Thuyết phân tâm: Tâm lý học về cái tôi

Do Freud đề xuất, thuyết phân tâm mô tả cấu trúc tâm lý của con người bao gồm “ông Ác”/Id, “ông Thiện”/Super Ego, và “ông Nguyễn văn X”/Ego, tức là cái Tôi biểu hiện ra bên ngoài mà mọi người đều thấy. “Ông Ác” là phần vị kỷ, ấu trĩ, ham muốn thỏa mãn những nhu cầu vật chất của con người. “Ông Thiện” là phần lý tưởng, được hình thành qua những tiêu chuẩn về giá trị do xã hội giáo dục và cha mẹ uốn nắn. “Ông Nguyễn Văn X.” là kết quả cuộc đấu tranh không ngừng giữa hai ông Thiện và Ác. Khi  “ông Thiện” thắng thì “ông Nguyễn Văn X.” là người tốt, khi “ông Ác” thắng thì “ông Nguyễn Văn X.” là người xấu. Có nhiều động lực thúc đẩy sự tranh đấu không ngừng giữa ba thành phần kể trên, trong đó mạnh nhất là những khát vọng về tình dục bị dồn nén vào vô thức.

Trong ba thành phần cấu tạo nên bản chất con người, thành phần “Nguyễn Văn X.” tức cái Tôi là thành phần quan trọng nhất. Cái Tôi không ngừng đối phó với những lực nội tại cũng như ngoại lai và trưởng thành lên theo thời gian. Tâm lý học về cái Tôi ra đời do đóng góp của nhiều tâm lý gia, trong đó có những tên tuổi nổi bật như Sigmund Freud, Anna Freud, Robert White (1960), và Erik Erikson (1963, 1982).

White cho rằng cái Tôi bắt đầu tìm cách làm chủ môi trường rất sớm. Cái Tôi của đứa bé nhanh chóng học được cách tránh sự thất bại hay trừng phạt bằng cách nhận ra những dấu hiệu báo trước của hai kinh nghiệm tiêu cực này. Khả năng tránh thất bại và trừng phạt ở tuổi ấu thơ tạo nên năng lực của đứa bé, và năng lực này là động cơ quan trọng giúp con người phát triển trong đời sống.

Erikson chỉ ra ảnh hưởng quan trọng của yếu tố văn hóa xã hội trong sự hình thành của cái Tôi. Theo Erickson, sự trưởng thành của con người chia ra 8 giai đoạn; mỗi giai đoạn có một giá trị riêng, và khi vượt qua từng giai đoạn, con người phải trải qua những khủng hoảng và mâu thuẫn do hai lực: lực đẩy do điều kiện sinh lý của bản thân và lực kéo của môi trường văn hóa xã hội của giai đoạn đó, và tùy theo mức độ thành công hay thất bại, sẽ đạt được nhiều hay ít giá trị của giai đoạn đó. Mức độ giá trị đạt được này có ảnh hưởng rất lớn đến cái Tôi của con người trưởng thành. Tám giai đoạn đó là:

1. Sơ sinh/infant: gía trị: HY VỌNG. Mâu thuẫn: Tin tưởng/Trust và Nghi Ngờ/Mistrust. Trong giai đoạn này mức độ đứa bé sơ sinh tin cậy người chăm sóc nó nhiều hay ít sẽ tạo cho nó niềm tin hay nghi ngờ cuộc đời.

2. Tập đi/toddler: giá trị: Ý CHÍ. Mâu thuẫn: Tự Chủ/Autonomy và Xấu Hổ, Rụt rè/Shame, Doubt. Đứa bé bắt đầu thám hiểm thế giới chung quanh. Nó sẽ không phát triển một cách lành mạnh nếu được bố mẹ bảo vệ quá kỹ hay bị bỏ bê hoàn toàn.

3. Mẫu giáo/kindergarten: giá trị: CÓ CHỦ ĐÍCH. Mâu thuẫn: Chủ Động/Initiative và Hối Hận/Guilt. Đứa trẻ có được khuyến khích tự làm lấy những việc nó thích làm mặc dù chưa hoàn toàn thành thạo hay không?  Hay mỗi khi nó tự ý làm lấy việc gì đó thì bị la mắng vì nó còn vụng về?

4. Từ 6 tuổi đến trước dậy thì: giá trị: NĂNG LỰC. Mâu thuẫn: Năng Nổ/Industry và Mặc Cảm Tự Ty/Inferiority. Đứa trẻ tự so sánh nó với các bạn trong lớp. Trong giai đoạn này thày cô giáo giữ một vai trò quan trọng trong việc giúp đứa trẻ không bị mặc cảm tự ty.

5. Thiếu niên: giá trị: TRUNG THỰC. Mâu thuẫn: Biết Mình/Indentity và Mơ Hồ về Căn Tính Của Mình/Indentity Diffusion. Đứa trẻ mơ hồ về vai trò của nó, không biết sẽ đi về đâu. Nếu bố mẹ để cho đứa trẻ tự do tìm hiểu thế giới chung quanh, nó sẽ phát triển đượccá tính của nó và biết nó là ai. Trái lại, nếu bố mẹ ép buộc đứa trẻ theo khuôn mẫu do mình đặt ra, nó sẽ không có được ưu điểm này.

6. Thanh niên: giá trị: YÊU THƯƠNG (người yêu, công việc, gia đình). Mâu thuẫn: Gần Gũi/Intimacy và Cô Độc/Isolation. Trong giai đoạn này, người thanh niên phải đối diện những vấn đề lớn như tìm bạn khác phái, công ăn việc làm, dừng chân lập nghiệp ở một nơi hay tiếp tục thăm dò các khía cạnh của cuộc đời…

7. Trung niên: giá trị: CHĂM SÓC. Mâu thuẫn: Năng Động/Generativity và Trì trệ/Self-Absorption. Trong giai đoạn này con người trải qua khủng hoảng giữa cuộc đời/ mid-life crisis và hồ nghi về những giá trị căn bản theo đuổi bấy lâu.

8. Lão niên: giá trị: TRÍ TUỆ. Mâu thuẫn: Chính Trực/Integrity và Tuyệt Vọng/Despair. Con người đến gần cái chết, có người sợ hãi, cay đắng, lo buồn, có người hài lòng với cuộc sống đã qua và bình an đón nhận số phận chung của mọi sinh vật trên đời.

1. Cơ chế tự vệ/defense mechanism

Đây là một khám phá quan trọng của tâm lý học về cái tôi. Trong cái tôi luôn luôn có những mâu thuẫn và đấu tranh nội bộ. Những đấu tranh này diễn ra trong vô thức, do cơ chế tự vệ điều động. Cơ chế tự vệ là phản ứng có tính cách tự động ngoài ý thức của con người để giúp giảm thiểu những mối đe doạ hay đẩy chúng ra khỏi ý thức và nhờ vậy tránh được những cảm xúc tiêu cực như bồn chồn, lo âu, hồi hộp, sợ sệt hay buồn chán… Dưới đây là một số cơ chế tự vệ thông thường:

Chối bỏ/Denial: từ chối chấp nhận một thực trạng vì nó tai hại cho sự an toàn của cái Tôi. Thí dụ: trong chiến tranh nhiều người vợ bác bỏ mọi bằng chứng cụ thể, xác đáng, và tin rằng người chồng chỉ mất tích chứ không chết. Cơ chế tự vệ này giúp người vợ tránh được cơn sốc ban đầu, và cung cấp thời gian cần thiết để người vợ từ tiếp nhận thực tế về sự ra đi vĩnh viễn của người chồng.

Giận cá chém thớt/Displacement: chuyển cảm xúc tiêu cực từ người này sang người khác để được an toàn. Thí dụ: người chồng tức giận vợ nhưng lại kiếm chuyện la rầy con cái vì la rầy con cái thì an toàn hơn la rầy vợ.

Chuộc tội/Undoing: đền bù một hành vi hoặc ham muốn xấu bằng một hành động tốt. Thí dụ buổi sáng ở sở có ý tưởng ham muốn bậy bạ với cô nữ đồng nghiệp, buổi chiều về nhà dịu dàng tử tế với vợ và phụ vợ nấu cơm.

Giả bệnh/Somatization: biến đổi những khó chịu hay mối đe doạ thành bệnh tật. Thí dụ: người chồng nhức đầu đau bụng quạu cọ quanh năm (có cảm giác đau đớn thật sự), không bác sĩ nào chữa khỏi, nhưng trong suốt thời gian một tháng bà vợ về quê thăm cha mẹ thì tự nhiên bao nhiêu bệnh tật ông ấy đều tiêu tan.

Đóng kịch đạo đức/Sublimation: chuyển một ham muốn tự nhiên mạnh mẽ không được xã hội tán đồng thành hành vi phù hợp với giá trị do xã hội đặt ra. Thí dụ: nếu những tin đồn và cáo buộc của cảnh sát là đúng, nghị sĩ Larry Craig của thượng viện Mỹ (đảng Cộng Hoà, bang Ohio) là một thí dụ về đóng kịch đạo đức: ông là một thượng nghị sĩ rất thế lực, mặc dù có nhiều tin đồn ông là người đồng tính, ông nhiều lần khẳng định ngược lại và nổi tiếng là một trong những nhà lập pháp kiên quyết chống hôn nhân giữa những người đồng tính. Tháng 6 năm 2007 ông bị bắt giữ ở nhà vệ sinh phi trường quốc tế Minneapolis-St. Paul vì hành vi thăm dò đồng tính luyến ái với một nam cảnh sát chìm.

Nhập nội/Introjection: Chấp nhận điều tiêu cực người khác gán cho mình mặc dù mình không có điều tiêu cực đó để tránh va chạm. Thí dụ: người bố luôn luôn mắng chửi đứa con là “đồ ngu”, đứa con chấp nhận điều đó (vì không thể cãi lại bố) và càng ngày càng học kém vì mất tự tin và ý chí học hỏi.

Nhập ngoại/Projection: Đem những điều tiêu cực của mình (mà cái tôi của mình cố ý bỏ qua không biết đến) gán cho người khác. Thí dụ: ông A thường hay chê bai nhiều người là keo kiệt bủn xỉn, nhưng thực sự bản thân ông cố tình không biết ông mới chính là người không bao giờ giúp đỡ ai dù chỉ một đồng.

2. Phê bình thuyết phân tâm và tâm lý học về cái tôi

Trong khoảng 40 năm, từ những năm 20 đến cuối thập niên 60, thuyết phân tâm và tâm lý học về cái tôi đã làm say mê nhân loại, người ta coi chúng như những công cụ nhiệm màu để giúp con người hiểu được và thoát khỏi những khổ đau, bất hạnh về tâm lý. Trong thời gian này CTXH cũng bị cuốn hút vào cơn lốc phân tâm, phát triển mạnh theo hướng CTXH tâm thần cá nhân/ psychiatric case work và xa rời CTXH cộng đồng.

Qua thời gian, người ta phát hiện những khuyết điểm sau của thuyết phân tâm và tâm lý học về cái Tôi: chú trọng vào quan điểm bệnh lý cá nhân, không để ý đến yếu tố môi trường; quan hệ giữa nhân viên CTXH và khách hàng là quan hệ giữa bệnh nhân (hoàn toàn thụ động) và người chữa bệnh (hoàn toàn chủ động); chỉ thích hợp với người giàu và học thức, có khả năng diễn đạt tư tưởng một cách lưu loát, người nghèo và ít học, ít nói, không tận dụng được phương pháp này. Người ta nói đùa là chỉ những người YAVIS (Young-trẻ, Attractive-đẹp, Verbal-nói năng lưu loát, Intelligent-thông minh, Successful-thành công) mới là khách hàng lý tưởng của phương pháp phân tâm; nhưng đã trẻ, đẹp, hoạt bát, thông minh, và thành công thì tại sao lại cần phải đi gặp nhà phân tâm làm cái gì??  Vì những khuyết điểm đó, cơn lốc phân tâm suy yếu dần và đến thập niên 70 thì hoàn toàn tan loãng vào những phương pháp tâm lý trị liệu mới.

(Trích từ Tập tài liêu: Công tác xã hội-Lý thuyết và thực hành, Trần Đình Tuấn)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: