Chương 3. Công tác xã hội: Lý thuyết và thực hành

VNSW xin trân trọng giới thiệu Chương 3 với tiêu đề Những giá trị của Công tác xã hội, trong Tập tài liệu Công tác xã hội: Lý thuyết và thực hành của tác giả Trần Đình Tuấn, ĐH San Jose, Hoa Kỳ:

Giá trị là những yếu tố có tính chỉ đạo cho tất cả các nghề và là niềm tự hào của người làm nghề đó. Bên cạnh giá trị nghề nghiệp còn có giá trị xã hội, giá trị nhóm, và giá trị cá nhân. Giá trị xã hội là những giá trị rộng rãi, bao trùm những giá trị khác, thí dụ: công bằng, liêm chính, dân chủ, tự do, độc lập, hạnh phúc… Giá trị nhóm là giá trị của riêng từng nhóm, có thể giống hoặc khác những nhóm khác, thí dụ giá trị của hội những người bị bệnh béo phì có thể không giống với giá trị của hội những chủ nhà hàng thực phẩm ăn nhanh. Giá trị cá nhân đa dạng nhất, tùy theo ý thích và cá tính của mỗi người: thật thà, siêng năng, học giỏi, đẹp, hoạt bát, lương thiện, hiếu thảo, gan lỳ, hiền hậu, hát hay, đúng giờ, được nhiều người ngưỡng mộ… thậm chí có cả những giá trị không hẳn tích cực, thí dụ: uống rượu giỏi, đánh bạc có bản lãnh, đào hoa, v.v…

Trong CTXH, giá trị cá nhân của nhân viên CTXH có thể mâu thuẫn với giá trị của khách hàng và vì vậy có thể gây ra khó khăn. Thí dụ nhân viên CTXH có đức tin tôn giáo mạnh mẽ chống phá thai khi làm việc với khách hàng có thai do bị hiếp dâm và không có điều kiện vật chất cũng như tinh thần để nuôi con.

Để làm việc hiệu quả, nhân viên CTXH phải luôn cảnh giác, sẵn sàng tìm hiểu và chấp nhận những giá trị khác biệt, trừ khi những giá trị đó hoàn toàn ngược lại với giá trị chung của xã hội và gây nguy hại đến con người: thí dụ giá trị của tập quán cắt âm hạch trẻ gái của một số văn hóa Phi châu.

Giá trị của nghề CTXH là những giá trị sau đây, phác thảo bởi Gordon Hamilton  (1940) và đã được bản Quy Định Về Đạo Đức/Code of Ethics của Hội Nhân viên CTXH Quốc Gia (Mỹ) ghi nhận:

1. Công bằng xã hội:

Công bằng xã hội liên quan đến cách xã hội phân chia các tài nguyên cho con người sống trong xã hội đó. Công bằng xã hội là tình trạng lý tưởng trong đó tất cả thành viên của một xã hội đều được hưởng những quyền cơ bản, sự bảo vệ, cơ hội thăng tiến, bổn phận, và phúc lợi giống nhau (Barker, 1999). Bất công xã hội diễn ra khi những quyền cơ bản của người dân, được hiến pháp thừa nhận, bị xâm phạm, một số người bị đối xử với thành kiến hay bị kỳ thị, không được hưởng phúc lợi và cơ hội thăng tiến đồng đều như các thành phần được ưu đãi. Qua công việc ở các tầng khác nhau (thế giới, khu vực, quốc gia, xã hội, cộng đồng, khu xóm, tổ chức, nhóm, gia đình, và cá nhân), nhân viên CTXH góp phần giảm thiểu bất công, nâng cao công bằng xã hội, làm cho cuộc sống con người được an vui.

2. Tôn trọng nhân phẩm và giá trị của khách hàng

Bất kể nguồn gốc chủng tộc, giới tính, lối sống, tôn giáo, địa vị, tuổi tác, giáo dục, quá khứ (kể cả quá khứ phạm pháp), CTXH luôn coi tất cả khách hàng như những con người có nhân phẩm và giá trị. Nguyên tắc có tính chỉ đạo này phải được thể hiện một cách cụ thể qua cung cách đối thoại, tìm hiểu, hướng dẫn, luôn tôn trọng, không đánh giá đúng sai; diễn ra trong suốt quá trình giúp đỡ, cho đến giai đoạn kết thúc mối quan hệ giữa khách hàng và nhân viên CTXH. Tôn trọng và không đánh giá đúng sai không có nghĩa là tán đồng những hành vi sai trái của khách hàng hoặc để cho khách hàng né tránh trách nhiệm về hậu quả lỗi lầm của họ. Trái lại, qua cách cư xử tôn trọng và không đánh giá đúng sai, nhân viên CTXH giúp khách hàng tự nhìn nhận hành vi sai trái và trách nhiệm của họ, từ đó mới có thể chủ động hợp tác để được giúp đỡ nhằm thay đổi và thăng tiến đời sống cá nhân.

Quan điểm chú trọng vào nhân phẩm và giá trị của khách hàng xuất hiện từ thập niên 70 (trước đó người ta chú trọng đến “vấn nạn” và những khiếm khuyết cá nhân). Quan điểm mới này đòi hỏi một cách tiếp cận bao quát, bao gồm sự phân tích, tìm hiểu yếu tố môi trường, tách rời “con người” ra khỏi “vấn nạn”, và tận dụng khả năng tiềm ẩn của khách hàng. Khi được tôn trọng, khách hàng sẽ tự trọng, và từ tự trọng họ sẽ cố gắng phát huy thêm tiềm năng tốt đẹp có sẵn và giải quyết được “vấn nạn”.

Tôn trọng giá trị của khách hàng nghĩa là cùng với khách hàng tham dự vào việc tìm kiếm giải pháp, lập kế hoạch hành động và thi hành kế hoạch đó. Một trong những lỗi lầm ấu trĩ nhất của người làm công tác tư vấn và CTXH kém khả năng là có ý nghĩ mình biết cái gì là giải pháp tốt nhất cho khách hàng. Mathew Dumont (1968) gọi ấu trĩ này là “ảo vọng cứu nhân độ thế”/rescue fantasy.

3. Chấp nhận tính cách độc đáo và cá biệt của khách hàng

Nghĩa là xem khách hàng như một con người độc đáo, có hoàn cảnh sống, nhu cầu, cảm xúc, ước mong, ưu và khuyết điểm riêng biệt. Điều này không phải dễ vì nhiều khách hàng của CTXH là những người có hành vi xấu như bạo hành trong gia đình, hoặc vi phạm pháp luật. Để thực sự chấp nhận khách hàng, nhân viên CTXH cần cảnh giác về những ấn tượng hoặc thành kiến sẵn có của bản thân hoặc của xã hội, tôn giáo.

Giống như trời sinh mỗi người có một dấu tay riêng, mỗi khách hàng là một cá nhân riêng biệt, có hình dáng, cá tính, cảm xúc, ý thích, cách cư xử riêng, không người nào hoàn toàn giống người nào, và vì vậy cần được đối xử một cách riêng biệt. Vấn nạn nảy sinh khi người ta phân loại và dán nhãn cho từng nhóm người và đối xử cùng một cách với từng nhóm. Thí dụ ở một số quốc gia đa chủng, người da đen bị coi là “lười biếng”, người Hồi giáo gốc Trung Đông bị coi là “cuồng tín”, dẫn đến hành vi kỳ thị. Đối với trẻ em, nhất là trẻ em trong lứa tuổi hình thành cá tính, những dán nhãn bừa bãi, lập đi lập lại, thí dụ “ngu như bò”, “lười như hủi” “điên khùng”… có thể dẫn đến rất nhiều tiêu cực cho cá tính của đứa bé đứa bé trong tương lai.

Để thừa nhận được tính cách độc đáo của khách hàng, nhân viên CTXH phải có khả năng đi sâu vào thế giới của khách hàng, tìm hiểu những hoàn cảnh sống trong quá khứ, những kinh nghiệm, cảm xúc, thành công, thất bại, ước vọng, niềm đau, nỗi sợ của họ. Khi đã trải qua thời gian để tạo mối quan hệ và hiểu thấu cuộc đời khách hàng, nhân viên CTXH sẽ thấy được tính cách phong phú và độc đáo của khách hàng đó, và sẽ cùng với khách hàng tìm ra được giải pháp phù hợp với hoàn cảnh riêng của họ.

4. Tôn trọng quyền tự quyết của khách hàng

Trong khuôn khổ luật pháp cho phép và với điều kiện không nguy hại đến ai khác, khách hàng có quyền chọn lựa những giải pháp khả thi khác nhau tùy theo hoàn cảnh, hoặc lối sống để giải quyết vấn nạn của mình. Nhiệm vụ của nhân viên CTXH là giúp khách hàng thấy được những giải pháp khác nhau, thăm dò hậu quả có thể xảy ra của mỗi giải pháp, để khách hàng có thể tự mình chọn lựa. Thí dụ: đối với người phụ nữ nạn nhân của bạo hành trong gia đình, tiếp tục ở lại với người chồng vũ phu, cuộc đời sẽ ra sao?  Giải pháp ly dị sẽ đưa đến khó khăn và thuận lợi như thế nào?  Giải pháp ly thân sẽ ra sao?… Khi được nhân viên CTXH cung cấp đầy đủ thông tin về các tài nguyên vật chất cũng như tinh thần có thể vận dụng được từ bản thân, gia đình, cộng đồng, và xã hội, và được giúp phân tích cặn kẽ ưu khuyết điểm của từng giải pháp, khách hàng nạn nhân sẽ chọn được giải pháp thích hợp nhất cho hoàn cảnh cụ thể của họ.

Giới hạn của quyền tự quyết là khi khách hàng không có khả năng trí tuệ để tự quyết định. Thí dụ khách hàng là trẻ em hoặc người mắc bệnh tâm thần. Trong trường hợp này nhân viên CTXH có thể phải làm việc với người bảo hộ hoặc thân nhân của khách hàng với kim chỉ nam là lợi ích cao nhất của khách hàng/best interest of the client. Trường hợp giới hạn khác là khách hàng có khả năng trí tuệ nhưng bị áp lực của văn hóa, tôn giáo, gia đình… làm hạn chế. Thí dụ không được ly dị, không được làm “nhục nhã gia phong” “xấu hổ ông bà”. Trong những trường hợp này mặc dù không thể quyết định thay cho khách hàng, nhân viên CTXH có thể giúp khách hàng phân tích tỉ mỉ các giải pháp, ngay cả cung cấp lời khuyên để khách hàng tự quyết định. Thông thường nhân viên CTXH tránh cung cấp lời khuyên mà chỉ giúp khách hàng thăm dò và phân tích các giải pháp để họ tự chọn lưa. Trong văn hóa Á châu, nhiều khách hàng, đặc biệt là khách hàng phụ nữ, có thể có thái độ thụ động và trông chờ lời khuyên của nhân viên CTXH. Trong những trường hợp này nhân viên CTXH có thể giữ vai trò chủ động hơn, nhưng nguyên tắc chủ đạo vẫn là tạo năng lực/empower để khách hàng có thể tự quyết định lấy giải pháp tốt đẹp nhất cho hoàn cảnh của họ.

5. Nguyên tắc bảo mật

Trong mối quan hệ giữa nhân viên CTXH và khách hàng, tin cậy là yếu tố rất quan trọng. Nếu không được khách hàng tin cậy, nhân viên CTXH khó có thể làm việc hiệu quả. Tin cậy bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân: khả năng, hình dáng, tuổi tác, bằng cấp của nhân viên CTXH, nhưng quan trọng hơn hết là nguyên tắc bảo mật. Nghĩa là khách hàng phải được bảo đảm những điều mình tiết lộ được giữ bí mật. Ở Mỹ, nguyên tắc này được luật pháp quy định và Hội Những Người Làm CTXH Quốc Gia ghi nhận. Vi phạm nguyên tắc này, ngoài biện pháp chế tài của Hội, nhân viên CTXH và cơ quan chủ quản còn có thể bị khách hàng kiện ra toà. Việc thực thi nguyên tắc bảo mật đòi hỏi những biện pháp an toàn liên quan đến lưu trữ hồ sơ (trong tủ có khóa để chỉ những người có trách nhiệm mới đọc được hồ sơ), trao đổi thông tin giữa những người có trách nhiệm trong cùng cơ quan, và những quy định liên quan đến vấn đề tiết lộ thông tin.

Thông thường, thông tin có thể được tiết lộ nếu có sự chấp thuận sau khi được giải thích/informed consent bằng chữ viết của khách hàng, hoặc có trát toà. Ở California, bên cạnh nguyên tắc bảo mật nhân viên CTXH có trách nhiệm phải tiết lộ thông tin mật trong những trường hợp sau:

Án lệ Tarasoff, (Tối Cao Pháp Viện California, 1976): Tatiana Tarasoff là một nữ sinh viên đại học Berkeley (University of California), cô quen biết với Prosenjit Poddar, một sinh viên cao học gốc Ấn Độ. Mối quan hệ này chỉ kéo dài vài tháng, khi Tarasoff không muốn tiếp tục nữa, Poddar lâm vào tình trạng khủng hoảng và phải nhờ đến dịch vụ cố vấn tâm lý do trường Berkley cung cấp. Trong quá trình tư vấn tâm lý, Poddar tiết lộ có ý định sẽ giết Tarasoff. Bác sĩ Lawrence Moore, cố vấn tâm lý của Poddar thông báo cho cảnh sát đại học Berkeley và Poddar bị bắt giữ trong một thời gian ngắn, sau đó được trả tự do với cảnh cáo không được đến gần Tarasoff. Vài tháng sau Poddar tìm đến nhà Tarasoff và giết chết nạn nhân.

Vì lý do Tarasoff và gia đình cô không hề được cảnh báo về ý định của Poddar, cha mẹ của Tarasoff đã kiện Đại Học California. Án lệ Tarasoff ra đời sau vụ kiện này: khi khách hàng tiết lộ ý định bạo hành hay hãm hại người khác, người làm công tác điều trị, giúp đỡ chuyên môn (bác sĩ, luật sư, tư vấn tâm lý, nhân viên CTXH…) có trách nhiệm phải làm những điều cần thiết để bảo vệ đối tượng của ý đồ bạo hành đó.

Vào giữa thập niên 80, thêm hai quy định được thêm vào luật Tarasoff: trách nhiệm thông báo cho vợ, chồng, hay người chung sống, khi khách hàng có kết quả chẩn đoán mắc bệnh AIDS hoặc nhiễm HIV; và trách nhiệm thông báo cho người thân khi khách hàng tiết lộ ý định tự tử.

6. Cảnh giác đối với những thành kiến của bản thân

Mỗi người đều có một quá khứ, một kinh nghiệm sống, một hoàn cảnh, một cuộc đời riêng biệt. Những riêng biệt này ảnh hưởng đến cách suy nghĩ và ứng xử của con người. Vì vậy, để hoàn thành tốt đẹp công việc của mình, nhân viên CTXH phải luôn tự cảnh giác, không để những ý thương, ghét, những định kiến của mình ảnh hưởng đến nhận xét và đối xử với khách hàng. Muốn đạt được trình độ này, nhân viên CTXH phải tự hiểu mình, phải không ngừng học hỏi, và chấp nhận những cảm xúc, thái độ, tư cách, ứng xử đa dạng của con người, nhờ vậy mới có thể luôn luôn phục vụ được lợi ích cao nhất của khách hàng.

Thí dụ về thiếu cảnh giác đối với bản thân: nam nhân viên CTXH X. đã trải qua một lần ly dị đầy cay đắng. Trong công việc, X. không ngăn được cảm xúc tiêu cực, bi quan đối với phụ nữ, và để cho những cảm xúc cũng như định kiến này ảnh hưởng đến công việc của mình, hướng khách hàng đến những quyết định không hẳn là tốt nhất cho quyền lợi của họ.

Thí dụ khác: nữ chuyên viên CTXH Y. đã từng sống với cha mẹ cho đến khi về nhà chồng vào năm 26 tuổi, và hiện nay, 39 tuổi, vẫn sống với chồng con và mẹ chồng. Khách hàng của Y. là nữ sinh viên Z 19 tuổi, hoàn cảnh gia đình không may mắn: cha nghiện ngập và bạo hành, mẹ buồn bực và than thở triền miên. Z. có công việc làm bán thời gian và có ý muốn thoát ly gia đình. Y. không ngăn được định kiến là con gái trưởng phải có trách nhiệm chăm sóc cha mẹ và các em (cả Y. lẫn Z. đều là con trưởng) mặc dù hoàn cảnh sống của hai người khác hẳn nhau.

Tóm lại, giá trị là những nguyên tắc chỉ đạo, hướng dẫn cách ứng xử đúng đắn của con người. Đây là những nguyên tắc mà người ta tự hào. Cá nhân, gia đình, nhóm, đoàn thể, cộng đồng, đều có những giá trị riêng, giống hoặc khác nhau, những giá trị của cá nhân và tập thể này thường phù hợp với những giá trị bao quát hơn của nền văn hóa, hay của quốc gia, xã hội. Giá trị của nghề CTXH là những nguyên tắc chỉ đạo hướng dẫn mọi hoạt động của nhân viên CTXH đến những gì tốt đẹp nhất cho lợi ích của khách hàng. Tại những nước có nền CTXH phát triển như Mỹ, những giá trị này được ghi rõ trong Quy Định Về Đạo Đức của Hội Những Nhân viên CTXH,  và bao gồm: Công bằng xã hội; Tôn trọng nhân phẩm và giá trị của khách hàng; Chấp nhận tính cách độc đáo và cá biệt của khách hàng; Tôn trọng quyền tự quyết của khách hàng; Nguyên tắc bảo mật, và Cảnh giác đối với những thành kiến của bản thân.

Đề tài thảo luận thêm:

Bạn là một nữ chuyên viên CTXH, có một người thân là nạn nhân của hiếp dâm, bạn sẽ có cảm xúc như thế nào khi làm việc với một khách hàng đã từng ở tù hoặc đang ở tù về tội hiếp dâm?

Tôn giáo của bạn kết án đồng tính luyến ái là “tội lỗi”, mọi người chung quanh bạn đều cho đồng tính luyến ái là “bệnh hoạn”, bạn biết rằng từ năm 1973 cẩm nang thống kê chẩn đoán bệnh tâm thần DSM  đã loại đồng tính luyến ái ra khỏi danh mục bệnh; và khoa tâm lý trị liệu ngày nay nhắm giúp người đồng tính công khai thừa nhận tính dục của mình và vui sống; bạn sẽ có thể tôn trọng và chấp nhận một khách hàng đồng tính luyến ái mang bệnh AIDS như thế nào?

——————

(Trần Đình Tuấn, Đại học San Jose, Hoa Kỳ)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: