Phương pháp Công tác xã hội nhóm

1. Khái niệm :

CTXH nhóm là phương pháp CTXH nhằm giúp tăng cường, củng cố chức năng xã hội của cá nhân thông qua các hoạt động nhóm và khả năng ứng phó với các vấn đề của cá nhân , có nghĩa là :

–   ứng dụng những kiến thức, kỹ năng liên quan đến tâm lý nhóm (hoặc   năng động nhóm)

–   nhóm nhỏ thân chủ có cùng vấn đề giống nhau hoặc có liên quan đến vấn đề

–   các mục tiêu xã hội được thiết lập bởi nhân viên xã hội trong kế hoạch hỗ trợ thân chủ (cá nhân, nhóm, cộng đồng) thay đổi hành vi, thái độ, niềm tin nhằm giúp thân chủ tăng cường năng lực đối phó, chức năng xã hội thông qua các kinh nghiệm của nhóm có mục đích nhằm để giải quyết vấn đề của mình và thỏa mãn nhu cầu.

Thí dụ : – Nhóm trẻ đá banh của lớp học tình thương (Nguyên Hương)

– Nhóm của 3 người bộ hành kết hợp để đẩy tảng đá bên dường.

2.Các mục tiêu của CTXH nhóm  :

–  Đánh giá (thẩm định) cá nhân : về nhu cầu/khả năng/hành vi qua  việc tự đánh giá của nhóm viên, đanh giá cùa tác viên (NVXH), đánh giá của bạn bè trong nhóm (nhóm trẻ em/người lớn phạm pháp, nhóm cha mẹ nuôi, trẻ em đường phố)

–  Duy trì và hỗ trợ cá nhân : hỗ trợ cá nhân đương đầu với những khó khăn của cá nhân hay khó khăn trước hoàn cảnh xã hội (nhóm người khuyết tật, nhóm phụ huynh khuỵết tật)

–  Thay đổi cá nhân : nhiều loại từ  hành vi cho đến phát triển nhân cách : kiểm soát xã hội (nhóm vi phạm luật pháp nhằm tránh tái phạm trong tương lai;  xã hội hoá

( nhóm trẻ trong cơ sở tập trung học tập kỹ năng xã hội để sống tại cộng đồng), hành vi tương tác (nhóm huấn luyện để tự khẳng định); giá trị và thái độ cá nhân (nhóm sử dụng ma túy nhằm tác động đế giá trị và thái độ của họ; hoàn cảnh kinh tế (nhóm người thất nghiệp với mục đích tìm việc làm), cảm xúc và khái niệm về bản thân (nhóm phát triển lòng tự trọng, tăng năng lực); phát triển nhân cách (nhóm T group).

–  Cung cấp thông tin, giáo dục (nhóm giáo dục sức khỏe, nhóm kỹ năng làm cha mẹ, nhóm tình nguyện viên).

–  Giải trí ( vui chơi để đền bù sự mất mát trong cuộc sống )

–  Môi trường trung gian giữa cá nhân và hệ thống xã hội : nhóm bệnh nhân và bệnh viện

–  Thay đổi nhóm và/ hoặc hỗ trợ : nhóm gia đình -cải thiện vấn đề truyền thông, nhóm trẻ phạm pháp-hướng hành vi tiêu cực sang những họat động tích cực.

–  Thay đổi môi trường : phát triển cộng đồng – nhóm ở cơ sở cải thiện chất lượng cuộc sống, nhóm đòi hỏi phương tiện cho con em phụ huynh lao động …

–  Thay đổi xã hội : Tăng nhận thức của cá nhân và tái phân phối quyền lực (nhóm chính quyền địa phương)

3. Các đặc điểm của công tác xã hội với nhóm :

–  Hoạt động nhóm là nơi thoả mãn nhu cầu của cá nhân

–  Đối tượng tác động là mối quan hệ tương tác trong nhóm

–  Nhóm tăng cường khả năng tự giải quyết vấn đề

– Ảnh hưởng nhón giúp thay đổi hành vi, thái độ của cá nhân

–  Nhóm là mội trường bộc lộ.

–  Các yếu tố cần quan tâm trong CTXH nhóm : 7 yếu tố

* Đối tượng là ai

* Nơi sinh hoạt, bối cảnh sinh hoạt

* Nhu cầu gì cần được đáp ứng

* Mục tiêu cần đạt được

* Giá trị : sinh hoạt nhóm dựa trên quan điểm gì

* Lý thuyết: sử dụng lý thuyết nào

* Phương cách thực hành ; cơ cấu, vai trò, trách nhiệm, mối quan hệ  bên trong và bên ngoài nhóm, các hoạt động nào được sử dụng, cách thức tổ chức …

4. Các loại hình công tác xã hội với nhóm:

– Nhóm giải trí : rèn luyện và phát triển nhân cách

– Nhóm giáo dục : Kiến thức và kỹ năng

– Nhóm tự  giúp

– Nhóm với mục đích xã hội hóa

– Nhóm trị liệu

– Nhóm trợ giúp

5. Các qui điều đạo đức trong công tác xã hội nhóm

6. Những thuận lợi và bất lợi trong trị liệu thông qua nhóm

6.1 Những thuận lợi :

Giúp những kinh nghiệm xã hội

Là nguồn hỗ trợ lẫn nhau và giải quyết vấn đề

Có thể thay đổi thái độ, cảm xúc, hành vi trong bối cảnh nhóm do tương tác xã hội bao gồm làm mẫu các vai trò, củng cố, phản hồi (cửa sổ Johari)

Mỗi thành viên trong nhóm là một người có tiềm năng giúp đỡ. Vai trò của NVXH và thân chủ ít phân biệt được trong nhóm vì sự giúp đỡ và chia sẻ lãnh đạo giữa các thành viên trong nhóm và nhân viên xã hội cũng là một thành viên.

Nhóm có thể dân chủ và tự quyết, cung cấp nhiều quyền lực hơn cho thân chủ

Nhóm thích hợp cho các đối tượng thụ hưởng dịch vụ.

Nhóm  có thể tiết kiệm thời gian và năng lực của nhân viên xã hội

6.2 Những bất lợi :

Việc bảo mật khó duy trì trong CTXH nhóm hơn là trong CTXH cá nhân.

Nhóm được thành lập có khó khăn để hoạch định, tổ chức và thực hiện. Công việc chuan bị cho loại nhóm nầy là quan trọng, có nhiều khó khăn cản trở phải khắc phục ở cấp độ nhóm viên, đồng nghiệp và cơ quan.

Nhóm cần nhiều tài nguyên : NVXH có thể phải thương lượng để có những tiện nghi, quỹ, trang thiết bị, , di chuyển…

Cá nhân ít được quan tâm riêng trong nhóm. Một số cá nhân, ít nhất là ở vào giai đoạn phát triển nào đó không thể ứng phó với việc chia sẻ, cạnh tranh trong bối cảnh nhóm, họ cần một sự quan tâm đặc biệt của một mối quan hệ cá nhân. Trong nhóm họ có thể disruptive, thụ động, tổn thương hay là vật tế thần. Đoi khi một thời gian công tác với cá nhân có thể chuẩn bị tốt cho sự tham gia nhóm.

Cá nhân dễ bị “dán nhãn” hơn. Thí dụ nhóm phụ huynh đơn thân, nhóm trẻ trốn học, nhóm nghiện rượu…

Nhóm có thể nguy hiểm đối với một thiểu số nhỏ. Nhóm và nghười hướng dẫn nhóm có thể tấn công một cá nhân, từ chối cá nhân. Lãnh đạo nhóm như thế nào sẽ giảm thiểu được nguy cơ nầy. (liên quan đến kỹ năng lãnh đạonhóm).

7. Lịch sử phát triển phương pháp công tác xã hội nhóm

Sử dụng nhóm trong CTXH như một phương pháp giúp đỡ tương đối mới, chỉ mới từ thập niên 1930s công tác nhóm mới được thừa nhận là một phần của nghề CTXH. Sử dụng nhóm như một phương tiện trị liệu trong bệnh viện, phòng khám … chỉ mới bắt đầu trong thế chiến thứ 2.

Tại Anh : Công tác nhóm bắt nguồn ở Anh vào thế kỹ 19, vào thời điểm có nhiều biến động và thay đổi từ cuộc cách mạng kỹ nghệ. Sự hình thành hệ thống các nhà máy, xưởng đã thu hút hút người dân cà nam lẫn nữ từ các làng mạc và thành phố nhỏ đến các khu công nghiệp trung tâm như Bristol, Birmingham, Sheffield và Luân Đôn. Việc tập trung số lượng người đông đảo và đột ngột nầy đã tạo ra những vấn đề nghiêm trọng như nhà ở, vệ sinh và tội phạm; các dịch vụ đang có lúc bấy giờ không đủ để giải quyết những vấn đề này.

Với sự phát triển của các xí nghiệp số người lao động ngày càng lệ thuộc kinh tế vào giới chủ nhân, họ không còn làm chủ sản xuất mà chỉ bán sức lao động, họ tùy thuộc vào giới chủ để hưởng long. Nếu tiền lương thấp, nếu không có việc làm họ sẽ không biết dựa vào cái gì để sống. Vấn đề xã hội rộng lớn đã ảnh hưởng đến hàng triệu gia đình. Sự nghèo đói lan rộng đối nghịch với sự gia tăng giàu có của quốc gia tập trung  vào một nhóm thiểu số.

Một số phong trào đã thành lập để giải quyết các vấn đề nhà ở, giáo dục, tội phạm, lao động trẻ em. Nhiều hội thiện cũng có mặt để cấp phát tiền bạc, thức ăng cho cá nhân và gia đình khốn khó, thường những tổ chức này thuộc các tôn giáo.

Những người tham gia vào những hoạt động an sinh xã hội này là những người thuộc tầng lớp giàu có, học hành cao, có đạo, họ tự xem mình là những ngườii có trách nhiệm làm cho cuộc sống an bình và tốt đẹp hơn. Họ cảm thấy có bổn phận và chia sẻ niềm tin rằng tương lai của một người tùy thuộc vào lòng tin và cách cư xử của họ.

Những câu lạc bộ, tổ chức đã thành lập để làm việc với cá nhân dưới hình thức nhóm. Một số tổ chức như trung tâm cộng đồng, YMCAs, YWCAs hình thành như một trung tâm và cung cấp các chương trình, hoạt động hàng tuần. Các tổ chức khác như hướng đạo, ..cung cấp các chương trình sinh hoạt lưu động.

Một trong những phong trào nổi bật là phong trào trung tâm mà người lãnh đạo là Samuel Barnett, người sáng lập Toynbee Hall, 1884, phong trào trung tâm đầu tiên tại Anh với các hoạt động : triễn lãm tranh, lớp học ngoài giờ, những lớp học đặc biệt cho người nghèo.

Trong khi các phong trào trung tâm sử dụng nhóm nhỏ như là phương tiện để giáo dục người nghèo và khó khăn, thì YMCA va YWCA sử dụng nhóm nhỏ như phương tiện để cứu rỗi linh hồn và tiến dần tới các hoạt động giải trí, lớp học, câu lạc bộ, thể thao.

Hướng đạo thì lại có những hoạt động ngoài trời cũng có sức lôi cuốn đặc biệt.

Tại Mỹ : Cuộc cách mạng kỹ nghệ mang lại nhiều thay đổi về văn hóa và xã hội. Kỹ nghệ phát triển, nhà máy mọc lên, công nhân được thuê mướn với đồng lương thấp trong điều kiên khó khăn và không an toàn. Người có tay nghề 20 xu/giờ, người không có tay nghề 10 xu/giờ. Năm 1830,  nhiều hội nhóm hình thành để giáo dục , vui chơi giải trí …Nhiều tổ chức, hội đoàn hướng về nhóm đã được thành lập ở Anh được sao chép lại tại Mỹ và Canada.

Nhiều người xem nhóm nhỏ như phương tiện sống động để xã hội hóa cá nhân, người thì coi nhóm nhỏ như những sức mạnh để duy trì một xã hội dân chủ. Các tổ chức trung tâm cộng đồng kết hợp nhiều chủ đề với mục tiêu của tổ chức họ. Đại học Toronto thì định nghĩa chức năng của nó như một trung tâm giải trí, xã hội và giáo dục của cộng đồng, dịch vụ bao gồm câu lạc bộ athelic cho trẻ trai, lớp học Anh văn cho người lớn, câu lạc bộ bạn bè cho trẻ em, lớp học cho những trẻ phải bỏ học sớm để đi làm.

Niềm tin rằng nhóm nhỏ có thể là phương tiện tích cực để xây dựng nhân cách và nâng cao sự phát triển của trẻ em. Trẻ đến với nhóm và với người trưởng nhóm có trách nhiệm, quan tâm sẽ học được những kỹ năng xã hội và giá trị của xã hội rộng lớn hơn.

Thập niên 1900s, vui chơi giải trí điều mà trong thế kỹ trước được coi là những hoạt động để choán những giờ rãnh rỗi thì nay được coi là phương tiện qua đó người ta có thể ứng phó với thực tiễn, tiếp nhận những nguyên tắc đạo đức mà họ có thể thực hiện trong đời sống hằng ngày, và học hỏi những kỹ năng tương quan.

–  Sự khác biệt giữa công tác xã hội cá nhân và nhóm

CTXHCN : khám phá bên trong liên quan đến các tiếp cận diễn biến tâm lý với sự chuẩn bị tài nguyên thật cụ thể trong khi CTXH nhóm dựa trên chương trình hoạt động kích thích nhóm viên hoạt động

Cá nhân nhắm đến giải quyết vấn đề và phục hồi trong khi CTXH nhóm

Đối tượng của CTXH cá nhân phần lớn là người kém nay mắn, thiếu thốn, kém năng lực (từ được dùng là thân chủ) trong khi đối tượng của CTXH nhóm bao gồm nhiều loại thành phần hơn (từ nhóm viên, thành viên hơn)

Báo cáo của CTXH cánh

–  Các thuyết ảnh hưởng đến phương pháp công tác xã hội nhóm :

a/ Thuyết hệ thống : Theo Parson  nhóm là hệ thống xã hội với những thanh viện lệ thuộc hỗ tương cố gắng duy trì trật tự và sự can bằng như một thể thống nhất. Nhóm phải vận động tài nguyên để đáp ứng nhu cầu. Nhóm có 4 nhiệm vụ chính : (1) hội nhập – đảm bảo rằng các nhóm viên hoà hợp với nhau; (2) thích nghi – đảm bảo rằng nhóm thay đổi để ứng phó với nhu cầu đòi hỏi của môi trường; (3) duy trì – đảm bảo rằng nhóm xác định và duy trì được mục đích cơ bản, bản sắc, và phương cách của nó; (4) đạt mục tiêu – đảm bảo rằng nhóm theo đuổi và hoàn thành trách nhiệm. Nhóm phải hoàn tất 4 công việc này để duy trì được sự quân bình, đây là công việc dành cho tác viên và nhóm viên của nhóm.

Theo Robert Bales, Thì nhóm phải giải quyết 2 vấn để để tự bảo tồn, đó là vấn đề liên quan tới công việc và vấn đề liên quan tới cảm xúc tức bầu không khí nhóm.

Parson nhấn mạnh tới sự hài hoà và quân bình, trong khi  đó Bales nhấn mạnh tới sự căng thẳng và xung đột. Nhóm có khuynh hướng vacillate giữa sự vthích nghi với môi trường bên ngoài và quan tâm tới sự hội nhập bên trong. Bales gọi đây là sự quân bình năng động. Nghiên cứu sự quân bình năng động này và thấy rằng để giải quyết vấn đề liên quan tới công việc các nhóm viên cho ý kiến, cung cấp thông tinyêu cầu các đề nghị hoặc đưa racá d62 nghị. Để giải quyết vấn đề về cảm xúc các nhóm viên bày tỏ sự đồng ý, không đồng ý, bày tỏ sự căng thẳng hay giải toả sự căng thẳng, bày tỏ sự đoàn kết hay xung đột. Qua mối tương tác này các thành viên nhóm  giải quyết vấn đề trao đổi, lượng giá, kiểm soát, lấy quyết định,  giảm căng thẳng và hội nhập.

Có thể rút ra từ các quan điểm khác nhau về thuyết hệ thống những khái niệm đáng quan tâm đối với tác viên nhóm như sau :

– Sự hiện diện của tài sản của nhóm như một tổng thể xuất phát từ mối tương tác giữa các cá nhân trong nhóm

– Sức ép mãnh liệt của nhóm lean trên hành vi của cá nhân

– Khi nhóm giải quyết những mâu thuẫn là sự đấu tranh để tồn tại

– Nhóm phải nối kết với môi trường bean ngoài và quan tâm tới sự hội nhập bên trong.

– Nhóm thường xuyên ở trong tình trạng trở thành, phát triển, thay đổi

– Nhóm có một chu kỳ sống.

b/ Thuyết tâm lý năng động : Theo lý thuyết này nhóm viên thể hiện những xung đột không giải quyết được từ kinh nghiệm sống từ thời bé. Bằng nhiều cách nhóm tái hiện lại tình huống gia đình, thí dụ như mô tả người trưởng nhóm như hình ảnh của người cha có toàn quyên trên các nhóm viên. Nhóm viên hình thành những phản ứng chuyển giao cho người trưởng nhóm và cho nhau trên cơ sở những kinh nghiệm sống thuở ban đầu của họ. Như vậy mối tương tác diễn ra trong nhóm phản ảnh cơ cấu nhân cách vả cơ chế tự vệ mà nhóm viên bắt đầu phát triển từ thời thơ ấu. Tác viên sử dụng sự giao dịch này để giúp cho nhóm viên giải quyết các xung đột chưa giải quyết của họ bằng cách thăm dò mẫu hành vi trong quá khứ và nối kết với những hành vi hiện tại. Thí dụ tác viên có thể diễn dịch hành vi của 2 nhóm viên đang tranh giành sự quan tâm của trưởng nhóm như sự tranh chấp không giải quyết được của 2 anh em. Khi diễn dịch của tác viên đúng lúc thì các nhóm viên hiểu được hành vi của riên họ. Theo thuyết tâm lý năng động thì sự hiểu biết này là thàn h tố cần thiết trong việc điều chỉnh và thay đổi hành vi bean trong và bên ngoài nhóm.

c/ Thuyết học hỏi : Thuyết gây nhiều tranh cải trong CTXH nhóm nhất. Điều cơ bản của lý thuyết này là nhấn mạnh đến hành vi cá nhân hơn là hành vi nhóm. Theo lý thuyết này hành vi của nhóm có thể được giải thích bằng 1 trong 3 phương pháp học tập.Theo lối tiếp cận cổ điển, hành vi có liên quan tới stimulus. Thí dụ như một nhân viên đáp ứng bằng một lời phê tiêu cực mỗi khi một nhóm viên quay qua nói với một nhóm viên khác trong lúc nhân viên và các nhóm viên khác đang nói. Sau nhiều lần như vậy chỉ cần nhóm viên tái hiện hành vi quay qua mà không nói chuyện cũng đủ cho người nhân viên nhận xét tiêu cực rồi.

Phương pháp thứ hai thông thường hơn gọi là điều kiện hoạt động. Hành vi của nhóm viên và tác viên được điều hành bởi kết quả của hành động của họ.Nếu một nhóm viên có mội hành vi nào đó và nhóm viên B đáp ứng một cách tích cực thì nhóm viên A có thể sẽ tiếp tục hành vi đó. Tương tự nếu tác viên nhận được phản hồi tiêu cực từ nhóm viên về một hành vi nào đó thì tác viên có thể sẽ không cư xử như thế trong tương lai.

Trong nhóm tác viên có thể dùng sự khken ngợi để gia tăng sự giao tiếp giữa nhóm viên và nhóm viên và những nhận xét tiêu cực để làm giảm sự giao tiếp giữa tác viên và nhóm viên.

Mô hình thứ ba là lý thuyết học hỏi xã hội. Nếu nhóm viên và tác viên chờ đợi điều kiện hoạt động hay cổ điển diễn ra thì những hành vi trong nhóm được học hỏi rất chậm chạp. Bandura cho rằng hầu heat việc học hỏi diễn ra qua sự quan sát và ca ngợi hay củng cố vicarious hay trừng phạt. Thí dụ, khi một nhóm viên được khen ngợi vì một hành vi nào đó thì tác viên và nhóm viên khác sẽ tái tạo hành vi đó sau này hy vọng là sẽ nhận được sự khen thưởng tương tự. KHi một nhóm viên thể hiện một hành vi nào đó mà xã hội không quan tâm hay trừng phạt thì những nhóm viên khác sẽ học là không cư xử như thế vì hành vi đó đem lại kết quả tiêu cực.

d/ Thuyết hiện trường : Kurt Lewin đã thực hiện nhiệu cuộc thou nghiệm về sức ép để giải thích hành vi trong nhóm nhỏ. Theo lý thuyết hiện trường của Lewin thì nhóm có một không gian sống, nó chiếm một vị trí tương quan với các vật thể khác trong khoảng không gian nầy, nó được hướng dẫn để đạt được mục tiêu, nó vận chuyển để theo đuổi những mục tiêu này, và nó có thể gặp nhiều trở ngại trong tiến trình vận chuyển. Sự đóng góp độc đáo của thuyết hiện trường là xem nhóm như một tổng thể (gestalt), đó là sự phát triển từ từ những lực đối lập để giữ cho nhóm viên gắn với nhómvà làm cho nhóm tìm cách để đạt được mục tiêu. Theo Lewin, nhóm liên tục thay đổi để ứng phó với tình huống xã hội dù rằng có nhiều khi nó ở trạng thái gần như đứng yên.Lewin đưa ra vài khái niệm để hiểu về sức mạnh của nhóm đó là :

– vai trò :vị trí, quyền và bổn phận của nhóm viên

– Qui chuẩn : những nguyên tắc điều hành/chi phối hành vi của nhóm viên

– Quyền lực : khả năng nhóm viên ảnh hưởng lẫn nhau

– Sự liên kết : toàn bộ những hấp lực và sự lôi cuốn của các thành viên trong nhóm cảm nhận về nhau và vể nhóm.

– Sự nhất trí : Mức độ đồng ý về mục tiêu và các hiện tượng khác trong nhóm

– Tiềm năng (valence) đạt mục tiêu và object trong không gian sống của nhóm.

Thuyết hiện trường của Lewin cho rằng người ta sẽ không thay đổi hành vi của minh cho tới khi nào họ thấy rõ hành vi của mình như người khác thấy.

e/ Thuyết trao đổi xã hội: thuyết nay nhấn mạnh đến hành vi cá nhân của các thành viên trong nhóm. Phát xuất từ những học thuyết trò chơi, phân tích kinh tế , tâm lý động vậtcác nhà lý thuyết trao đổi xã hội cho rằng khi người ta tương tác trong nhóm , mỗi người đều cố gắng hành xử để gia tăng tối đa sự khen thưởng và giảm thiểu tối đa sự trừng phạt. Các thành viên trong nhóm bắt đầu tương tác vì những sự trao đổi xã hội này đem lại cho họ điều gì đó có giá trị, như sự tán thành chẳng hạn. Theo các nhà lý thuyết trao đổi xã hội thì thường người ta không thể nhận được gì nếu người ta không cho, có moat sự trao đổi ngầm trong mọi mối quan hệ giữa con người.

Trong lý thuyết trao đổi xã hội, hành vi nhóm được phân tích bằng cách quan sát cách mà những cá nhân thành viên tìm kiếm sự khen thưởng trong khi ứng phó với sự tương tác diễn ra trong nhóm. Đối với một cá nhân trong một nhóm, quuyết định diễn tả m65t hành vi dựa vào sự can nhắc, so sánh giữa sự khen thưởng và trừng phạt có thể có từ hành vi đó. Các thành viên trong nhóm cư xử  để gia tăng những hiệu quả tích cực và làm giảm những kết quả tiêu cực. Lý thuyết trao đổi xã hội cũng nhấn mạnh đến cái cách mà các thành viên nhóm ảnh hưởng lẫn nhau trong các tương tác ã hội. Kết quả của bất kỳ sự tương tác xã hội nào cũng đều dựa trên quyền lực xã hội và sự lệ thuộc xã hội trong mối tương tác đặc biệt.

Lý thuyết này được sử dụng để làm việc với nhóm thanh thiếu niên phạm pháp trong cơ sở, nhóm cấu trúc được sử dụng để đối đầu, thách thức, và xóa đi những qui chuẩn nhóm đồng đẳng chống xã hội và thay thế chúng bằng những qui chuẩn hỗ trợ xã hội thông qua sự tương tác nhóm đồng đẳng được hướng dẫn.

Lý thuyết trao đổi xã hội bị phê bình là máy móc vì n1 giả định người ta luôn luôn là sinh vật có lý trí hành động theo sự  phân tích về thưởng phạt. Các nhà lý thuyết trao đổi xã hội ý thức rằng tiến trình nhận thức ảnh hưởng đến cách người ta cư xử trong nhóm. Cái nhìn của các thành viên nhóm chịu ảnh hưởng bởi tiến trình nhận thức như ý định và sự mong đợi.

( Nguyễn Ngọc Lâm, http://www.nttcenter.com)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: