Báo cáo Tổng kết 8 năm thực hiện pháp lệnh người cao tuổi

I. BỐI CẢNH RA ĐỜI PHÁP LỆNH NGƯỜI CAO TUỔI

Năm 1986, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã tiến hành công cuộc đổi mới tư duy, trước hết là đổi mới tư duy kinh tế, chuyển nền kinh tế Việt Nam từ cơ chế tập trung qua liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trư­ờng định hướng xã hội chủ nghĩa. Đổi mới đã tạo ra động lực mới cho sự phát triển của đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu do đổi mới mang lại, trong thời kỳ đầu, đời sống của nhân dân ta đã gặp không ít khó khăn, đặc biệt là người cao tuổi, những người trước đây đã từng tham gia 2 cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc.

Theo số liệu Tổng điều tra dân số năm 1989, người cao tuổi chiếm 7,2% dân số; năm 1990 chiếm 8,2% và năm 2009 chiếm 9,45%, trong đó 73% người cao tuổi sống ở nông thôn, 21% thuộc diện nghèo.Điều tra năm 2003, nhóm tuổi 50-59, nam chiếm 46,3%, nữ 53,7%; nhóm tuổi 65-69, nam chiếm 42,2%, nữ chiếm 57,8% và ở nhóm 70 tuổi trở lên, nữ chiếm 64,4%[1]

Nhận thức được vai trò của người cao tuổi là nền tảng của gia đình, nguồn lực quý giá của dân tộc; lực lượng người cao tuổi ngày càng đông, chiếm gần 10% dân số, là tấm gương sáng về phẩm chất đạo đức, có lối sống mẫu mực; giáo dục thế hệ trẻ giữ gìn truyền thống tốt đẹp của dân tộc; vận động gia đình và cộng đồng chấp hành chủ trương, pháp luật của Nhà nước, Chính phủ đã ban hành Quyết định thành lập Hội người cao tuổi Việt Nam ngày 10/5/1995, đã thu hút người cao tuổi vào tổ chức Hội.

Ngay sau khi Hội người cao tuổi Việt Nam được thành lập, Ban Bí thư TW đã ban hành Chỉ thị 59/CT-TW “Về chăm sóc người cao tuổi”, quy định: “Việc chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần cho người cao tuổi là trách nhiêm của Đảng, nhà nước và toàn xã hội. Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc, các ban đảng, các đoàn thể nhân dân cần giúp đỡ Hội hoạt động có hiệu quả thiết thực, phối hợp với Hội trong việc vận động gia đình và xã hội chăm sóc, bồi dưỡng, phát huy người cao tuổi phục vụ công cuộc đổi mới. Đảng đoàn Quốc hội, Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các ban của Đảng, các ban cán sự đảng Chính phủ, Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế, Bộ Tư pháp phối hợp với Hội nghiên cứu, soát xét các chính sách luật pháp hiện hành, đề xuất những văn bản pháp quy của nhà nước nhằm bảo vệ, chăm sóc và phát huy người cao tuổi. Nhà nước cần dành ngân sách để giải quyết các vấn đề xã hội, trong đó có vấn đề chăm sóc người cao tuổi.

Thông báo số 12-TB/TW ngày 13 tháng 6 năm 2001 Hội người cao tuổi Việt Nam là tổ chức xã hội của người cao tuổi, có các nhiệm vụ đã được quy định cụ thể tại Pháp lệnh người cao tuổi; Hội có Ban đại diện ở cấp tỉnh và cấp huyện; Cấp tỉnh có từ 2 đến 3, cấp huyện có từ 1 đến 2 cán bộ chuyên trách đồng thời khẳng định: “ Nhà nước tiếp tục trợ cấp knh phí họat động cho Hội. Các cơ quan có chức năng của Nhà nước tạo thuận lợi, bảo đảm cấp kinh phí kịp thời cho Hội”.

Chăm sóc và phát huy tốt vai trò người cao tuổi là thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta và đạo đức người Việt Nam.

Hiến pháp năm 1946, Điều 14 quy định: “Những công dân già cả hoặc tàn tật không làm đư­ợc việc thì đư­ợc giúp đỡ”. Điều 32 của Hiến pháp 1959 ghi rõ: “Giúp đỡ ngư­ời già, người đau yếu và tàn tật. Mở rộng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm sức khoẻ và cứu trợ xã hội…”. Điều 64 của Hiến pháp 1992 quy định: “… Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con cái. Con cái có trách nhiệm kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ… ”. Và Điều 87 của Hiến pháp ghi rõ: “Người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa được nhà nước và xã hội giúp đỡ”.

Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 2 Điều 36  quy định:“Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dư­ỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ ốm đau, già yếu, tàn tật…Và khoản 2 điều 47 Luật này quy định: “Cháu có bổn phận… chăm sóc, phụng dư­ỡng ông bà nội, ngoại”.

Luật bảo vệ chăm sóc sức khoẻ nhân dân đã dành một chư­ơng riêng: Bảo vệ sức khoẻ người cao tuổi … trong đó, khoản 1 Điều 41 của Luật này quy định :“người cao tuổi …đư­ợc ưu tiên khám bệnh, chữa bệnh, đư­ợc tạo điều kiện thuận lợi để đóng góp cho xã hội phù hợp với sức khoẻ của mình”.

Luật Lao động quy định tại Điều 124: “Ngư­ời sử dụng lao động có trách nhiệm quan tâm chăm sóc sức khoẻ ngư­ời lao động cao tuổi, không được sử dụng ngư­ời lao động cao tuổi làm việc nặng nhọc, nguy hiểm… ảnh hưởng sức khoẻ ”.

Điều 151 của Bộ luật hình sự quy định: “Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình” và Điều 152 quy định “Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng”. Bên cạnh đó, luật cũng quy định một số tình tiết giảm nhẹ khi “người phạm tội là người già”.

Năm 1996, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 117/CP “Về chăm sóc người cao tuổi và hỗ trợ hoạt động cho Hội người cao tuổi Việt Nam”. Chỉ thị khẳng định: “Kính lão đắc thọ” là truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta, Đảng và nhà nước ta coi việc quan tâm, chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần của người cao tuổi là đạo lý của dân tộc, là tình cảm và trách nhiệm của toàn đảng, toàn dân và các cấp chính quyền và đã đề ra nhiều chính sách thể hiện sự quan tâm đó.

Để phát huy truyền thống của dân tộc, thực hiện chủ trương chính sách của Đảng và hỗ trợ hoạt động của Hội người cao tuổi, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ thị:

Các cấp chính quyền, các cơ quan quản lý nhà nước trong khi hoạch định các kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội và các chương trình quốc gia, cần chú ý bồi dưỡng và phát huy nguồn lực người cao tuổi. Hàng năm cần dành một tỷ lệ thích đáng ngân sách để giải quyết các vấn đề xã hội, chăm sóc, bồi dưỡng, phát huy vai trò người cao tuổi và hỗ trợ Hội người cao tuổi.

Tuy nhiên, các chính sách và văn bản quy phạm pháp luật về người cao tuổi hiện hành chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước về người cao tuổi và những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn công tác người cao tuổi những năm qua, đó là:

Hiến pháp năm 1992, Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân, Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình… có đề cập đến người cao tuổi ở một số điều luật song các quy định của pháp luật hiện hành đó chưa bao quát đầy đủ, toàn diện về quyền và nghĩa vụ của người cao tuổi; phụng dưỡng, chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi; trách nhiệm của cơ quan Nhà nước đối với công tác người cao tuổi trong điều kiện đất nước phỏt triển nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế Quốc tế. Một số quy định về cụng tỏc tổ chức Hội chưa được thống nhất trong cách hiểu và vận dụng trong thực tiễn rất khác nhau.

Do thấu hiểu được tâm tư, nguyện vọng của người cao tuổi, năm 2000, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh người cao tuổi. Pháp lệnh người cao tuổi ra đời là bư­ớc đi thích hợp để chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi.

II. KẾT QUẢ TRIỂN KHAI THỰC HIỆN PHÁP LỆNH

2.1. Công tác chỉ đạo triển khai thực hiện Pháp lệnh

Sau khi có Pháp lệnh người cao tuổi, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 30/2002/NĐ-CP ngày 26 tháng 3 năm 2002 và tiếp đến là Nghị định số 120/2003/NĐ-CP ngày 20 tháng 10 năm 2003 hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh người cao tuổi.

Thực hiện sự chỉ đạo và phân công của Chính phủ, các Bộ ngành chức năng đã ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh, như:

* Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư số 16/2002/TT-BLĐTBXH ngày 09/12/2002; Thông tư số 24/2003/TT-BLĐTBXH ngày 06/01/2003 và Thông tư số 36/2005/TT-BLĐTBXH ngày 26/12/2005 hướng dẫn thực hiện các Nghị định số 30/2002/NĐ-CP ngày 26 tháng 3 năm 2002; Nghị định số 120/2003/NĐ-CP ngày 20 tháng 10 năm 2003 của Chính phủ và các văn bản có liên quan đến chế độ, chính sách trợ giúp người cao tuổi.

* Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 02/2004/TT-BYT ngày 20/01/2004 hướng dẫn thực hiện các Nghị định số 30/2002/NĐ-CP của Chính phủ về công tác chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi.

* Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 123/TT-BTC ngày 16/12/2003 hướng dẫn hỗ trợ từ ngân sách cho các tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, trong đó có người cao tuổi.

* Bộ Nội vụ ban hành công văn số 69/BTCCBCP-TCCP ngày 13 tháng 8 năm 2002 hướng dẫn Ban tổ chức chính quyền các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (nay là Sở Nội vụ) thành lập Ban đại diện Hội người cao tuổi cấp tỉnh, huyện.

Và các văn bản khác quy định về chăm sóc sức khoẻ, chế độ trợ cấp, nuôi dưỡng và phát huy vai trò người cao tuổi.

Trên cơ sở Pháp lệnh người cao tuổi và Thông tư hướng dẫn của Bộ, ngành, Ban chấp hành và Ban Thường vụ Trung ương Hội khoá II và khoá III đã ban hành nhiều Nghị quyết hướng dẫn các cấp Hội triển khai và phối hợp với các Bộ, sở, Ban ngành thực hiện Pháp lệnh người cao tuổi.

2.2. Công tác tuyên truyền phổ biến Pháp lệnh

Pháp lệnh của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã được các Ban đại diện Hội người cao tuổi cấp tỉnh, huyện phổ biến đến cơ sở.

Hội người cao tuổi các cấp đã phối hợp với các cơ quan, báo chí, đài phát thanh và truyền hình Trung ương, địa phương,…thường xuyên tuyên truyền chủ trương của Đảng, Pháp lệnh người cao tuổi. Các chuyên mục “ Cây cao bóng cả”, “Người đương thời”, “Người xây tổ ấm”, “Sống khoẻ, sống vui, sống có ích” đã có tác dụng động viên, cổ vũ người cao tuổi tham gia các hoạt động xoá đói giảm nghèo, tham gia xây dựng đảng, chính quyền, giữ vững an ninh chính trị trật tự an toàn xã hội ở cơ sở, hoà giải, giải quyết mâu thuẫn tại cộng đồng dân cư, hoạt động khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập, tham gia các hoạt động văn hoá xã hội, vận động con cháu và cộng đồng chấp hành chủ trương và pháp luật của nhà nước.

Nhiều sách, báo, tạp chí của Viện Lão khoa, Viện Dinh dưỡng, Viện Nghiên cứu Khoa học Thể dục thể thao, Viện Nghiên cứu người cao tuổi Việt Nam, Tạp chí người cao tuổi, Báo người cao tuổi…đã đăng tải nhiều bài hướng dẫn về rèn luyện và giữ gìn sức khoẻ cho người cao tuổi…

2.3. Các hoạt động chăm sóc đời sống vật chất cho người cao tuổi

Cùng với việc thực hiện xoá đói giảm nghèo, Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm đến chính sách trợ cấp xã hội  như: chính sách thân nhân liệt sĩ, Bà Mẹ Việt Nam anh hùng, thương binh, bệnh binh, đảm bảo được mức sống trung bình ở cộng đồng. 6.900 bà mẹ Việt Nam anh hùng được Nhà nước, các cơ quan, xí nghiệp địa phương nhận chăm sóc, phụng dưỡng suốt đời; có 4.206/126.000 người cao tuổi cô đơn, già yếu, tàn tật, không nơi nương tựa được đưa vào nuôi dưỡng tại các Trung tâm Bảo trợ xã hội ở địa phương, được sự hỗ trợ của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội, Trung ương Hội đã xây dựng thí điểm mô hình “Nhà xã hội” ở 3 tỉnh (Nam Định, Thừa Thiên Huế và Bến Tre) thực hiện chăm sóc người cao tuổi tại cộng đồng.

Thực hiện chính sách trợ cấp theo Nghị định 30/2002 của Chính phủ cho người cao tuổi đã được nhiều địa phương quan tâm. Một số địa phương có khả năng kinh tế còn nâng mức trợ cấp cao hơn mức qui định của Chính phủ như Quảng Ninh (100.000đ/65.000đ), Hà Nội (105.000đ/65.000đ). Ở Đồng Tháp có 6.154 cụ, ở An Giang có 14.420 cụ được hưởng trợ cấp xã hội. Cả nước có 30.222 trên tổng số 142.343 người cao tuổi từ 90 tuổi trở lên được hưởng trợ cấp theo quy định của Pháp lệnh.

Từ khi thực hiện Nghị định 67/NĐ-CP, ngày 13/4/2007 của Chính phủ  hạ độ tuổi trợ cấp xã hội cho người cao tuổi từ 90 xuống 85 tuổi và nâng mức trợ cấp từ 65.000 đ/người/tháng lên 120.000 đ/người/tháng. Theo báo cáo của các tỉnh, thành phố, tính đến tháng 12 năm 2008, tổng số người cao tuổi được hưởng chế độ theo Nghị định 67/CP là 700.631 người, trong đó số người đã được giải quyết trợ cấp là 643.931 người, chiếm 91,9%. Những người cao tuổi từ 60 đến dưới 85 tuổi bị tàn tật, cô đơn đủ điều kiện để được hưởng chế độ theo Nghị định 67 là 121.736 người, trong đó đã giải quyết 110.911 người, chiếm 91,1%. Tính đến nay, có 63 tỉnh đã giải quyết mức 120.000 đ/người/tháng, trong đó có 18 tỉnh, thành phố đã hoàn thành việc giải quyết trợ cấp cho 100% số người cao tuổi theo Nghị định 67.

Cùng với phong trào “Xây nhà Đại đoàn kết”, “Nhà tình nghĩa”, “Nhà tình thương”, nhiều địa phương đã quan tâm đến việc sửa chữa nhà ở, xoá nhà tạm, nhà tranh tre nứa lá bảo đảm nơi ở cho người cao tuổi.

Theo báo cáo của 62/63 tỉnh, thành phố, tính đến ngày 15 tháng 12 năm 2008, tổng số nhà tạm hiện còn của người cao tuổi trong cả nước là 118.135 nhà, trong đó bằng nhiều nguồn vốn khác nhau, Hội người cao tuổi được sự phối hợp của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp đã xoá được 71.305 nhà, chiếm 60,4%. Nhiều địa phương đã tích cực vận động, quyên góp xoá nhà tạm, sửa chữa nhà cho người cao tuổi.

Hưởng ứng đợt vận động quyên góp “1 triệu bộ quần áo tặng người cao tuổi nghèo” nhiều địa phương đã phát động sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân, trong các cơ quan xí nghiệp, đã thu được kết quả rất khả quan, nhiều người cao tuổi nghèo đã có quần áo ấm áp trong mùa đông lạnh giá. Kết quả đợt vận động này đã tác động mạnh mẽ đến tình cảm của người cao tuổi nghèo về sự quan tâm của xã hội.

2.4. Các hoạt động chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi

Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân là hoạt động nhân đạo, là một trong những nhiệm vụ ưu tiên của Nhà nước ta.

Mong muốn được khoẻ mạnh và khi có bệnh được chữa khỏi bệnh là nhu cầu cơ bản và thường xuyên của mỗi người cao tuổi. Theo điều tra của ngành Y tế, 95% người cao tuổi có bệnh mãn tính và trung bình mỗi người cao tuổi thường có 2,67 bệnh; tỉ lệ người cao tuổi có sức khoẻ tốt chỉ chiếm 5,7%. Số người cao tuổi từ 85 tuổi trở lên được cấp thẻ Bảo hiểm Y tế là 458.320 người, chiếm 80%. Hiện có 17 tỉnh, thành phố đã cấp thẻ Bảo hiểm Y tế cho người cao tuổi thuộc đối tượng được hưởng chế độ theo Nghị định 67.

Sau khi có Pháp lệnh người cao tuổi, nhất là sau khi có Thông tư hướng dẫn của Bộ Y tế (số 02/2004/TT-BYT, ngày 20-01-2004), công tác khám, chữa bệnh cho người cao tuổi được thuận lợi hơn. Cả nước có 28 bệnh viện Trung ương và tỉnh đã thành lập Khoa Lão khoa với 1.049 cán bộ, y bác sỹ và 2.728 giường điều trị. Viện Lão khoa dưới sự lãnh đạo của Bộ Y tế, đã tăng cường triển khai các nghiên cứu, khảo sát thực trạng sức khoẻ bệnh tật; Viện Nghiên cứu người cao tuổi Việt Nam đã triển khai các nghiên cứu khoa học về thực trạng sức khoẻ người cao tuổi Việt Nam (2007, 2008); về đời sống vật chất, tinh thần có liên quan đến sức khoẻ của người cao tuổi nhằm dự báo tình hình bệnh tật, những biện pháp phòng tránh. Tuy nhiên, mạng lưới y tế chuyên khoa ở các vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa hiện còn thiếu và yếu.

Để đáp ứng yêu cầu khám sức khoẻ định kỳ theo Pháp lệnh người cao tuổi đã được các cấp Hội quan tâm, nhất là cơ sở, coi đây là một hoạt động không thể thiếu trong chương trình công tác hàng năm của mình.

Các cấp Hội cơ sở đã phối hợp với ngành y tế, Hội chữ thập đỏ, Hội đông y, vận động các bác sĩ, lương y đương chức và đã nghỉ hưu tham gia khám sức khoẻ, cấp thuốc cho người cao tuổi thuộc diện chính sách, người cao tuổi nghèo nhân các ngày 10/5, 27/7, 01/10. Số người cao tuổi được khám sức khoẻ hàng năm chiếm khoảng 30% đến 40% tổng số người cao tuổi, số tiền chi cho một người trong một lần khám trung bình từ 10 đến 15 ngàn đồng.

Công tác quản lý sức khoẻ, lập sổ theo dõi sức khoẻ theo quy định của Pháp lệnh đã được nhiều hội cơ sở phối hợp với trạm y tế thực hiện có kết quả bước đầu ( TP. Hải Phòng 100% người cao tuổi được theo dõi, quản lý sức khoẻ tại các trạm y tế và được khám sức khoẻ định kỳ mỗi năm 2 lần).

Việc khám chữa bệnh tại nhà cho người cao tuổi già yếu, bị bệnh mạn tính cũng đã triển khai thực hiện ở nhiều cơ sở.

Tuy nhiên, theo báo cáo của nhiều địa phương, số người cao tuổi dùng thẻ Bảo hiểm y tế để khám chữa bệnh mới chiếm khoảng 1/3 tổng số người có thẻ. Nguyên nhân chủ yếu là việc khám chữa bệnh chưa thuận tiện, nhiều người phải đi xa, số tiền tốn phí đi lại nhiều hơn tiền thuốc được cấp.

Cùng với các hoạt động chăm sóc Y tế, các hoạt động Thể dục thể thao đã được các cấp Hội và hội viên quan tâm. Nhiều người cao tuổi đã tự tìm cho mình các bài tập phù hợp, tích cực tham gia sinh hoạt ở các câu lạc bộ sức khoẻ.

Trung ương Hội người cao tuổi Việt Nam và Uỷ ban Thể dục thể thao (nay là Bộ Văn hoá, Thể Thao và Du Lịch) đã có chương trình phối hợp đẩy mạnh các hoạt động thể dục thể thao cho người cao tuổi, giai đoạn 2004-2008.

Tóm lại, trong những năm qua, các hoạt động chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi đã được triển khai thực hiện tương đối toàn diện và đã mang lại những kết quả bước đầu thiết thực góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho người cao tuổi, giúp  người cao tuổi sống khoẻ, sống vui, sống có ích.

Tuy nhiên, hoạt động chăm sóc sức khoẻ mới đáp ứng một phần nhu cầu của người cao tuổi. Số đông vẫn chưa được tiếp cận đầy đủ các dịch vụ chăm sóc y tế, Thể dục, thể thao, nhất là ở nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa. Việc tổ chức khám sức khoẻ, cấp thuốc miễn phí, hàng năm mỗi tỉnh đã chi hàng trăm triệu đồng, song số người cao tuổi được khám miễn phí mới chiếm 30%. Các chính sách đã có cũng chưa thực hiện thật nghiêm túc.

2.5. Các hoạt động chăm sóc đời sống tinh thần của người cao tuổi

Đời sống tinh thần là một nhu cầu cơ bản trong cuộc sống mỗi người. Với người cao tuổi nhu cầu này lại càng lớn, thậm chí hơn cả nhu cầu về vật chất.

2.5.1. Hoạt động tình nghĩa

Các tổ hội, chi hội đã chủ động duy trì thường xuyên và nâng cao chất lượng hoạt động tình nghĩa tuỳ theo hoàn cảnh kinh tế, phong tục, tập quán văn hoá của từng địa phương nhờ đó đã làm cho “tình làng, nghĩa xóm” thêm ấm áp, làm cho nội dung hoạt động của Hội cơ sở thêm phong phú và hấp dẫn. Từ thực tế hoạt động, nhiều Hội cơ sở đã xây dựng qui chế thăm hỏi nhau khi có hội viên đau, yếu, vật chất tuy không nhiều, song đã an ủi động viên, chia sẻ những buồn vui.

Để có kinh phí duy trì được thường xuyên, việc thăm hỏi hội viên Hội cơ sở đã có sáng kiến và nhiều biện pháp xây dựng bảo toàn quỹ hội. Mỗi hội viên khi vào Hội đều tự nguyện nộp 1 khoản tiền gọi là chân quỹ, khoản tiền chân quỹ tuỳ theo  hoàn  cảnh  kinh tế và mức sống của cộng đồng. Quỹ hội còn được sự giúp đỡ của các nhà hảo tâm, sự ủng hộ của con cháu.

Cấp uỷ Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể các cấp thường xuyên thăm hỏi tặng quà người cao tuổi. Chủ tịch nước có quà tặng các cụ thọ 100 tuổi.

Hằng năm tổ chức mừng thọ, chúc thọ vào dịp đầu xuân, ngày Quốc tế người cao tuổi 01/10, đã được chính quyền, Mặt trận Tổ quốc phối hợp với Hội cơ sở tổ chức trọng thể, mang đậm nét văn hoá truyền thống, tôn vinh các bậc cao niên, trưởng lão.

Việc chăm lo tang lễ người cao tuổi từ trần đã được các Hội cơ sở quan tâm, tổ chức chu đáo, xây dựng qui chế tang lễ, chế độ phúng viếng.

2.5.2. Chăm sóc Người cao tuổi tại gia đình

Chăm sóc đời sống người cao tuổi trước hết là xây dựng một cuộc sống hoà hợp giữa người cao tuổi với các thế hệ con cháu…trong gia đình với cộng đồng dân cư. Hầu hết cuộc sống ở gia đình, không chỉ đáp ứng về đời sống vật chất, mà ý nghĩa lớn lao là nơi đáp ứng nhu cầu về đời sống tình cảm, đời sống tâm linh của người cao tuổi.

Tổ chức Hội luôn chú ý đẩy mạnh cuộc vận động “Ông bà, cha mẹ mẫu mực, con, cháu hiếu thảo” xây dựng “Gia đình văn hoá”. Cuộc vận động ngày càng thu hút đông đảo người cao tuổi tham gia, hàng năm bình xét có từ 75-90% gia đình được công nhận đủ tiêu chuẩn.

Người cao tuổi thường xuyên rèn luyện tu dưỡng, giữ cái tâm, cái đức trong sáng để làm gương cho con, cháu noi theo. Đồng thời luôn quan tâm khuyên bảo con cháu chăm chỉ học hành, giữ gìn đạo đức gia phong, sống liêm khiết, không làm những việc thất đức.

Bên cạnh những mặt được là cơ bản song hiện nay ở một số gia đình có nhiều thế hệ sống với nhau đang giảm dần. Qua điều tra cho thấy 31,1% ông bà, cha mẹ không sống chung với con, cháu; 6,3% người cao tuổi sống cô đơn. Do tác động của cơ chế thị trường có một số ít gia đình, gia phong bị phá vỡ, con cái đối xử tệ bạc với bố mẹ.

2.5..3. Chăm sóc đời sống tinh thần người cao tuổi

Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” và những việc làm cụ thể như công tác an ninh nhân dân, phòng chống tội phạm, công tác hoà giải, khuyến học, khuyến tài… Các hoạt động này vừa phát huy được tiềm năng của người cao tuổi góp phần xây dựng đời sống văn hoá, vừa chăm sóc đời sống tinh thần, tạo cho người cao tuổi có cuộc sống hoà hợp với cộng đồng, có tinh thần lạc quan, lấy việc giúp ích cho mọi người làm niềm vui, khắc phục tâm lý tự thấy mình là người thừa.

Gần đây, tại nhiều cơ sở phát triển “Câu lạc bộ ông bà cháu” tạo ra mối quan hệ hoà hợp giữa lớp người cao tuổi với các cháu thiếu nhi, phát huy được uy tín, kinh nghiệm của người cao tuổi, góp phần vào giáo dục các cháu chăm lo học tập, vui chơi của các cháu.

2.5.4. Các hoạt động nâng cao hiểu biết cho Người cao tuổi

Việc cung cấp thông tin đã được các phương tiện thông tin đại chúng, đài phát thanh truyền hình, các báo ở trung ương và địa phương, Tạp chí nghiên cứu người cao tuổi, Báo người cao tuổi và các cấp Hội quan tâm. Nhiều cơ sở Hội đã cố gắng cung cấp báo chí, lập tổ thông tin tổng hợp tin tức để phổ biến lại cho Hội viên trong các buổi sinh hoạt Hội.

Nhiều xã phường đã thành lập Trung tâm giáo dục cộng đồng. Nhiều người cao tuổi đã tham gia hoạt động, làm giám đốc trung tâm (Quảng Bình 126/159 xã phường có trung tâm giáo dục cộng đồng, trong đó gần 50% giám đốc Trung tâm là người cao tuổi), các Trung tâm tổ chức cho người cao tuổi học tập đường lối chính sách, pháp luật, khoa học kỹ thuật đáp ứng yêu cầu sản xuất và cuộc sống của người cao tuổi.

Tham quan du lịch là một nhu cầu mới trong cuộc sống của người cao tuổi. Tám năm qua, Thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức 66.886 người cao tuổi đi tham quan du lịch, Tỉnh Tiền Giang đã tổ chức 3.751 cuộc cho 121.504 người cao tuổi, Nghệ An đã tổ chức cho31.975 người cao tuổi đi tham quan du lịch (trên 10% người cao tuổi), Tỉnh Bình Phước có 2754 người cao tuổi đi tham quan. Tỉnh Hà Giang đã 9 lần tổ chức cho 460 người cao tuổi về tham quan Hà Nội. Hà Nội đã tổ chức cho 129.349 lượt người cao tuổi đi tham quam các di tích lịch sử, di tích cách mạng, các danh lam thắng cảnh trong nước… Các cuộc tham quan du lịch đã được tổ chức chu đáo, an toàn, đem lại nhiều điều bổ ích và hứng thú cho hội viên.

2.5.5. Hoạt động vui chơi, giải trí

Các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao; các câu lạc bộ nghệ thuật, thơ ca, thể dục, dưỡng sinh… đã được phát triển mạnh mẽ, rộng rãi, thu hút đông đảo người cao tuổi tham gia làm cho đời sống tinh thần của người cao tuổi ngày càng phong phú, vui vẻ, phấn khởi góp phần làm cho môi trường văn hoá trong khu dân cư vui tươi, lành mạnh. Theo báo cáo của 18 tỉnh thành đã có 9.065 câu lạc bộ các loại thu hút hàng triệu người tham gia  sinh hoạt  thường xuyên. Để cổ vũ động viên phong trào ở cơ sở, nhiều quận, huyện và tỉnh, thành phố việc tổ chức liên hoan tiếng hát người cao tuổi, Hội khoẻ người cao tuổi đã thành nếp thường xuyên.

Các hoạt động văn hoá – thể dục thể thao ở cơ sở hiện nay chủ yếu do người cao tuổi tự tổ chức, tự lo kinh phí, tự tìm mượn địa điểm, ít được các cơ quan chuyên môn quan tâm giúp đỡ . Vì vậy, hoạt động văn hoá, thể dục, thể thao của người cao tuổi vẵn đang gặp nhiều khó khăn về kinh phí và sân bãi.

2.6.  Hoạt động phát huy vai trò  người cao tuổi

Người cao tuổi là một kho tàng kiến thức, kinh nghiệm sống. Vì thế, Hội người cao tuổi các cấp đã phát huy tốt vai trò người cao tuổi và bản thân người cao tuổi, thể hiện nhu cầu “Được thấy mình là người có ích cho gia đình và xã hội”, thực hiện đúng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh với người cao tuổi “Lão giả không an chi, lão lai không tài tận”.

2.6.1. Phát huy trong hoạt động kinh tế

Người cao tuổi thi đua làm kinh tế giỏi là thể hiện ý chí, nguyện vọng thiết tha của mình, không cam chịu đói nghèo, vươn lên làm giàu cho mình, cho con cháu, cho cộng đồng, góp phần vào công cuộc đổi mới của đất nước. Người cao tuổi làm kinh tế không phải chỉ làm giàu cho mình mà còn tạo điều kiện để giúp đỡ người nghèo, giải quyết việc làm và làm giàu cho xã hội.

Trong 8 năm thực hiện Pháp lệnh người cao tuổi, Ban Chấp hành Trung ương Hội khoá II và khoá III đã 02 lần tổ chức Hội nghị toàn quốc người cao tuổi làm kinh tế giỏi. Tại Hội nghị lần thứ nhất (2003), Trung ương Hội đã biểu dương 300 cụ và Hội nghị lần thứ hai (2008), 228 cụ đại diện cho hàng vạn người cao tuổi trong cả nước được các cấp Hội tôn vinh danh hiệu người cao tuổi làm kinh tế giỏi. Thành phố Hồ Chí Minh có 3.117 người cao tuổi, Tây Ninh có 2.455 người cao tuổi làm kinh tế giỏi cấp tỉnh.

Cùng với việc chăm lo của Đảng, Nhà nước, các cấp Hội người cao tuổi cơ sở rất quan tâm đến việc xoá đói giảm nghèo trong người cao tuổi.

Phong trào xoá đói giảm nghèo đã được nhiều tỉnh triển khai có hiệu qủa như: Ở Phú Yên có 7.390 người cao tuổi, giúp được 6.014 người cao tuổi thoát được nghèo; Ở Bình Dương 4.219/6.729 người cao tuổi đã thoát nghèo nhờ vay vốn với lãi suất thấp để sản xuất, chăn nuôi. Tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu có 20.144 người, chiếm 34,24% so với tổng số người cao tuổi trực tiếp tham gia sản xuất kinh doanh và làm chủ trang trại. Thành phố Đà Nẵng có 18.200 người cao tuổi làm kinh tế, trong đó có 375 người cao tuổi làm chủ trang trại, doanh nghiệp, 472 cụ được phong tặng danh hiệu làm kinh tế giỏi. Tỉnh Quảng Ninh có 6 doanh nghiệp, 1.536 trang trại do người cao tuổi làm chủ. Tỉnh Tiền Giang có 1.845 NCT làm kinh tế Giỏi.

Đây là sự thể hiện truyền thống yêu nước “Chống giặc đói” mà Bác Hồ đã phát động từ những ngày đầu thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà nay là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2.6.2. Phát huy trong hoạt động khoa học, khuyến học, khuyến tài, y tế,  giáo dục

Hội người cao tuổi đã góp phần quan trọng trong việc khuyên dạy con cháu, dòng họ và mọi người áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất, kinh doanh, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, nâng cao chất lượng cuộc sống, đẩy mạnh công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập từ cơ sở, phát triển các hình thức hoạt động giáo dục, y tế ở địa phương.

Theo đánh giá của Hội người cao tuổi tại các địa bàn nghiên cứu “nhiều cán bộ trong ngành giáo dục, đào tạo, khoa học công nghệ, y tế đã nghỉ hưu và người cao tuổi ở nông thôn đã tích cực tham gia[2]. Nhiều tỉnh có trên 60% người cao tuổi tham gia khuyến học, khuyến tài như Thái Bình, Thanh Hoá, Phú Thọ, Quảng Trị, Trà Vinh, Cần Thơ. Nhiều Chủ tịch Hội khuyến học tỉnh, huyện và hàng vạn Chủ tịch Hội khuyến học ở cơ sở. 100% cán bộ chủ chốt của Hội khuyến học tỉnh Quảng Ninh là người cao tuổi. Đây là những hoạt động rất thiết thực, là thế mạnh mà Hội người cao tuổi và người cao tuổi luôn phát huy tốt.

Hưởng ứng chủ trương xã hội hoá giáo dục, người cao tuổi đã góp công sức để mở các trường dân lập, bán công, tư thục, từ mầm non đến đại học. Phần lớn các trường ngoài công lập là do người cao tuổi đứng ra thành lập và làm hiệu trưởng hoặc Chủ tịch hội đồng quản trị.

Hàng vạn cán bộ y tế là NCT tình nguyện tham gia hoạt động chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân bằng nhiều hình thức góp phần thực hiện chủ trương xã hội hoá y tế.

2.6.3. Hội NCT trong cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư

Hội người cao tuổi ở cơ sở đã tổ chức động viên hội viên và người cao tuổi tham gia có hiệu quả cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”. Tuyên truyền vị trí, vai trò tác động của văn hoá mới trong đời sống gia đình và xã hội, đăng ký phấn đấu xây dựng gia đình văn hoá, tham gia xây dựng và thực hiện qui ước, hương ước; thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội, các hoạt động văn hoá, thể dục thể thao. Nhiều hình thức câu lạc bộ thơ, cờ tướng, cầu lông, đi bộ…đã thu hút đông đảo người cao tuổi tham gia. Tỉnh Quảng Ngãi có 80% gia đình hội viên người cao tuổi đạt gia đình văn hoá, hơn 80% số người cao tuổi đạt tiêu chí 18 chữ vàng “ Tuổi cao-gương sáng”.

Người cao tuổi với tiềm năng và kinh nghiệm sống của mình góp phần xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Hội người cao tuổi và người cao tuổi thực sự có công trong việc giữ gìn, phát triển văn hoá, nghệ thuật truyền thống dân tộc. Nhiều người cao tuổi đã được tặng danh hiệu  “Bàn tay vàng” “Nghệ nhân” của các ngành nghề truyền thống (Đồ gỗ, đồ mỹ nghệ…)

Tổ chức Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và tổ chức Hội người cao tuổi các cấp đã quan tâm động viên người cao tuổi tham gia tích cực vào cuộc vận động”Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư ” bằng những việc làm cụ thể như công tác an ninh nhân dân, phòng chống tội phạm, hoà giải, khuyến học, khuyến tài… Các hoạt động này vừa phát huy được tiềm năng của người cao tuổi góp phần xây dựng đời sống văn hoá, vừa là chăm sóc đời sống tinh thần, tạo cho người cao tuổi  có cuộc sống hoà hợp với cộng đồng, có tinh thần lạc quan, lấy việc giúp ích cho mọi người làm niềm vui, khắc phục tâm lý thấy mình là người thừa.

2.6.4. Hoạt động của  người cao tuổi tham gia xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở

Từ khi ra đời đến nay, Hội người cao tuổi các cấp luôn coi đây là một trong những công tác trọng tâm trong nhiệm vụ phát huy vai trò của người cao tuổi. Một trong những chương trình hành động của phong trào thi đua “Tuổi cao- Gương sáng” của Hội người cao tuổi Việt Nam là:“Nêu gương sáng thực hiện cuộc vận động xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, khắc phục tệ quan liêu tham nhũng lãng phí…góp phần ổn định chính trị, xã hội”.

Trong năm 2004, Hội nghị biểu dương người cao tuổi tiêu biểu trong sự nghiệp ổn định chính trị xã hội ở cơ sở đã diễn ra ở hầu hết các tỉnh, thành phố, các quận, huyện, thị và nhất là ở xã, phường, thị trấn. Các Hội nghị này đã tổng kết các hoạt động cụ thể, biểu dương và nhân các điển hình tiên tiến của người cao tuổi trong lĩnh vực này. Đặc biệt, ở các khu vực Tây Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long, Trung du và miền núi phía Bắc, đã thảo luận về trách nhiệm của NCT góp phần vào việc xử lí các điểm nóng đang diễn ra tại địa phương như vấn đề “Nhà nước Đê Ga”, “Tin Lành Đê Ga”, “Khơ Me Cơ Rôm”, “Vàng Chứ” “Thìn Hùng”…và cuối tháng 9 năm 2008, Trung ương Hội người cao tuổi Việt Nam tổ chức Hội nghị biểu dương người cao tuổi làm kinh tế giỏi lần thứ 2 năm 2008.

Hội nghị đã nêu lên một nhận định có tính tổng kết: “ Góp phần vào sự nghiệp ổn định chính trị – xã hội là tiềm năng, thế mạnh và phát huy lợi thế của lớp người cao tuổi ; là sự đóng góp quan trọng thiết thực, trực tiếp, cụ thể thường nhật vào sự ổn định, củng cố, xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở”. Người cao tuổi có vai trò quan trọng trong sự nghiệp ổn định chính trị – xã hội, trong đó có việc góp phần không nhỏ vào những công việc cụ thể của công tác xây dựng Đảng, Chính quyền, phòng chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí và hoà giải ở cơ sở. Bên cạnh đó, Hội người cao tuổi còn có vai trò quan trọng trong việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân.

Là một lực lượng chính trị xã hội ngày càng đông đảo ở nước ta, người cao tuổi có những đóng góp quan trọng vào việc thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương, là nguồn lực nội sinh quý giá tạo nên sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần thúc đẩy sự nghiệp đổi mới đất nước và giữ vững ổn định chính trị – xã hội. Đây cũng là nguyện vọng chính đáng, phù hợp với tuổi tác, trí lực để người cao tuổi “sống khoẻ, sống vui, sống có ích” và tạo ra môi trường lành mạnh để người cao tuổi tiếp tục đóng góp, hoà nhập với xã hội.

Người cao tuổi có thế mạnh trong công tác hoà giải, lời nói của người cao tuổi có sức nặng, dễ đi vào lòng người, vì người cao tuổi có cách ứng xử phù hợp. Người cao tuổi có vị thế xã hội. “Việc làng, việc nước đều có vai trò người cao tuổi tham gia”.

Lớp người cao tuổi Việt Nam luôn coi việc xây dựng và bảo vệ Đảng, Chính quyền, bảo vệ chế độ chính trị là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng hàng đầu. Chương trình hành động Đại hội III Hội người cao tuổi Việt Nam ghi rõ: “Tham gia xây dựng Đảng, Chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, thực hiện vai trò tư vấn giám sát, phản biện xã hội và chức năng tham mưu cho Đảng, Nhà nước về chủ trương, chính sách, chương trình hành động liên quan đến người cao tuổi, xây dựng khối đoàn kết toàn dân tộc”.

Hội người cao tuổi ở cơ sở, đã chủ động phối hợp với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức đoàn thể cùng cấp tuyên truyền vận động các tầng lớp nhân dân góp phần tích cực vào công cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tham gia xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, giám sát hoạt động của các cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử, phản ánh tâm tư nguyện vọng của cử tri.

Nhiều nơi, tổ chức Hội đã xây dựng được quy chế phối hợp hoạt động giữa Hội NCT với các đoàn thể và các tổ chức hữu quan. Trong những ngày còn lại của cuộc đời mình, người cao tuổi sẵn sàng tham gia những công tác xã hội trong đó có công tác xây dựng Đảng, xây dựng Chính quyền. Nhiều người cao tuổi, khi bắt đầu nghỉ hưu, cũng là lúc bắt tay vào công việc mới do cấp uỷ Đảng, chính quyền giao cho; rồi cứ liên tục không ngừng, không nghỉ, lăn lộn với phong trào, say mê với công việc xã hội bằng cả tấm lòng mình.

Hội người cao tuổi đã phối hợp với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể tuyên truyền phát động hội viên, đoàn viên, giáo dục con cháu, vận động bà con thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ở cơ sở như: Chính sách hậu phương quân đội, luật nghĩa vụ quân sự, bảo đảm quốc phòng an ninh và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội ở cơ sở, chăm lo xây dựng khối đoàn kết toàn dân, giúp nhau xây dựng cuộc sống bình an trong các khu dân cư. Không có tổ hoà giải nào là không có người cao tuổi. Người cao tuổi chiếm đa số và thường giữ cương vị tổ trưởng trong các tổ hoà giải ở khu dân cư.

Ở tỉnh Phú Thọ: “người cao tuổi tham gia xây dựng được 6.750 hương ước, quy ước làng bản, 1.099 hội viên tham gia các tổ hoà giải và hoà giải thành 2.696 vụ việc, tích cực tham gia các tổ dân phố tự quản”. Điều này có thể thấy ở thị xã Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình, “người cao tuổi đã hoà giải thành công hàng trăm vụ xích mích, mâu thuẫn trong gia đình, thôn xóm, đường phố”. Ở xã Thanh Hà, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam “ Hội viên người cao tuổi đã vận động và tham gia xây dựng được 7 hương ước làng về phòng chống các tệ nạn xã hội, về công tác tôn giáo, về bảo vệ môi trường…”Ở tỉnh Tiền Giang có 1.178 người cao tuổi tham gia và đã hoà giải thành công 994 vụ.

Người cao tuổi đã nhận là làm và làm tốt nhiệm vụ trên cương vị được giao như Bí thư chi bộ, Đảng bộ; trưởng thôn bản, Chủ tịch, Phó Chủ tịch các đoàn thể (Cựu chiến binh). Tỉnh Ninh Thuận có 3.570 NCT, Thanh Hoá 1.277 người cao tuổi tham gia các chức danh  trên.

Bằng uy tín của mình, Hội người cao tuổi đã làm tốt công tác chống tội phạm, chống tham nhũng lãng phí. Ở Cao Bằng, Lạng Sơn, tại các thôn bản giáp biên giới, Hội người cao tuổi đã cùng lực lượng công an bộ đội biên phòng trực diện đấu tranh với các hoạt động  xâm canh, xâm cư…

Nhiều Hội người cao tuổi cơ sở đã thực sự là bộ phận quan trọng của hệ thống chính trị ở xã, phường, thị trấn; là chỗ dựa tin cậy của Đảng, Chính quyền, là thành viên tích cực của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân.

Đánh giá về vấn đề này, tại cuộc gặp mặt thân mật với các đại biểu toàn quốc trên lĩnh vực khoa học – giáo dục – y tế do Trung ương Hội người cao tuổi Việt Nam tổ chức tháng 8 năm 2005, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã nói: “Ngoài việc người cao tuổi tham gia các hoạt động kinh tế, văn hoá, khoa học kĩ thuật, công nghệ… tôi cũng rất vui mừng là đông đảo người cao tuổi còn tích cực tham gia công tác Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân ở cơ sở; có thể nói đó là yếu tố quan trọng góp phần giữ vững sự ổn định chính trị -xã hội, giáo dục thế hệ trẻ duy trì những truyền thống tốt đẹp của dân tộc…”

III. NHỮNG HẠN CHẾ CỦA PHÁP LỆNH NGƯỜI CAO TUỔI

Thứ nhất, Pháp lệnh người cao tuổi ra đời năm 2000; đến 2002 mới có Nghị định 30/CP của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh.  Pháp lệnh chưa được thể chế đồng bộ, còn mang nặng tính tuyên bố, chưa có các chế tài ràng buộc. Bởi vậy, cho đến nay, một số bộ, ngành có liên quan vẫn chưa có thông tư hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh người cao tuổi, nên việc triển khai thực hiện các hoạt động chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi gặp nhiều khó khăn.

Thứ hai, nhận thức của một số cấp uỷ, chính quyền, các ban, ngành, các tổ chức xã hội về Pháp lệnh người cao tuổi còn chưa đầy đủ; Công tác tuyên truyền giáo dục trong các tầng lớp nhân dân chưa sâu rộng và việc tổ chức thực hiện ở nhiều địa phương chưa tốt, thiếu kiểm tra đôn đốc kịp thời. Trong quá trình thực hiện Pháp lệnh, do kinh tế khó khăn nên nhiều địa phương chưa thực hiện nghiêm túc các chế độ chính sách của Nhà nước đối với người cao tuổi từ mức hưởng 45.000 đ/người/tháng lên 65.000 đ/người/tháng đối với người cao tuổi từ 90 tuổi trở lên và nay là 120.000 đ/người/tháng đối với người cao tuổi từ 85 tuổi trở lên theo Nghị định 67/CP của Chính phủ. Trách nhiệm gia đình chưa phối hợp tốt với xã hội để chăm sóc ông bà, cha mẹ mình. Chưa nghiên cứu sâu sắc tình hình, đặc điểm người cao tuổi vùng dân tộc thiểu số, miền núi, vùng sâu, vùng xa, nên Pháp lệnh người cao tuổi chưa xây dựng được chính sách chăm sóc người cao tuổi phù hợp, sát với điều kiện cụ thể.

Thứ ba, việc xây dựng Quỹ toàn dân chăm sóc người cao tuổi, Quỹ phụng dưỡng ông bà cha mẹ ở các gia đình phát triển chưa đều khắp, chưa tương xứng với khả năng của Hội viên, của gia đình và của các tổ chức kinh tế, xã hội.

Thứ tư, kinh phí hỗ trợ của nhà nước cho các hoạt động chăm sóc người cao tuổi còn hạn hẹp, nhất là ở cơ sở, nên vệc chăm sóc đời sống người cao tuổi về vật chất, tinh thần chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra. Do phân cấp cho Uỷ ban nhân dân tỉnh chịu trách nhiệm trong việc lập kế hoạch tài chính và dự toán ngân sách hỗ trợ các hoạt động thiết thực của người cao tuổi thuộc địa phương quản lý, nên những địa phương nào có điều kiện kinh tế thì hỗ trợ nhiều, còn những nơi khác thì được bao nhiêu hay bấy nhiêu.

Thứ năm, Hội người cao tuổi có vai trò làm nòng cốt trong phong trào toàn dân chăm sóc người cao tuổi, nhưng Ban Đại diện của Hội ở cấp tỉnh, cấp huyện chưa phải là cấp hoàn chỉnh, đội ngũ cán bộ của Hội ở  các địa  phương đều còn thiếu và không ổn định, nên các cấp Hội chưa đủ sức làm tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền tổ chức các hoạt động chăm sóc người cao tuổi có hiệu quả. Hệ thống tổ chức của Hội chưa hoàn chỉnh nên kết quả hoạt động chăm sóc người cao tuổi còn nhiều hạn chế. Việc thành lập Ban công tác người cao tuổi các cấp, để giúp chính quyền các cấp thực thi tốt hơn công tác chăm sóc người cao tuổi  chưa được tiến hành.

Thứ sáu, việc phát huy người cao tuổi đặc biệt là người cao tuổi trong việc tham gia xoá đói giảm nghèo, xây dựng đảng, chính quyền, xây dựng xã hội học tập, xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư, xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; tham gia giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội ở cơ sở; tham gia hoà giải, giải quyết mâu thuẫn ở cộng đồng dân cư…chưa được các cấp chính quyền, đoàn thể quan tâm, phát huy và tạo điều kiện để thực hiện, do đó còn nhiều hạn chế. Đây là sự lãng phí lớn về nguồn lực, tri tuệ va kinh nghiệm mà lớp trẻ không phải một sớm một chiều có thể bù đắp được.

Sở dĩ còn có những hạn chế trên là do chưa có chiến lược quốc gia về già hoá dân số; chưa thiết lập được những dịch vụ đối với người cao tuổi; chưa ban hành đủ các văn bản quy phạm pháp luật để tạo ra các môi trường thân thiện đối với người cao tuổi như nhà ở, giao thông, dịch vụ văn hoá, chăm sóc sức khoẻ….Luật Ngân sách quy định trong mục: “Ngân sách đảm bảo xã hội”, không có tiểu mục chi cho công tác người cao tuổi nên việc tổ chức, triển khai công tác này ít được các cấp quan tâm. Công tác xã hội hoá chăm sóc người cao tuổi đã hình thành nhiều mô hình nhưng chưa có cơ chế, chính sách để phát huy và nhân rộng. Công tác thống kê về người cao tuổi, chính sách đào tạo nguồn lực cho việc chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi làm chưa tốt. Nhà nước chưa có chế tài để xử lý các tổ chức, cá nhân vi phạm trong việc thực hiện pháp luật về người cao tuổi. Một bộ phận dân cư chưa có nhận thức thật đúng về người cao tuổi, coi người cao tuổi là đối tượng yếu thế, nên chưa đáp ứng được yêu cầu tối thiểu về đời sống của họ. Nhận thức của một bộ phận cán bộ về các chính sách đãi ngộ đối với người cao tuổi còn rất hạn chế; ở cấp cơ sở sự đãi ngộ chưa thật công bằng giữa cán bộ của Hội người cao tuổi với các Hội chính trị – xã hội khác.

IV.  Một số kiến nghị

Để khắc phục được những hạn chế của Pháp lệnh người cao tuổi:

1. Cần xây dựng và ban hành Luật người cao tuổi thay thế Pháp lệnh người cao tuổi.

2. Luật người cao tuổi phải:

+ Thể chế hoá được đ­ường lối, chính sách của Đảng và Nhà nư­ớc Việt Nam về người cao tuổi một cách hệ thống, và toàn diện.

+ Xây dựng được cơ sở pháp lý đảm bảo cho các hoạt động của người cao tuổi, khuyến khích sự quan tâm rộng rãi của các tổ chức, cá nhân nhằm xã hội hóa công tác chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi.

+ Thể hiện đư­ợc sự cam kết của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong việc thực hiện tuyên bố về chương trình hành động Quốc tế Mađrit mà Việt Nam đã kí kết.

+ Có chế tài để đảm bảo thực thi các điều luật đã nêu khi luật được Quốc hội thông qua.

+ Đáp ứng đư­ợc nhiều đối tư­ợng thụ hư­ởng.

+ Thoả mãn đư­ợc nhu cầu trư­ớc mắt, đồng thời có giá trị cho sự phát triển lâu dài.

3. Khi Luật ng­ười cao tuổi được Quốc hội thông qua:

+ Hội ng­ười cao tuổi Việt Nam kiến nghị với các bộ, ngành có liên quan sớm xây dựng thông tư hướng dẫn thực hiện Luật ng­ười cao tuổi một cách đồng bộ; đồng thời sớm nghiên cứu ban hành, bổ sung, sửa đổi những chính sách cụ thể đối với người cao tuổi cho phù hợp với thực tế

+ Từ tình hình thực tế và kết quả hoạt động của Hội ng­ười cao tuổi trong những năm qua, xin đề nghị Đảng và Nhà nước xác định Hội Người cao tuổi Việt Nam là tổ chức chính trị – xã hội và giải quyết các chính sách cho Hội như các đoàn thể chính trị-xã hội khác.

+ Hệ thống tổ chức của Hội cần hoàn chỉnh ở 4 cấp: Trung ương; cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã.

+ Đưa vào Luật người cao tuổi về cấp kinh phí hàng năm cho các hoạt động của các cấp Hội ng­ười cao tuổi.

+ Ở mỗi tỉnh, thành phố được Nhà nước hỗ trợ kinh phí – xây dựng điểm một trung tâm chăm sóc ng­ười cao tuổi cô đơn, không nơi nương tựa. Ở mỗi huyện, xã, thực hiện phương châm nhân dân và Nhà nước cùng làm, xây dựng các cơ sở chăm sóc, nghỉ ngơi vui chơi, giải trí cho ng­ười cao tuổi.

+ Nhà nước có chế tài để xây dựng Quỹ toàn dân chăm sóc ng­ười cao tuổi. Công dân từ 18 tuổi trở lên, có nghĩa vụ đóng góp vào quỹ này.

Chăm sóc ng­ười cao tuổi là nghĩa vụ chủ yếu của gia đình, của xã hội và của công dân, là trách nhiệm của Nhà nước, đã được quy định cụ thể trong Luật ng­ười cao tuổi. Vấn đề quan trọng hiện nay là tổ chức thực hiện, do vậy đòi hỏi các cấp Hội phát huy vai trò nòng cốt của mình cùng Nhà nước và xã hội thực hiện tốt việc chăm sóc và phát huy vai trò ng­ười cao tuổi là mong ước của 9 triệu ng­ười cao tuổi./.

(Nguồn: Hội người cao tuổi Việt Nam)


[1] Điều tra biến động dân số KHHGĐ năm 2001-2003. Tổng cục Thống kê, tr 13,14.

[2] Ý kiến của lãnh đạo Hội NCT tại các địa bàn được nghiên cứu ở hai tỉnh: Quảng Ngãi và Quảng Ninh, năm 2007 và 2008.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: