Thực trạng An sinh xã hội 2001-2010, phần 1

Khả năng tạo việc làm của nền kinh tế còn thấp, tỉ lệ thất nghiệp của lao động thanh niên còn cao, tỉ lệ tham gia bảo hiểm y tế bắt buộc của lao động làm việc trong khu vực ngoài nhà nước còn thấp, số lượng người được hưởng trợ giúp xã hội còn thấp … Đó là một số “nét chính” trong bức tranh thực trạng an sinh xã hội ở nước ta trong giai đoạn 2001-2010.

Song bên cạnh những “nét chính” đó bức tranh thực trạng an sinh xã hội ở nước ta trong giai đoạn 2001-2010 cũng không thiếu những “điểm sáng”. Nhìn vào thực trạng để tìm kiếm giải pháp khắc phục và phát huy hơn nữa những “điểm sáng” trong hệ thống an sinh xã hội nước nhà là một trong những mục tiêu cốt lõi của Chiến lược An sinh xã hội 2011 – 2020.

VNSW xin trích dẫn những nét chính trong đánh giá về thực trạng an sinh xã hội giai đoạn 2001-2010 đã được đề cập đến trong Chiến lược An sinh xã hội 2011-2020.

A. Chính sách thị trường lao động

Trong thời gian qua, Nhà nước đã ban hành và triển khai nhiều chính sách hỗ trợ, tạo cơ hội tham gia thị trường lao động cho người nghèo, thanh niên, lao động nông thôn, lao động trong khu vực phi chính thức, lao động dôi dư, lao động tàn tật và các nhóm lao động dễ bị tổn thương khác do bị tác động của các chính sách kinh tế xã hội và toàn cầu hóa.

Chiến lược An sinh xã hội 2011-2020 đánh giá chính sách thị trường lao động dưới những góc cạnh như chính sách tín dụng ưu đãi gắn với tạo việc làm đào tạo nghề, phát triển hệ thống thông tin thị trường lao động; chính sách về xuất khẩu lao động, chính sách đào tạo nghề, và hệ thống dịch vụ việc làm.

A.1. Tín dụng ưu đãi gắn với tạo việc làm

Những chính sách về tín dụng ưu đãi gắn với tạo việc làm, đào tạo nghề, phát triển hệ thống thông tin thị trường lao động tại các vùng đã giúp nâng cao trình độ tay nghề, đảm bảo sinh kế, tạo thêm nhiều việc làm và tăng thu nhập cho người dân.

Cụ thể đến nay Nhà nước đã ban hành khoảng 20 chính sách tín dụng ưu đãi, sử dụng cơ chế vay tín dụng thông qua các chương trình, tổ chức, hội đoàn thể. Mục tiêu của các chính sách tín dụng này rất đa dạng, tín dụng để phát triển sản xuất, tín dụng cho học sinh, sinh viên…

Đối tượng hưởng lợi là người nghèo, người dân tộc thiểu số, người khuyết tật, thanh niên, người đi xuất khẩu lao động, người lao động bị mất việc làm do tác động của khủng hoảng kinh tế, người lao động có đất phải chuyển đổi mục đích sử dụng, học sinh sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, thương nhân hoạt động thương mại tại các vùng khó khăn, người có thu nhập thấp.

Thực hiện mục tiêu giảm nghèo nhanh ở các vùng có tỷ lệ nghèo cao, một số chính sách tín dụng đã tập trung cho các doanh nghiệp, hộ gia đình thuộc các huyện nghèo, vùng khó khăn.

Trong giai đoạn 2003-2010, thông qua Ngân hàng Chính sách Xã hội, Nhà nước đã cấp bù lãi suất cho vay tín dụng ưu đãi khoảng 6.196 tỷ đồng cho phát triển sản xuất kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống góp phần thực hiện giảm nghèo và học tập nâng cao trình độ.

Chương trình Việc làm Quốc gia với mục tiêu chính là sử dụng các ưu đãi về tín dụng kết hợp với đào tạo và giới thiệu việc làm để hỗ trợ, trở thành “bà đỡ” kích cầu tạo việc làm. Tính đến năm 2008, Quỹ quốc gia về việc làm đã tích luỹ được trên 3.468 tỷ đồng và được phân bổ cho 63 tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương và các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội (Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam…).

Ngoài ra, còn có 31 địa phương đã thành lập Quỹ việc làm địa phương góp phần đưa doanh số cho vay hàng năm lên 1.200-1.400 tỷ đồng. Trung bình mỗi năm Quỹ Quốc gia về việc làm đã hỗ trợ 300 nghìn lao động vay vốn (chiếm 20% tổng số việc làm được tạo ra hàng năm), với nhiều mô hình tạo việc làm có hiệu quả, trong đó có nhiều đối tượng vay thuộc nhóm đối tượng dễ bị tổn thương, người nghèo.

A.2. Xuất khẩu lao động

Hoạt động đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài là một trong những giải pháp để tạo việc làm gắn với xóa đói giảm nghèo bền vững.

Trong những năm qua, Nhà nước đã hình thành một hệ thống chính sách về đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, phát triển quỹ việc làm ngoài nước, xây dựng các chương trình trọn gói từ đào tạo, cho vay tín dụng đến hỗ trợ người lao động khi về nước.

Cụ thể như Đề án hỗ trợ 62 huyện nghèo đẩy mạnh xuất khẩu lao động, Quyết định của Thủ tướng về thành lập quản lý và sử dụng quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước, Đề án dạy nghề cho lao động đi làm việc ở nước ngoài đến 2015, cho vay đối với người lao động đi làm việc ở nước ngoài….

Kết quả, số lượng lao động đi làm việc ở nước ngoài tăng đều hàng năm. Từ năm 2006 đến nay, bình quân mỗi năm đưa được khoảng 83 nghìn lao động, trong đó khoảng 80% là lao động thanh niên, người dân nông thôn.

(Dự thảo Chiến lược An sinh xã hội 2011-2020)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: