Lý thuyết về Công tác xã hội trong những tình huống khủng hoảng

Có nhiều định nghĩa khủng hoảng khác nhau, một cách tóm tắt, khủng hoảng/crisis là một tình trạng nguy khốn xảy ra, thường vượt quá khả năng đối phó của nạn nhân. Nếu không được giúp đỡ, khủng hoảng có thể gây ra những hậu quả trầm trọng về tâm lý, tư tưởng, khả năng ứng xử và cuộc sống của con người. Có thể chia khủng hoảng ra làm ba loại khác nhau: khủng hoảng đời thường, xảy ra trong cuộc đời bình thường của mọi người, thí dụ thi cử, lập gia đình, sinh con, về hưu… ; khủng hoảng tình huống bất ngờ, thí dụ tai nạn, tang chế, bệnh tật, thiên tai… ; và khủng hoảng tâm lý, thí dụ hối hận về một hành động nào đó trong quá khứ, cảm giác cuộc đời không có ý nghĩa (khủng hoảng tuổi trung niên), mất niềm tin vào tương lai…

1. Đặc tính của khủng hoảng

Khủng hoảng là mối nguy hiểm có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng kể cả tự tử, nhưng đồng thời cũng là cơ hội vì nó buộc con người phải cố gắng nỗ lực giải quyết hay tìm sự giúp đỡ để sống còn. Thí dụ thường thấy về đặc tính này của khủng hoảng là khi những người nghiện cờ bạc đã thua hết tài sản, đã táng gia bại sản, mới thành tâm từ bỏ tật xấu đó. Dù tự mình giải quyết được khủng hoảng hay nhờ sự giúp đỡ của gia đình, cộng đồng hay xã hội, cá nhân có thể trở nên già dặn, trường trải hơn (thay đổi theo chiều hướng phát triển); hoặc giữ nguyên khả năng úng xử cũ (không thay đổi); hoặc bị ám ảnh lâu dài, có khi suốt đời, và có thể dùng những cách đối phó tiêu cực để sống còn, thí dụ rượu chè hay ma túy, vì kinh nghiệm đã trải qua trong khủng hoảng (thay đổi theo chiều hướng xấu).

Khủng hoảng là một hiện tượng phức tạp và đa dạng. Nó có thể xảy ra đột ngột, thí dụ tai nạn xe cộ, hay bùng nổ sau một thời kỳ âm ỷ kéo dài, thí dụ khủng hoảng giữa những người trong gia đình. Khủng hoảng có thể liên quan đến một cá nhân, một gia đình, hay cả cộng đồng, xã hội, hay quốc gia, và cả thế giới. Thí dụ bão lụt, động đất, chiến tranh, bệnh dịch… Khủng hoảng xảy ra cho tất cả mọi người nhưng mỗi người có khả năng ứng phó riêng đối với cùng một khủng hoảng.

Khủng hoảng xảy ra trong một thời gian có giới hạn, thường không quá sáu đến tám tuần lễ, sau thời gian này các hậu quả tiêu cực của nó giảm dần. Mặc dù vậy, tùy theo cường độ lúc xảy ra, khủng hoảng có thể để lại những di chứng lâu dài (có khi suốt đời) cho nạn nhân, thí dụ những nạn nhân của hội chứng hậu chấn tâm lý/PTSD, post-traumatic stress disorder.

2. Ứng dụng

Nhân viên CTXH không phải nhân viên cấp cứu, vì vậy, trong nhiều trường hợp khủng hoảng, chỉ can thiệp sau khi sự an toàn của khách hàng đã được bảo đảm. Đối với những trường hợp nhân viên CTXH là người đầu tiên đối diện với khủng hoảng của khách hàng, mối quan tâm ưu tiên cũng là sự an toàn về thể chất của khách hàng, điều này có nghĩa khách hàng có thể phải được di chuyển đến nơi an toàn. Ở California, luật An Sinh Xã Hội cho phép nhân viên CTXH và các nhân viên giúp đỡ chuyên nghiệp khác được quyền tạm thời cưỡng bách nhập viện, trong thời gian không quá 72 giờ, những khách hàng không có đủ khả năng tâm trí để tự kiềm chế và có thể trở thành mối nguy hiểm cho bản thân hay cho những người chung quanh.

CTXH trong trường hợp khủng hoảng có tính cách tức thời, tập trung, ngắn gọn, và cụ thể. Sau khi đã ổn định an toàn thể chất cho khách hàng, nhân viên CTXH sẽ tiến hành công tác lượng định để tìm hiểu khủng hoảng, cung cấp sự hỗ trợ tinh thần và vật chất, các nguồn tài nguyên khách hàng có thể vận dụng; cùng với khách hàng thăm dò các giải pháp; chọn và lập kế hoạch thi hành giải pháp tối ưu. Sau giai đoạn lượng định là giai đoạn thực thi kế hoạch đã đề ra. Bên cạnh vai trò khuyến khích, động viên và hỗ trợ tinh thần, nhân viên CTXH có thể sẽ phải giữ một vai trò tích cực và chủ động hơn trong giai đoạn tiến hành kế hoạch giúp đỡ so với những trường hợp không khủng hoảng.

3. Trường hợp khách hàng có ý tưởng tự tử

Hành vi tự kết liễu cuộc sống là hành vi độc đáo của loài người, các sinh vật khác không có hành vi này. Tự tử có thể diễn ra đối với bất cứ ai, không phân biệt giàu nghèo, trình độ trí tuệ, giai cấp, tôn giáo, giới tính, địa vị trong xã hội, … Ở Mỹ, đối với lứa tuổi 15 đến 24, tự tử là nguyên nhân tử vong lớn thứ nhì sau tai nạn. Cũng ở Mỹ, mặc dù chỉ chiếm 10% dân số, khoảng 25% số người tự tử là những người trên 65 tuổi, trong số này đàn ông tự tử nhiều gấp đôi phụ nữ. Ở Việt Nam có lẽ cấu trúc gia đình Á châu, trong đó ông bà phần đông sống gần con cháu, có lẽ sẽ cho một thống kê khác biệt về tình trạng tự tử của người cao niên. Nhìn chung, ở Mỹ nhóm người có rủi ro tự tử cao nhất là đàn ông da trắng, tuổi từ 35 trở lên, mặc dù vậy tỷ lệ tự tử trong lứa tuổi vị thành niên và trong số người da đen cũng có khuynh hướng tăng đáng kể trong thời gian qua.

Rất nhiều tác giả đã nghiên cứu về hiện tượng tự tử, trong đó đáng kể nhất là các tác giả thuộc hai trường phái tâm lý và trường phái xã hội. Trường phái tâm lý sử dụng lý thuyết của Freud, diễn dịch hành động tự tử như kết quả của những mâu thuẫn về tâm lý trong tiềm thức, tác động bởi kinh nghiệm khủng hoảng trong đời sống thực tế, gây ra cảm giác bạo động hướng nội. Tự tử diễn ra khi cảm giác bạo động tăng lên cao điểm và nạn nhân không thể hướng nó ra thế giới bên ngoài.

Trái với trường phái tâm lý, trường phái xã hội (Durkheim, 1951) chú trọng ảnh hưởng và áp lực của môi trường đối với tự tử. Durkheim cống hiến một giải thích hợp lý để cắt nghĩa tỷ lệ tự tử cao ở những nước có tổ chức xã hội và đời sống cao như các nước tây và nhất là bắc Âu (Phần Lan là nước có tỷ lệ tự tử cao vào bậc nhất thế giới), và trường hợp tự tử của những người giàu có: khi có sự bất quân bình giữa nhu cầu và phương tiện để thỏa mãn nhu cầu, người ta dễ lâm vào khủng hoảng. Vì quá thừa thãi của cải vật chất, người giàu dễ trở nên lắm nhu cầu, nhưng không phải tiền bạc có thể mua được sự thỏa mãn mọi nhu cầu, vì vậy sinh ra bất quân bình và khủng hoảng diễn ra y như trường hợp những người bị dồn vào giải pháp tự tử để thoát cảnh nghèo túng cùng quẫn. Durkheim chia ra ba loại tự tử:

–     Tự tử vì bản thân/Egoistic suicide: diễn ra do cá nhân không có quan hệ gắn bó với môi trường (gia đình, bạn bè, đoàn thể, tôn giáo…) vì vậy không được sự hỗ trợ cần thiết khi đối diện với khủng hoảng. Thí dụ trong loại tự tử này là trường hợp tự tử của những người không có ai để nương tựa, cảm thông, và vì vậy dễ rơi vào tình trạng tuyệt vọng. Điều này giải thích tình trạng người độc thân có rủi ro tự tử cao hơn người có gia đình.

–     Tự tử vì khủng hoảng môi trường/Anomic suicide: diễn ra khi cá nhân có quan hệ với môi trường nhưng môi trường bị khủng hoảng, không cung cấp được sự hỗ trợ theo đúng chức năng của nó. Thí dụ: gia đình đổ vỡ, mất niềm tin vào tôn giáo hay đoàn thể. Thống kê cho thấy tỷ lệ tự tử (cả thành công lẫn thất bại) diễn ra khá cao ở Âu châu và Mỹ trong số những nạn nhân của lạm dụng về tình dục bởi các tu sĩ. Những trường hợp người cao niên tự tử sau khi vợ hay chồng qua đời cũng thuộc loại này.

–     Tự tử vì lý tưởng/Altruistic suicide: diễn ra khi cá nhân có quá nhiều gắn bó với môi trường (ngược với tự tử vì bản thân, đến nỗi đặt lợi ích của môi trường (quốc gia, tổ chức, tôn giáo…) cao hơn mạng sống của cá nhân. Đây là trường hợp tự tử của các cảm tử quân trong chiến tranh hay những tín đồ Hồi giáo đánh bom tự sát ở Trung Đông.

Sau Durkheim, Fujimura và một số đồng tác giả (1985) thêm loại tự tử thứ tư: tự tử vì nhân cách/death with dignity, diễn ra khi con người đối diện cái chết chậm chạp và đau đớn, mất nhân cách (thí dụ không còn kiểm soát được vệ sinh cá nhân). Ở Mỹ, năm 1994 bang Oregon trở thành một trong những địa phương đầu tiên trên thế giới cho phép bác sĩ, nếu có yêu cầu của những người được chứng nhận chỉ còn sống không quá sáu tháng, được trợ giúp để bệnh nhân tự kết liễu cuộc đời một cách nhân đạo.

4. Ứng dụng

Trừ trường hợp mất trí, điều may mắn là tự tử ít khi là hành động đột xuất. Trong đại đa số các trường hợp tự tử, nạn nhân thường để lộ rất nhiều dấu hiệu báo trước hành vi tự tử. Những dấu hiệu này có thể là lời nói rõ rệt về ý muốn tự tử; những hành vi bất thường như chạy xe bừa bãi, bỏ thuốc chữa bệnh, hay cứ tiếp tục uống rượu, hút thuốc mặc dù bác sĩ cấm; tự cô lập không muốn giao du tiếp xúc với những người chung quanh; cho đi tiền bạc, của cải hay những kỷ vật quý giá của bản thân; đột nhiên hăng hái, phấn khởi sau một thời kỳ dài trầm cảm nghiêm trọng (đây là thời gian dễ xảy ra tự tử nhất vì nạn nhân có đủ năng lực và ý chí phấn khởi để thực hiện việc tự kết liễu cuộc sống vốn là một việc khó làm)…

Trong công tác lượng định về tự tử, nhân viên CTXH chú trọng tìn hiểu những yếu tố rủi ro sau đây của khách hàng:

–     Trong gia đình đã có thân nhân tự tử.

–     Đã có một hay nhiều lần tự tử hụt.

–     Có kế hoạch tự tử cụ thể.

–     Có khủng hoảng hiện thời do mất mát người thân, ly dị, ly thân, mất việc…

–     Đã từng bị lạm dụng về tình dục bởi người thân hay bởi giới tu sĩ.

–     Bị ám ảnh bởi quá khứ bị lạm dụng về tình dục.

–     Bị ám ảnh bởi kỷ niệm thường niên của một mất mát lớn trong quá khứ.

–     Là bệnh nhân thần kinh tâm trí.

–     Có quá khứ nghiện rượu hoặc ma túy.

–     Có khủng hoảng về tâm lý hay vật chất

–     Sống một mình, không có thân nhân hay bạn bè.

–     Trầm cảm.

–     Có hành vi sắp xếp hậu sự như cho của cải, dặn dò người thân.

–     Thay đổi lớn về cá tính hay thói quen.

–     Có cảm giác tuyệt vọng.

–     Biểu lộ một hay nhiều cảm xúc (thí dụ giận dữ, hối tiếc, thù hận, buồn chán, thất vọng) một cách quá mức bình thường.

Tùy theo kết quả lượng định cho thấy rủi ro nhiều hay ít, các biện pháp can thiệp có thể là nhập viện tạm thời để quan sát 24/7 trong thời gian ngắn, đây là những trường hợp rủi ro cao, khách hàng có kế hoạch tự tử cụ thể ở đâu, khi nào và bằng cách nào; Trường hợp rủi ro không cao, khách hàng không có kế hoạch cụ thể, nhân viên CTXH giúp khách hàng viết bản thỏa thuận về những gì sẽ làm khi có ý định tự tử (gọi đường giây nóng, nói chuyện với người thân nào đó, gọi nhân viên CTXH…).

Bên cạnh can thiệp trong giai đoạn khủng hoảng kể trên, khi khách hàng đã được ổn định, nhân viên CTXH sẽ có biện pháp để khách hàng được sự hỗ trợ cần thiết của gia đình và cộng đồng, được tư vấn tâm lý chuyên môn để nâng cao khả năng giải quyết các vấn nạn và để có được một nhãn quan tích cực hơn về cuộc sống.

Hipple (1985) chỉ ra một số điều nên tránh khi làm việc với khách hàng có ý định tự tử như sau:

  1. Không giảng luân lý, đạo giáo, hay trách móc.
  2. Không chỉ trích chọn lựa hay cách úng xử của khách hàng.
  3. Không thảo luận lợi hay hại của hành vi tự tử với khách hàng.
  4. Không tin khi khách hàng nói khủng hoảng đã qua.
  5. Không coi nhẹ ý tưởng tự tử của khách hàng.
  6. Không thách đố khách hàng thực hành ý đồ tự tử (để tạo phản ứng ngược).
  7. Không để khách hàng một mình không có người quan sát giúp đỡ.
  8. Không định bệnh hay phân tích ứng xử của khách hàng và thảo luận với khách hàng về những điều này khi khách hàng chưa sẵn sàng.
  9. Không thụ động.
  10. Không phản ứng quá mức, giữ bình tĩnh.
  11. Không giữ bí mật ý đồ tự tử của khách hàng.
  12. Không để những vấn đề phụ hay người khác làm loãng sự chú ý đến khách hàng.
  13. Không đề cao, thánh hóa, hay lý tưởng hóa hành vi tự tử của bất cứ ai trong quá khứ hay hiện tại.
  14. Không quên theo dõi sau thời gian giúp đỡ/follow up.

(Trích từ Tập tài liêu: Công tác xã hội-Lý thuyết và thực hành, Trần Đình Tuấn)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: