quỹ an sinh xã hội trước khi từ trần), và bảo hiểm y tế MediCare cho người cao niên (65 tuổi trở lên).

Trụ sở trung ương đóng tại Baltimore, bang Maryland, gần thủ đô Hoa Thịnh Đốn, cơ quan ASXH hiện nay có 62.000 nhân viên, 10 văn phòng vùng, và 1300 văn phòng địa phương. Trong năm 2004 cơ quan này đã chi trả 500 tỷ Mỹ kim cho những người được hưởng quyền lợi. So với hệ thống ASXH của nhiều quốc gia phát triển khác, luật ASXH Mỹ có nhiều khuyết điểm; mặc dù vậy, đây là quỹ an sinh xã hội lớn nhất thế giới, và cơ quan ASXH là cơ quan có ngân sách lớn nhất trong chính phủ [10].

Tài trợ cho quỹ ASXH là thuế tiền lương, do chủ nhân và người làm thuê đóng (mỗi bên 50%). Do nhiều nguyên nhân, quỹ ASXH hiện có rủi ro phá sản khi thế hệ bùng nổ em bé/baby boomer về hưu đại trà trong vòng thập niên tới đây[11] , và làm thế nào tránh nguy cơ này đang là một trong những đề tài tranh cãi lớn nhất ở Mỹ hiện nay. Những người chỉ trích Luật ASXH nêu lên những điểm sau:

1)                         Nguyên tắc “thu đến đâu chi hết đến đấy”/pay as you go không giúp giữ lại số thặng dư trong quá khứ để đáp ứng số chi trả gia tăng trong hiện tại và tương lai.

2)                         Cam kết của nhà nước chi trả những khoản phúc lợi ngày càng tăng của số người thụ hưởng cũng ngày càng tăng, bất kể sự chênh lệch về nhu cầu của người thụ hưởng, và bất kể khả năng thực tế của ngân sách nhà nước.

3)                         Luật ASXH không giúp đỡ những người cùng khổ ở dưới đáy của xã hội: những người rất nghèo đã không làm việc hoặc không làm việc đủ thời gian luật định (người nghèo mạnh khỏe).

Mặc dù vậy, Luật ASXH đã đóng một vai trò đáng kể trong việc làm giảm số người cao niên nghèo ở Mỹ: từ 35% năm 1959 xuống 10% hiện nay.

5. Sự hình thành CTXH như một nghề chuyên môn

Một thời gian ngắn sau khi tác phẩm “Xã Hội Sinh Động”/Dynamic Sociology của Lester Frank Ward ra đời vào năm 1883, các lớp xã hội học đã được mở ra ở nhiều trường cao đẳng và đại học Mỹ, và CTXH được xem là phần ứng dụng của khoa xã hội học. Những nhân viên CTXH nhanh chóng nhận ra công việc của họ đòi hỏi kiến thức không những từ xã hội học mà cả từ một nền tảng rộng lớn hơn bao gồm kinh tế, tâm lý, luật, sinh vật… Vì vậy, CTXH bắt đầu tách ra khỏi xã hội học, và trường CTXH đầu tiên được thiết lập vào năm 1898 khi hội Các Tổ Chức Từ Thiện New York tổ chức Trường Phúc Thiện Mùa Hè với chương trình huấn luyện hàng năm dài sáu tuần lễ dành cho những nhân viên CTXH đang hoạt động[12] . Vài năm sau, chương trình huấn luyện này được cải tổ thành một năm, thu nhận sinh viên trong quần chúng, và tên trường được đổi thành Trường Phúc Thiện New York. Năm 1910, chương trình huấn luyện được cải tổ thành hai năm. Năm 1919, tên trường đổi thành Trường CTXH New York, và sau này trở thành Trường Cao Học CTXH Đại Học Columbia.

Năm 1907, các lãnh tụ của phong trào Nhà Định Cư cũng góp phần thiết lập trường Dân Sự Vụ và Phúc Thiện Chicago. Năm 1920 trường này trở thành trường CTXH đại học Chicago. Đến năm 1910 đã có năm thành phố lớn nhất nước Mỹ có trường CTXH [13].

Mặc dù trải qua những phát triển kể trên, câu hỏi vấn vương về tính chuyên nghiệp của CTXH vẫn còn là đề tài tranh cãi. Năm 1915, một bài thuyết trình nhanh chóng trở thành nổi tiếng nhan đề “CTXH Có Phải Là Một Nghề Chuyên Môn Hay Không?”được trình bày trước Hội Nghị Phúc Thiện và Phục Hồi Toàn Quốc/National Conference on Charities and Correction. Thuyết trình viên, Tiến Sỹ Abraham Flexner, một trong những nhà giáo dục ảnh hưởng nhất của nước Mỹ trong nửa đầu của thế kỷ 20 đã hùng hồn trả lời “Không!”  Lý do: CTXH không đòi hỏi một kỹ năng hay phương pháp chuyên biệt nào; bất cứ ai có một trái tim nồng nhiệt và một kiến thức chung về tài nguyên trong cộng đồng đều có thể làm CTXH.

Lượng định của Flexner là một đòn nặng giáng vào nghề CTXH non trẻ. May mắn thay, hai năm sau, 1917 tác phẩm “Định bệnh Xã Hội”/Social Diagnosis của Mary Richmond ra đời [14]. Mặc dù tác phẩm không bao gồm kiến thức mới về tâm lý học của Freud, và không cung cấp phương pháp chữa trị nào, tác phẩm 500 trang của Mary Richmond cống hiến độc giả một mô tả chi tiết tất cả các hoàn cảnh sống có thể xảy ra cho khách hàng của CTXH, và phương pháp khoa học bà đã sử dụng để thu thập thông tin cá nhân để định bệnh cho mỗi trường hợp. “Định Bệnh Xã Hội” thoả mãn tất cả các đòi hỏi về khoa học kể cả những đòi hỏi do chính Abraham Flexner đề ra. Tác phẩm vì vậy nhanh chóng chứng minh một cách không thể chối cãi CTXH là một nghề chuyên môn.

Tháng Tư 1917, nước Mỹ tham gia thế chiến I (1914-1918). Để thỏa mãn nhu cầu CTXH vĩ đại do chiến tranh gây ra, hội Chữ Thập Đỏ đã tài trợ 15 đại học để đào tạo nhân viên CTXH, và Mary Richmond được mời soạn tài liệu giảng dạy. Những khổ đau cùng cực của cá nhân và đóng góp mới của Freud vào khoa tâm lý học đã giúp chuyển CTXH từ khuynh hướng kinh tế xã hội cũ sang khuynh hướng tâm lý bệnh cá nhân mới, và năm 1918 Smith College [15] mở trường CTXH Tâm Thần, cống hiến chương trình huấn luyện dài sáu tháng cho các trợ lý tâm thần phục vụ trong các đơn vị quân y.

Phong trào sức khỏe tâm thần của thập niên 1920, sự mê hoặc của thế giới đối với tâm lý học của Freud, và nền kinh tế thịnh vượng đã đưa CTXH tâm thần và quản lý trường hợp lên vị trí áp đảo trong khi CTXH cộng đồng bị bỏ bê.[16] . Sự xụp đổ của nền kinh tế Mỹ vào năm 1929, dẫn đến đại khủng hoảng kinh tế toàn cầu 1929-1939, đã giúp đưa TCXH trở lại con đường phát triển đúng đắn, quân bình giữa cá nhân/micro, cộng đồng/macro, và tầng trung gian/mezzo (gia đình, khu xóm, và nhóm nhỏ).

Năm 1920, để ấn định một tiêu chuẩn chung cho giáo dục CTXH Bắc Mỹ (Mỹ và Canada), Hội Trường Đào Tạo CTXH Chuyên Nghiệp được thành lập. Sau một số lần đổi tên, từ 1952 tổ chức này được gọi là Hội Đồng Giáo Dục CTXH/Council on Social Work Education, có nhiệm vụ ấn định và duy trì tiêu chuẩn cho các môn học và chứng nhận cho các trường CTXH hội đủ tiêu chuẩn cấp bằng Cử Nhân và Cao Học.

Năm 1955, Hội Những Nhân viên CTXH Quốc Gia (NASW) được thành lập. Hội có trụ sở trung ương tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn, có hơn 150.000 hội viên, là hội CTXH chuyên nghiệp lớn nhất thế giới. Hội Những Nhân viên CTXH Quốc Gia ghi trên địa chỉ mạng: Hội hoạt động “để gia tăng sự phát triển và trưởng thành về chuyên môn của hội viên, để tạo dựng và duy trì tiêu chuẩn nghề nghiệp và để cổ vũ cho những chính sách xã hội đúng đắn.” Nội Quy Đạo Đức của Hội cung cấp tiêu chuẩn cho nghề CTXH và để bảo vệ quần chúng.

Năm 2006, theo Phòng Thống Kê Việc Làm, Bộ Lao Động Mỹ, có 595.000 việc làm CTXH trên toàn quốc. Với mục tiêu làm thăng tiến chất lượng cuộc sống của con người, nhân viên CTXH làm việc trong các viện tâm thần, cơ quan an sinh trẻ em, tổ chức cai nghiện, trường học, nhà thương, nhà tù, toà án, trong các văn phòng tư vấn… và cả trong quân đội. Nhân viên CTXH ngày nay không chỉ phục vụ người nghèo, người bệnh, người già, mà tất cả mọi thành phần sống trong xã hội, kể cả những người ly dị tranh con, người muốn nhận con nuôi, người muốn tư vấn tâm lý. Nhu cầu CTXH đang gia tăng, đặc biệt là trong lĩnh vực sức khỏe tâm thần, cai nghiện, và dịch vụ cho người cao niên.


[1] Lục độ: 1. Bố Thí; 2. Trì Giới; 3. Tinh Tấn; 4. Nhẫn Nhục; 5. Thiền Định; 6. Trí Huệ.

[2] Al-Shahadah: Allah là Thượng Đế duy nhất và Muhammad là đấng Tiên Tri; 2. Cầu nguyện năm lần một ngày hướng về Mecca; 3. Al-Siyam: Cữ ăn, uống, tình dục từ mặt trời mọc đến mặt trời lặn trong tháng Ramadan; 4. Al-Zakat: Đóng thuế phúc thiện để giúp đỡ người nghèo; 5. Al-Haji: Hành hương đến Mecca ít nhất một lần trong đời trừ khi không có sức khỏe hoặc phương tiện tài chính.

[3] Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội 1993, tập 1, trang 271.

[4] Từ sau khi đế quốc La Mã phương Tây xụp đổ trong thế kỷ thứ năm đến thời Phục Hưng thế kỷ thứ 15.

[5] Cuối thế kỷ 19, khi phong trào rào dậu hoàn tất, nông dân nghèo không còn đất sống ở miền quê, bắt đầu di cư về thành phố, gia nhập lực lượng lao động rẻ tiền lớn lao và đóng góp đáng kể vào cuộc cách nạng kỹ nghệ ở nước Anh.

[6] Dẫn đến việc giáo hoàng Clement VII rút phép thông công vua Henry VIII và nhà vua tịch thu đất nhà thờ, phá hủy tu viện, lấy gạch đá xây dựng tuyến phòng thủ dọc bờ biển phía Nam để phòng ngừa giáo hoàng liên minh với Tây Ban Nha và Pháp xâm lấn. Đồng thời cũng dẫn đến việc nhà vua lập giáo hội Anh, tách rời và độc lập với Vatican.

[7] Điển hình trong số này là George Whitefield, người đã khiến cho Benjamin Franklin, vốn nổi tiếng tiêu xài kỹ lưỡng, phải dốc túi, đầu tiên với “một nắm tiền đồng, rồi ba hay bốn đồng bạc, rồi năm đồng vàng” như Franklin đã kể trong hồi ký.

[8] Nhà Tạm Trú cho thiếu nhi phạm pháp, trại cải huấn thiếu nhi đầu tiên ở Mỹ đươc thiết lập năm 1824 tại thành phố New York.

[9] Một mẫu (acre) = 4047 mét vuông.

[10] Lớn hơn nhiều so với ngân sách Bộ Quốc Phòng (Bộ có ngân sách lớn thứ nhì trong chính phủ). Trong năm 2004 Bộ QP Mỹ có 2,3 triệu binh sĩ (kể cả vệ binh và quân trừ bị) và 700,000 nhân viên dân sự, ngân sách 401,7 tỷ Mỹ kim.

[11] Những người Mỹ sinh trong khoảng 1946-1064, tổng cộng khoảng 76 triệu, được gọi là thế hệ đông nhất, giàu nhất và có ảnh hưởng nhất trong lịch sử Mỹ.

[12] Có 27 nhân viên CTXH tham dự khóa học đầu tiên này.

[13] San Jose State University, đại học công đầu tiên của vùng bờ biển miền Tây nước Mỹ, được thành lập năm 1857; các lớp học về CTXH bắt đầu được giảng dạy từ năm 1939, trong bộ môn Xã Hội Học. Trường CTXH SJSU được thành lập năm 1969.

[14] Ra đời ở Bellville, bang Illinois, năm 1861, Mary Richmond (1861-1928) là một trẻ mồ côi; lớn lên trong cảnh nghèo đói và sức khỏe yếu ớt. Tự học, bà tham gia hoạt động từ thiện rất sớm và trở nên một trong những lãnh tụ của phong trào Hội Các Tổ Chức Từ Thiện. Giới học thuật ngày nay coi bà là một trong những mẹ đẻ của nghề CTXH Mỹ.

[15] Đại học nữ nổi tiếng của Mỹ tại Northamton, bang Massachusetts, thành lập năm 1871, lớn nhất trong nhóm “Bảy Chị Em” (bảy đại học nữ ở Đông Bắc Mỹ, nay chỉ còn lại năm sau khi Radcliff nhập với Harvard và Vassar trở thành trường nam nữ).

[16] CTXH ở tầng vi mô (micro), còn gọi là CTXH cá nhân, giúp khách hàng thay đổi, thích ứng với môi trường để có được đời sống tốt đẹp hơn. CTXH ở tầng vĩ mô (macro) còn gọi là CTXH cộng đồng nhắm thay đổi môi trường để con người có đời sống tốt đẹp hơn. CTXH vĩ mô nhắm thay đổi xã hội bằng các chính sách, CTXH ở tầng trung gian (mezzo) làm việc với nhóm nhỏ, khu xóm, và gia đình.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: