Thuyết ứng xử

Ứng xử là hành vi, suy nghĩ, và cảm xúc có thể quan sát được của con người cũng như các sinh vât khác. Ứng xử có thể được tạo ra hay thay đổi bằng cách học tập. Con người học được cách ứng xử qua tác động qua lại với môi trường. Tác động qua lại này dẫn đến thưởng hay phạt, vui hay buồn, hạnh phúc hay đau khổ. Những hậu quả này có thể làm thay đổi cách ứng xử của con người.

Thuyết ứng xử không quan tâm đến những diễn biến có tính cách trừu tượng trong tâm lý của con người (vốn là trọng tâm nghiên cứu của nhiều trường phái khác trong tâm lý học). Bắt nguồn từ tư tưởng của Descartes, nhà toán học và triết gia Pháp thế kỷ 17, về tính không tin cậy được của giác quan và sự hiện hữu không thể chối cãi của tư tưởng (“Tôi nghĩ, vì vậy tôi hiện hữu”/ Je pense, donc je suis), thuyết Ứng Xử phát triển dần và trở nên phổ biến từ thập niên 60 của thế kỷ thứ 20. Đóng góp của Ivan Pavlov (1927), nhà khoa học Nga, chứng tỏ người ta có thể điều kiện hóa ứng xử của sinh vật (rung chuông mỗi lần cho chó ăn, sau nhiều lần, chỉ cần rung chuông, không cần cho ăn, cũng làm cho chó tiết ra nước bọt và dịch vị để sẵn sàng tiêu hóa thức ăn).

Thuyết Ứng Xử dựa trên những khái niệm chính kể sau:

  • Ứng xử là những hành động, suy nghĩ hay cảm xúc có thể quan sát được. Trong quan hệ nghề nghiệp giữa khách hàng và người làm công việc giúp đỡ hay chữa trị, chỉ những gì quan sát được mới đáng kể, phần trừu tượng trong hoạt động của tâm lý không đáng quan tâm.
  • Con người có khuynh hướng tự nhiên tìm kiếm lạc thú và tránh khổ đau. Ứng xử của con người thường có mục đích hướng đến mục tiêu này. Thí dụ: trong trường học thường có những đứa trẻ hay bắt nạt những trẻ khác yếu hơn, vì ứng xử này làm cho nó được sợ, nể, và nó không bị nhà trường trừng phạt.
  • Ứng xử của con người dựa trên kiến thức có được do học tập, do kinh nghiệm về đáp ứng của môi trường, và do quan sát ứng xử của người khác.
  • Ứng xử có thể thay đổi được với điều kiện nó phải được định nghĩa bằng những tiêu chuẩn có thể đo lường được.
  • Biện pháp giúp thay đổi ứng xử tập trung vào phản ứng có tính cách khuyến khích hay trừng phạt. Những phản ứng này phải tức thời và trước sau như một, không thay đổi.
  • Tư tưởng và cảm xúc cũng là những ứng xử có thể thay đổi được bằng phương pháp dùng phản ứng khuyến khích hay trừng phạt kể trên.
  • Ứng xử của con người nên được giải thích một cách đơn giản, không cần thiết phải tìm đến những nguyên nhân sâu xa trừu tượng có tính bác học của nó (thí dụ những ẩn ức sâu kín về tình dục của khoa phân tâm hay những kinh nghiệm mơ hồ của bản ngã trong tâm lý học về cái tôi).

Thuyết Ứng Xử không chú trọng khía cạnh đúng sai, đạo đức hay vô đạo đức của các hành vi, mà chỉ lưu tâm đến điều kiện tiếp diễn, chấm dứt, hay thay đổi của chúng do phản ứng khuyến khích hay trừng phạt của môi trường.

Phê bình Thuyết ứng xử

Thuyết Ứng xử không lưu ý đến các yếu tố tâm sinh lý vốn có ảnh hưởng rất sâu sắc đến hoạt động của con người (Nichols & Schwartz, 2001). Mặt khác, các biện pháp giúp đỡ của thuyết Ứng Xử đều được thực hiện qua môi trường nhân tạo/controlled environment, thường khó xảy ra trong môi trường sống tự nhiên của con người (Allen-Meares, 1995). Thí dụ đứa trẻ có tính xấu hay bắt nạt người khác có thể sẽ không có ứng xử đó khi có thầy cô giáo ở gần (sẽ bị phạt), nhưng trong môi trường tự nhiên giữa  những trẻ khác trong sân trường nó sẽ tính nào tật nấy. Vì các khuyết điểm này, ứng xử liệu pháp/behavioral therapy có thể đạt kết quả nhanh chóng nhưng không lâu bền.

(Trích từ Tập tài liêu: Công tác xã hội-Lý thuyết và thực hành, Trần Đình Tuấn)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: