Thuyết tri thức

Tri thức là sự hiểu biết của cá nhân về sự vật. Thuyết tri thức chủ trương mỗi cá nhân có một suy nghĩ và hiểu biết riêng về sự vật, cách thu nhận và diễn giải các thông tin, đánh giá các kinh nghiệm, các phán đoán, và quyết định cách ứng xử. Tất cả những khái niệm này được Piaget gọi là cấu trúc tri thức/schema. Cảm xúc và cách ứng xử của con người là sản phẩm của cấu trúc tri thức khi đánh giá các thông tin đến từ thế giới chung quanh cá nhân. Beck (1995) mô tả mối quan hệ giữa tư tưởng, cảm xúc, và ứng xử như sau: sự vật diễn ra dẫn đến tư tưởng hay niềm tin; tư tưởng hay niềm tin dẫn đến cảm xúc hay hành động. Albert Ellis (1962), một trong những người áp dụng thuyết tri thức đầu tiên trong tâm lý trị liệu, tin rằng phần đông con người có cách suy nghĩ hẹp hòi và không hợp lý về sự vật và về cách phải ứng xử như thế nào để được an toàn trong cuộc sống. Mục tiêu của tâm lý trị liệu, theo Albert Ellis, là giúp khách hàng có được cách suy nghĩ đúng đắn về cuộc đời và về cách ứng xử thích hợp.

Một tác giả khác của thuyết Tri Thức là Aaron Beck (1976). Khi nghiên cứu về bệnh trầm cảm, mà Freud gọi là “sự tức giận với bản thân”, Beck nhận thấy người trầm cảm có một thành kiến tiêu cực về sự vật và thế giới, tức là trong cấu trúc tri thức/cognitive schemas của những người trầm cảm có sẵn ba thành kiến tiêu cực: tôi không có giá trị, tôi càng ngày càng tệ hơn, thế giới này là một nơi không an lành. Cấu trúc tri thức là cách người ta suy diễn sự vật, phân tích các thông tin, tạo ra sự hiểu biết về sự vật, ảnh hưởng đến cảm xúc và cách ứng xử. Theo Jean Piaget, cấu trúc tri thức được hình thành và phát triển bằng học hỏi qua kinh nghiệm sống của bản thân và qua sự quan sát, học hỏi từ ngoại cảnh. Những kinh nghiệm mới phù hợp với cấu trúc tri thức được sát nhập vào nó/assimilation; ngược lại, khi gặp những kinh nghiệm mới trái ngược với cấu trúc tri thức, người ta sẽ chỉnh sửa lại cấu trúc tri thức để chứa đựng được kinh nghiệm mới (accommodation).

1. Ứng dụng

Thuyết Tri Thức chủ trương cá nhân gặp khó khăn vì rơi vào một trong ba trường hợp sau:

1) Không có tri thức/cognitive deficit. Thí dụ một thanh niên mới lớn, có nhiều kinh nghiệm giao du với bạn bè, nhưng chưa bao giờ có kinh nghiệm về bạn gái.

2) Tri thức cứng nhắc/cognitive rigidity: trắng đen, có không, đúng sai…

3) Tri thức lệch lạc/cognitive distortion: tức là những tin tưởng sai, dựa trên một cấu trúc tri thức tiêu cực, thí dụ: bị xử ức nhưng không khiếu nại vì “khiếu nại cũng chẳng đi đến đâu”.

Nhân viên CTXH ứng dụng thuyết Tri Thức có thể giúp khách hàng bằng các phương pháp sau:

Thay đổi tri thức/cognitive restructuring:

Giúp khách hàng thay đổi phần B trong mô hình ABC (A = sự việc diễn ra/ activating event; B = niềm tin về sự việc belief; C = cảm xúc hay hành động gây ra do niềm tin/consequences. Thí dụ: A = bạn gái gọi điện thoại báo tin có việc bận, ngày mai thứ bảy không đi chơi được. Nếu B = cô ấy đi chơi với người khác, C = ghen tức, giận dữ. Nếu B = đàn bà con gái đúng là không thể tin được, C = bực mình. Nếu B = xui quá, nhưng ai chẳng có lúc bận bất ngờ, C = buồn 5 phút sau đó tính chuyện khác cho ngày thứ bảy.

Ứng phó tri thức/cognitive coping:

Giúp khách hàng chuẩn bị sẵn một phương thức mới để ứng phó với những hoàn cảnh tiêu cực. Thí dụ mỗi lần giận dữ muốn la hét, đập phá thì đi bộ 100 bước ra khỏi hiện trường. Huấn luyện về cách đối thoại ôn hoà, rõ ràng, mạch lạc, dùng câu nói chủ yếu về “Tôi”/“I” messages, cũng là phương pháp hữu hiệu về ứng phó tri thức, tức là nói về vấn đề, cảm xúc, ý muốn của bản thân, thay vì chĩa mũi dùi công kích sang người đối diện. Thí dụ người chồng đã hẹn sáng thứ bảy chở vợ về thăm quê ngoại, nhưng lại đi uống cà phê với bạn gần trưa mới về. Thay vì nói “Tại sao sáng thứ bảy nào anh cũng phải đi uống cà phê, bỏ uống một sáng thứ bảy có chết không? Người gì đâu không biết giữ lời hứa gì hết?  Nói đi nửa tiếng mà đi tới giờ này mới về? Sao không đi luôn tới sáng mai đi?” Người vợ có thể nói “Em chờ gần hai tiếng đồng hồ, mất hết cả hứng thú. Em không muốn trễ hẹn với Ba Má.”

2. Huấn luyện về phương pháp giải quyết khó khăn/problem solving training

Gồm xác định vấn nạn, tìm kiếm và liệt kê các giải pháp, gạn lọc giải pháp, chọn giải pháp thích hợp nhất, và sau cùng, hoạch định kế hoạch thi hành.

3. Phê bình thuyết Tri Thức

Thuyết tri thức chủ trương ý tưởng quan trọng hơn cảm xúc. Nhiều tác giả khác không đồng ý với quan điểm này và cho rằng cảm xúc là phần cốt cán của bản chất và sự hành xử của con người và cảm xúc sinh ra bởi hệ thống sinh lý thần kinh chứ không phải luôn luôn do tư tưởng tạo ra. Thí dụ một người đang đi ngoài phố đông người, trạng thái tâm lý bình thường, không vui không buồn, đầu óc đang suy nghĩ những chuyện bình thường trong cuộc sống, bỗng dưng thoáng ngửi thấy một mùi nước hoa, thế là cả một dĩ vãng kinh hoàng của những ngày không hạnh phúc dồn dập hiện về làm cho tự dưng vui mừng phấn khởi hẳn lên, và nghĩ đến chuyện làm một việc gì đó để tỏ lòng trân trọng cuộc sống bình thường hiện tại. Đây là một rất nhiều thí dụ để chứng minh cảm xúc không những không do tư tưởng tạo ra mà còn sinh ra tư tưởng, và điều này trái ngược với những nguyên lý của thuyết Tri Thức.

Thuyết Tri Thức chú trọng những tư tưởng của con người trong ý thức nhiều hơn tư tưởng trong vô thức. Mặc dù khó nhận ra, hoạt động tư tưởng của vô thức trong thực tế nhiều khi đóng vai trò quan trọng hơn, ảnh hưởng mạnh mẽ hơn đến ứng xử và cảm xúc của con người. Không chú trọng tìm hiểu những hoạt động mơ hồ của vô thức, những người ứng dụng thuyết Tri Thức có thể không hiểu cặn kẽ căn nguyên suy nghĩ và cảm xúc của khách hàng và vì vậy có thể khó lòng giúp khách hàng tìm ra được một giải pháp rốt ráo cho vấn nạn của họ.

Thuyết Tri Thức chú trọng những gì xảy ra trong nội bộ cá nhân hơn mối quan hệ giữa cá nhân với môi trường. Trong thực tế, con người là một sinh vật bầy đoàn, không sống riêng biệt mà sống trong gia đình, làng xã, khu xóm, cộng đồng, xã hội, quốc gia, và thế giới. Mối quan hệ tốt xấu, lành mạnh hay không lành mạnh với môi trường có ảnh hưởng rất lớn đối với cuộc sống, cảm xúc, và suy nghĩ của con người, và nhiều khi chỉ cần tạo ra thay đổi trong môi trường là đủ để phần nào đạt được an sinh cho cá nhân.

(Trích từ Tập tài liêu: Công tác xã hội-Lý thuyết và thực hành, Trần Đình Tuấn)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: